Vai trò của chuyển đổi số đối với thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc: nghiên cứu tại tỉnh Lạng Sơn và Lào Cai

The role of digital transformation in Vietnam-China border trade: A study of Lang Son and Lao Cai provinces

ThS. Hoàng Mạnh Linh
Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lào Cai
Email: BTBS.LIBRA.170@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đã và đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức tổ chức và quản trị thương mại biên giới. Qua thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Lào Cai, bài viết chỉ ra ba vai trò chủ yếu của chuyển đổi số đối với thương mại biên giới, gồm: thuận lợi hóa giao dịch và tăng tính minh bạch; nâng cao năng lực điều phối, thích ứng của hệ thống cửa khẩu; đổi mới quản trị nhà nước dựa trên dữ liệu và tạo nền tảng cho cửa khẩu thông minh. Kết quả triển khai cho thấy, hiệu quả của chuyển đổi số phụ thuộc vào mức độ liên thông dữ liệu, năng lực vận hành, sự đồng bộ giữa hạ tầng số với logistics và phối hợp giữa các lực lượng chức năng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò chuyển đổi số nhằm thúc đẩy thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Từ khóa: Chuyển đổi số; thương mại biên giới; cửa khẩu số; cửa khẩu thông minh; tỉnh Lạng Sơn; tỉnh Lào Cai.

Abstract: Digital transformation has been profoundly reshaping the organization and governance of border trade. Drawing on practical experience in Lang Son and Lao Cai provinces, this article identifies three principal roles of digital transformation in border trade: facilitating transactions and enhancing transparency; strengthening the coordination capacity and adaptability of the border-gate system; and innovating data-driven state governance while laying the foundation for smart border gates. Implementation results demonstrate that the effectiveness of digital transformation depends on the degree of data interoperability, operational capacity, the synchronization of digital infrastructure with logistics, and coordination among relevant functional agencies. On this basis, the article proposes several solutions to strengthen the role of digital transformation in promoting Vietnam-China border trade.

Keywords: Digital transformation; border trade; digital border gate; smart border gate; Lang Son province; Lao Cai province.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số đối với thương mại biên giới là bước chuyển từ quản lý thủ công, phân tán sang tổ chức quy trình chặt chẽ trên nền tảng dữ liệu, kết nối và giám sát theo thời gian thực. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã xác lập định hướng phát triển chính phủ số, kinh tế số và dịch vụ công số (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Đối với thương mại biên giới, yêu cầu này càng cấp thiết khi quy mô giao dịch lớn, chủ thể tham gia đa dạng và hoạt động thông quan chịu tác động trực tiếp của thị trường, kiểm dịch, hạ tầng và năng lực phối hợp giữa hai phía biên giới. Năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới với Trung Quốc, Lào và Campuchia đạt 50,38 tỷ USD (Cổng thông tin Logistics Việt Nam, 17/4/2024). Đến hết năm 2024, toàn tuyến có 55 cặp cửa khẩu quốc tế và song phương (Chu Văn Tuấn & Hoàng Văn Chung, 2025). Thực tiễn đó đòi hỏi quản lý cửa khẩu phải nhanh hơn, minh bạch hơn và có khả năng dự báo, điều phối hiệu quả hơn.

Tỉnh Lạng Sơn và Lào Cai được là hai địa phương điển hình trong triển khai nền tảng cửa khẩu số, có lưu lượng giao dịch lớn và đang chuyển sang mô hình cửa khẩu thông minh trên tuyến biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Bài viết nhận diện rõ hơn mối quan hệ giữa công nghệ, thể chế, nhân lực vận hành và hạ tầng logistics. Trên cơ sở đó, phân tích ba vai trò chủ yếu của chuyển đổi số đối với thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc, đánh giá thực tiễn triển khai, nhận diện điểm nghẽn và đề xuất giải pháp nâng cao vai trò chuyển đổi số nhằm thúc đẩy thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc ngày càng phát triển.

2. Khái quát chuyển đổi số trong thương mại biên giới

Chuyển đổi số trong thương mại biên giới là quá trình tổ chức lại hoạt động quản lý, kiểm soát và phục vụ giao dịch tại cửa khẩu trên nền tảng dữ liệu. Quá trình này phát triển theo ba cấp độ: số hóa hồ sơ và thủ tục; liên thông dữ liệu giữa các lực lượng chức năng, doanh nghiệp và đơn vị logistics; tiến tới cửa khẩu thông minh với mức độ tự động hóa, giám sát và điều phối theo thời gian thực. Vì vậy, chuyển đổi số không đồng nhất với trang bị phần mềm mà gắn trực tiếp với cải cách quy trình và phân định trách nhiệm quản lý (López González & Jouanjean, 2017; World Trade Organization, 2017).

Từ quan niệm này chỉ ra, chuyển đổi số trong thương mại biên giới có 4 đặc điểm chủ yếu: (1) Lấy dữ liệu làm nền tảng quản lý và điều hành. Dữ liệu về hàng hóa, phương tiện, doanh nghiệp, kiểm dịch, bến bãi và năng lực thông quan được thu thập, chia sẻ và khai thác trong toàn bộ quy trình giao dịch; (2) Có tính liên ngành và liên chủ thể cao. Hiệu quả chuyển đổi số phụ thuộc vào khả năng phối hợp giữa các lực lượng chức năng, doanh nghiệp, đơn vị logistics và cơ quan quản lý cửa khẩu; (3) Được phát triển theo lộ trình từ số hóa đến liên thông và tự động hóa. Các cấp độ này có quan hệ kế thừa và cửa khẩu thông minh chỉ có thể hình thành khi dữ liệu được chuẩn hóa, quy trình được thống nhất và trách nhiệm quản lý được xác định rõ; (4) Gắn với cải cách quy trình và điều kiện kết cấu hạ tầng bởi chuyển đổi số không chỉ là đưa thủ tục lên môi trường điện tử mà phải loại bỏ khâu trung gian, giảm khai báo lặp lại và kết nối hạ tầng số với hạ tầng logistics.

Từ đó, chuyển đổi số trong thương mại biên giới đặt ra các yêu cầu cơ bản cần tuân thủ sau: (1) Chuẩn hóa và tái thiết kế quy trình trước khi số hóa; (2) Xây dựng kiến trúc dữ liệu thống nhất, liên thông giữa các chủ thể; (3) Phân định rõ trách nhiệm quản lý và khai thác dữ liệu; (4) Đầu tư đồng bộ hạ tầng số, hạ tầng cửa khẩu và nguồn nhân lực; (5) Bảo đảm an toàn thông tin, khả năng vận hành liên tục và phối hợp với phía đối diện; (6) Hiệu quả chuyển đổi số phải được đánh giá bằng mức độ giảm thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao tính minh bạch và cải thiện năng lực điều phối cửa khẩu.

Ở Việt Nam, chuyển đổi số cửa khẩu đang được triển khai từ hải quan điện tử, cơ chế một cửa quốc gia đến các nền tảng cửa khẩu số do địa phương tổ chức, mức độ triển khai chưa đồng đều, chủ yếu tập trung tại một số địa bàn có lưu lượng thương mại lớn và điều kiện hạ tầng thuận lợi. Ngoài ra, hiệu quả phụ thuộc vào quy mô ứng dụng, chất lượng nhân lực, kết cấu hạ tầng số và logistics, khả năng liên thông dữ liệu cũng như phối hợp với phía đối tác. Tỉnh Lạng Sơn và Lào Cai là hai địa phương điển hình cho quá trình chuyển từ số hóa thủ tục sang quản trị cửa khẩu dựa trên dữ liệu.

3. Vai trò của chuyển đổi số đối với thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc

Thứ nhất, thuận lợi giao dịch, giảm chi phí thủ tục và tăng tính minh bạch.

Đối với doanh nghiệp, giá trị trực tiếp của chuyển đổi số nằm ở khả năng khai báo trước, sử dụng chứng từ điện tử, định danh thống nhất và tái sử dụng dữ liệu. Các chức năng này giúp giảm thao tác lặp lại, hạn chế tiếp xúc trực tiếp, rút ngắn khâu trung gian và cho phép theo dõi trạng thái xử lý. Nhờ đó, doanh nghiệp có cơ sở chủ động hơn trong bố trí phương tiện, chứng từ, kho bãi và giao nhận; đồng thời, giảm rủi ro phát sinh từ thông tin thiếu nhất quán hoặc quy trình không rõ ràng (López González & Jouanjean, 2017; World Trade Organization, 2017). Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động này chỉ bền vững khi dữ liệu được dùng chung và số hóa đi liền với cải cách quy trình, theo nguyên tắc khai báo một lần, sử dụng nhiều lần.

Xét theo cấu trúc chi phí giao dịch, chuyển đổi số tác động đến chi phí tuân thủ, chi phí tìm kiếm thông tin và chi phí phối hợp giữa các chủ thể. Quy trình có trạng thái xử lý rõ ràng giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào trao đổi không chính thức, dự kiến tốt hơn thời gian giao nhận và phân bổ nguồn lực hợp lý hơn. Dấu vết điện tử còn tạo cơ sở kiểm tra trách nhiệm của từng khâu, hạn chế cách hiểu tùy nghi và nâng cao tính dự đoán của thủ tục. Vì vậy, tính minh bạch không chỉ là kết quả kỹ thuật của công khai dữ liệu mà còn là điều kiện củng cố kỷ luật thực thi, mức độ tuân thủ và niềm tin của doanh nghiệp đối với hoạt động quản lý cửa khẩu.

Thứ hai, nâng cao năng lực điều phối và khả năng thích ứng của hệ thống cửa khẩu.

Đối với hoạt động cửa khẩu và chuỗi logistics, dữ liệu khai báo trước giúp nhận biết sớm số lượng phương tiện, loại hàng, chiều xuất, nhập khẩu và thời gian dự kiến đến cửa khẩu. Trên cơ sở đó, cơ quan vận hành có thể bố trí làn xe, nhân lực, thiết bị kiểm tra, bến bãi và thời gian làm việc phù hợp hơn. Phương thức điều hành từng bước chuyển từ xử lý riêng lẻ từng phương tiện sang quản lý luồng hàng; từ phản ứng khi ùn tắc đã phát sinh sang theo dõi, phân luồng và cảnh báo sớm.

Dữ liệu tích lũy còn hỗ trợ nhận diện quy luật mùa vụ, khung giờ cao điểm và công đoạn thường xuyên chậm để điều chỉnh phương án vận hành. Khi quy định kiểm dịch thay đổi, giao thông gián đoạn hoặc lưu lượng tăng đột biến, nền tảng tập trung tạo điều kiện cập nhật thông tin thống nhất và đánh giá nhanh phạm vi ảnh hưởng. Tuy nhiên, năng lực thích ứng không chỉ do công nghệ quyết định; hiệu quả điều phối còn phụ thuộc vào đường chuyên dụng, bến bãi, kho lạnh, khu kiểm nghiệm và năng lực tiếp nhận của phía đối tác.

Vai trò điều phối thể hiện ở ba cấp độ. Trước khi phương tiện đến cửa khẩu, dữ liệu khai báo trước hỗ trợ dự báo và chuẩn bị năng lực phục vụ. Trong quá trình xử lý, trạng thái dùng chung giúp các lực lượng nhận biết công đoạn đã hoàn thành, công đoạn đang chậm và vị trí cần ưu tiên. Sau mỗi chu kỳ vận hành, dữ liệu lịch sử cung cấp căn cứ điều chỉnh lịch làm việc, bố trí hạ tầng và xây dựng kịch bản cao điểm. Khi ba cấp độ được kết nối, cửa khẩu có thể hình thành một bức tranh vận hành thống nhất thay cho các quyết định rời rạc theo từng cơ quan. Đây là nền tảng để nâng cao hiệu quả phối hợp toàn chuỗi, thay vì chỉ tối ưu một khâu riêng lẻ.

Thứ ba, đổi mới phương thức quản trị nhà nước và tạo nền tảng thể chế cho cửa khẩu thông minh.

Đối với cơ quan nhà nước, chuyển đổi số mở rộng phạm vi quản lý từ tiếp nhận hồ sơ sang giám sát toàn trình dựa trên dữ liệu. Cơ quan quản lý có thể theo dõi thời gian từng công đoạn, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung, thời gian tồn bãi, mức sử dụng làn và tình trạng hệ thống, qua đó, xác định rõ điểm nghẽn, trách nhiệm xử lý và đối tượng cần kiểm tra theo mức độ rủi ro. Việc ban hành quy định sử dụng nền tảng tại Lạng Sơn và quy định quản lý thủ tục trên nền tảng tại Kim Thành cho thấy, quy trình số đã từng bước được thể chế hóa thành trách nhiệm của cơ quan, doanh nghiệp và người điều khiển phương tiện (Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, 2025; Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, 2024).

Trên nền tảng đó, cửa khẩu số tạo tiền đề chuyển sang cửa khẩu thông minh, trong đó dữ liệu được kết nối với thiết bị nhận dạng, camera, cân điện tử, hệ thống phân luồng và công cụ phân tích. Các đề án tại Hữu Nghị – Hữu Nghị Quan, Kim Thành và Bản Vược thể hiện bước chuyển từ số hóa từng thủ tục sang tích hợp quy trình, tự động hóa một số khâu và tăng cường kết nối hai phía biên giới (Thủ tướng Chính phủ, 2024; 2026). Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, công nghệ chỉ phát huy đầy đủ khi đi cùng tiêu chuẩn dữ liệu, hợp tác giữa các cơ quan biên giới, kế hoạch đầu tư phù hợp và cơ chế bảo vệ dữ liệu (World Trade Organization, nd).

Ở cấp độ quản trị, dữ liệu cửa khẩu cần được coi là một nguồn lực công phục vụ điều hành, giám sát và hoạch định chính sách. Hệ thống chỉ có giá trị khi xác định rõ cơ quan tạo lập dữ liệu, cơ quan chịu trách nhiệm về độ chính xác, phạm vi được khai thác và cơ chế sửa sai. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể chuyển từ đánh giá chủ yếu bằng kim ngạch và số phương tiện sang đánh giá chất lượng quy trình, mức độ tuân thủ và hiệu quả phối hợp. Vì vậy, cửa khẩu thông minh không chỉ là tập hợp thiết bị tự động mà là mô hình quản trị có quy tắc dữ liệu rõ ràng, trách nhiệm giải trình cụ thể và khả năng ra quyết định dựa trên thông tin tin cậy.

4. Thực trạng chuyển đổi số trong thương mại biên giới tại tỉnh Lạng Sơn và Lào Cai

Thực trạng chuyển đổi số tại tỉnh Lạng Sơn và Lào Cai được phân tích theo hai mặt: kết quả đạt được; hạn chế và nguyên nhân. Qua đó, có thể nhận diện mức độ hiện thực hóa các vai trò của chuyển đổi số và những điều kiện còn cản trở quá trình phát triển cửa khẩu thông minh.

(1) Về phạm vi triển khai và mức độ sử dụng. TỉnhLạng Sơn vận hành nền tảng cửa khẩu số tại Hữu Nghị và Tân Thanh từ tháng 02/2022. Sau một năm, toàn bộ phương tiện chở hàng thực hiện khai báo trực tuyến và hệ thống xử lý 238.713 lượt phương tiện (Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn, 04/3/2023). Tính đến ngày 31/5/2026, ghi nhận 224.182 lượt phương tiện được xử lý, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước. Tỉnh Lào Cai đưa nền tảng Kim Thành vào sử dụng từ ngày 21/8/2023 (Phạm Hạnh, 19/8/2023). Sau gần ba năm, 100% doanh nghiệp xuất, nhập khẩu qua cửa khẩu đã kết nối (Lê Trung Kiên & Phạm Xuân Anh, 2026). Các kết quả này cho thấy, nền tảng số đã trở thành phương thức tác nghiệp thường xuyên, dù phạm vi triển khai và chỉ tiêu thống kê giữa hai địa phương chưa hoàn toàn tương đồng.

(2) Về cải cách quy trình và thuận lợi hóa giao dịch. Chuyển đổi số đã vượt khỏi phạm vi thay hồ sơ giấy bằng biểu mẫu điện tử. Khai báo trước, định danh phương tiện, cập nhật trạng thái và tái sử dụng dữ liệu giúp giảm thao tác lặp lại, hạn chế tiếp xúc trực tiếp và tăng khả năng theo dõi. Tại tỉnh Lào Cai, số điểm chạm trong quy trình giảm từ 19 xuống 4, thời gian xử lý tại barie số 1 giảm từ 4 – 6 phút xuống dưới 2 phút (Lê Trung Kiên & Phạm Xuân Anh, 2026). Tại tỉnh Lạng Sơn, doanh nghiệp được khai báo trực tuyến từ xa chỉ một lần, thời gian hoàn thành thủ tục giảm xuống còn 2 – 5 phút thay vì nhiều giờ như trước; hệ thống camera AI, barie tự động, cân điện tử và kết nối dữ liệu liên thông giữa hải quan, biên phòng, kiểm dịch giúp tự động hóa quy trình, rút ngắn thời gian dừng chờ ít nhất 30% (Hồng Nụ, 06/5/2026; Nụ Bùi, 30/4/2026). Những kết quả này củng cố tính minh bạch và tạo điều kiện giảm chi phí tuân thủ.

(3) Về tổ chức triển khai và năng lực vận hành. Hai địa phương đã từng bước thể chế hóa trách nhiệm của các cơ quan tham gia. Tỉnh Lạng Sơn tổ chức thực hiện theo cơ chế chỉ đạo cấp tỉnh, phân công nhiệm vụ liên ngành và duy trì kiểm tra tiến độ (Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, 2024, 2026). Tại Lào Cai, Ban Quản lý Khu kinh tế giữ vai trò đầu mối phối hợp với hải quan, biên phòng, giao thông, công thương và kiểm dịch; trách nhiệm của các chủ thể được xác lập trong quy định quản lý thủ tục trên nền tảng. Hoạt động tập huấn cho doanh nghiệp và đại lý trước khi vận hành nền tảng Kim Thành góp phần hình thành năng lực sử dụng từ phía người dùng (Phạm Hạnh, 19/8/2023).

Về kết cấu hạ tầng. Nền tảng dùng chung, đường truyền, thiết bị nhận dạng, camera, cân điện tử và hệ thống giám sát đã tạo lớp hạ tầng số phục vụ khai báo, theo dõi và điều phối phương tiện. Các đề án cửa khẩu thông minh đặt đầu tư công nghệ trong tổng thể nâng cấp đường chuyên dụng, làn xe, bến bãi và thiết bị kiểm soát. Kế hoạch triển khai Đề án Hữu Nghị xác định yêu cầu đầu tư đồng bộ các hạng mục này (Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, 2024); Đề án Kim Thành và Bản Vược cũng gắn số hóa với hiện đại hóa kết cấu hạ tầng cửa khẩu (Thủ tướng Chính phủ, 2026).

Như vậy, tỉnh Lạng Sơn nổi bật về phạm vi vận hành và khối lượng phương tiện được xử lý; tỉnh Lào Cai thể hiện rõ chiều sâu cải cách quy trình tại một cửa khẩu trọng điểm. Điều đó cho thấy, chuyển đổi số đã thúc đẩy ba bước chuyển: từ xử lý hồ sơ riêng lẻ sang nền tảng dùng chung; từ điều hành theo tình huống sang phối hợp dựa trên dữ liệu; từ số hóa từng công đoạn sang chuẩn bị điều kiện cho cửa khẩu thông minh.

Bên cạnh kết quả đạt được, chuyển đổi số tại Lạng Sơn và Lào Cai vẫn chưa hình thành đầy đủ quy trình liên thông toàn trình. Các điểm nghẽn chủ yếu nằm ở dữ liệu, phối hợp qua biên giới, kết cấu hạ tầng và năng lực vận hành.

Một là, dữ liệu liên ngành chưa được kết nối và tái sử dụng đầy đủ. Hải quan, biên phòng, kiểm dịch, giao thông và kho bãi vẫn vận hành các hệ thống phục vụ mục tiêu nghiệp vụ khác nhau. Khi nền tảng địa phương chưa tích hợp hoàn toàn hệ thống chuyên ngành, doanh nghiệp còn phải cung cấp lại thông tin, nếu kê khai sai mã định danh, biển số, tên hàng và thời điểm cập nhật có thể làm gián đoạn quy trình. Nguyên nhân là kiến trúc dữ liệu còn phân tán, tiêu chuẩn trao đổi chưa thống nhất, giá trị pháp lý của dữ liệu dùng chung và trách nhiệm về độ chính xác chưa được quy định đầy đủ.

Hai là, phối hợp và tương thích qua biên giới còn hạn chế. Thủ tục trong nước có thể được rút ngắn nhưng phương tiện vẫn phải chờ khi giờ làm việc, chứng từ, tiêu chuẩn kiểm tra hoặc năng lực tiếp nhận của phía đối tác không đồng bộ. Nguyên nhân là thương mại biên giới chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật; trao đổi dữ liệu liên quan đến bảo mật, chủ quyền và mức độ tin cậy. Các thỏa thuận song phương về dữ liệu, chứng từ điện tử và điều tiết phương tiện chưa theo kịp tốc độ đầu tư nền tảng trong nước.

Ba là, hạ tầng số và hạ tầng logistics chưa đồng bộ. Nền tảng đặt lịch và điều tiết không thể thay thế đường chuyên dụng, bến bãi, kho lạnh, khu kiểm nghiệm và thiết bị sang tải. Khi công suất vật lý đạt giới hạn, điểm nghẽn có thể chuyển từ cổng kiểm soát sang kho bãi hoặc kiểm dịch. Hạn chế này bắt nguồn từ đầu tư còn phân kỳ, tiến độ các hạng mục không đồng đều, nhu cầu vốn lớn và việc thiết kế công nghệ chưa dựa đầy đủ trên công suất của toàn chuỗi logistics.

Bốn là, nhân lực, an toàn thông tin và kinh phí vận hành chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đặt ra. Công chức phải hiểu nghiệp vụ, dữ liệu và xử lý sự cố; doanh nghiệp, đại lý và lái xe phải thực hiện đúng khai báo, chữ ký số và bảo vệ tài khoản. Vì vậy, khoảng cách kỹ năng làm tăng lỗi dữ liệu và sự phụ thuộc vào khâu trung gian. Trong khi đó, hệ thống đòi hỏi phân quyền, giám sát, sao lưu và phục hồi liên tục. Nguyên nhân của hạn chế này là đào tạo chưa gắn chặt với từng vị trí, nhân sự kỹ thuật chuyên sâu còn thiếu và nguồn lực thường ưu tiên đầu tư ban đầu hơn duy trì, nâng cấp.

5. Một số giải pháp

Thứ nhất, xây dựng kiến trúc dữ liệu cửa khẩu thống nhất. Cần xác định bộ dữ liệu lõi, mã định danh, tiêu chuẩn trao đổi và cơ quan chịu trách nhiệm đối với từng trường dữ liệu. Nền tảng địa phương phải kết nối với hải quan, biên phòng, kiểm dịch, đăng kiểm, thuế và cơ chế một cửa quốc gia qua giao diện chuẩn với mục tiêu là doanh nghiệp chỉ cung cấp một lần đối với dữ liệu không thay đổi. Cùng với kết nối kỹ thuật, cần rà soát căn cứ pháp lý của từng trường thông tin, loại bỏ yêu cầu không cần thiết và quy định giá trị pháp lý, phương thức xác nhận, xử lý sai lệch.

Thứ hai, thể chế hóa cơ chế điều phối và hợp tác qua biên giới. Mỗi địa phương cần xác định cơ quan đầu mối, trách nhiệm cập nhật dữ liệu, thời hạn xử lý và cơ chế giải quyết vướng mắc. Bảng điều hành chung phải thể hiện trạng thái toàn trình để phát hiện điểm nghẽn. Hợp tác với phía đối tác nên triển khai theo từng mô-đun, như: trao đổi trước thông tin phương tiện và lô hàng; phối hợp giờ làm việc; thông báo thay đổi tiêu chuẩn; chia sẻ tình trạng luồng xe và từng bước công nhận kết quả kiểm tra phù hợp. Dữ liệu trao đổi phải được phân loại và bảo vệ theo thỏa thuận.

Quy trình liên ngành phải quy định rõ thời hạn xử lý, đầu mối chịu trách nhiệm và phương án chuyển tiếp khi hệ thống gặp sự cố. Các vướng mắc lặp lại cần được tổng hợp để điều chỉnh quy trình; đối thoại với doanh nghiệp phải được duy trì nhằm nhận diện điểm nghẽn và ưu tiên đầu tư.

Thứ ba, gắn đầu tư công nghệ với hạ tầng logistics. Danh mục đầu tư cần xuất phát từ bản đồ quy trình, dữ liệu lưu lượng và công đoạn gây chậm. Hệ thống đặt lịch, nhận dạng phương tiện, cân điện tử, camera, kho lạnh, khu kiểm nghiệm và đường chuyên dụng phải được thiết kế thành một chuỗi. Cụ thể: tỉnh Lạng Sơn cần bảo đảm tiến độ các hạng mục của Đề án Hữu Nghị và duy trì ổn định nền tảng đang phục vụ khối lượng lớn; tỉnh Lào Cai cần gắn triển khai Kim Thành, Bản Vược với quy hoạch logistics và tiêu chuẩn mở; đồng thời, chuẩn bị kịch bản vận hành khi lưu lượng tăng đột biến hoặc hệ thống số gián đoạn.

Thứ tư, phát triển nhân lực và bảo đảm an toàn thông tin. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực cần phân định theo vị trí việc làm: cán bộ quản lý tập trung vào quản trị dữ liệu, phân tích lưu lượng và điều phối; nhân sự kỹ thuật tập trung vào tích hợp hệ thống, giám sát an ninh mạng và duy trì hoạt động liên tục; doanh nghiệp, lái xe được hướng dẫn quy trình và hỗ trợ đa kênh. Mỗi nền tảng cần có phân quyền theo vai trò, nhật ký truy cập, sao lưu, phục hồi và diễn tập sự cố. Hợp đồng công nghệ cần quy định trách nhiệm bảo mật, chuyển giao, khả năng xuất dữ liệu và hạn chế phụ thuộc vào một nhà cung cấp

Thứ năm, đổi mới hệ thống chỉ tiêu đánh giá chuyển đổi số. Bộ chỉ tiêu cần bao gồm: tỷ lệ dữ liệu được tái sử dụng; số lần khai báo; thời gian từng công đoạn và toàn trình; thời gian chờ, tồn bãi; tỷ lệ hồ sơ bổ sung; mức ổn định của hệ thống; sự cố an toàn thông tin; chi phí thủ tục và mức độ hài lòng của doanh nghiệp. Hệ thống đánh giá cần phân biệt ba tầng: đầu ra số hóa, kết quả cải tiến quy trình và tác động đến hiệu quả thương mại; đồng thời, công bố rõ phạm vi, kỳ thống kê và nguồn dữ liệu.

6. Kết luận

Qua thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Lào Cai cho thấy, vai trò của chuyển đổi số không dừng ở thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử. Giá trị cốt lõi nằm ở khả năng tổ chức lại luồng giao dịch, nâng cao năng lực điều phối cửa khẩu và đổi mới quản trị nhà nước trên nền tảng dữ liệu. Để nâng cao vai trò của chuyển đổi số đối với thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc, chuyển đổi số cần được triển khai tổng thể. Trọng tâm là thống nhất kiến trúc dữ liệu, khai báo một lần và tái sử dụng thông tin; thể chế hóa cơ chế điều phối liên ngành và hợp tác qua biên giới; đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng số với logistics; phát triển năng lực vận hành, bảo đảm an toàn thông tin và đánh giá bằng những chỉ tiêu phản ánh thực chất thời gian, chi phí, chất lượng phục vụ. Thực hiện được đồng bộ giải pháp này, chuyển đổi số nói riêng và thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc nói chung sẽ phát triển mạnh mẽ và bền vững.

Tài liệu tham khảo:
Chu Văn Tuấn & Hoàng Văn Chung (12/11/2025). Phát triển thương mại biên giới đất liền: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1172102/phat-trien-thuong-mai-bien-gioi-dat-lien–thuc-trang-va-mot-so-van-de-dat-ra.aspx
Cổng thông tin Logistics Việt Nam (17/4/2024). Phát triển hạ tầng tạo sức bật xuất khẩu sang thị trường láng giềng. https://logistics.gov.vn/ha-tang/phat-trien-ha-tang-tao-suc-bat-xuat-khau-sang-thi-truong-lang-gieng
Đinh Viết Vinh (24/12/2025). Lào Cai: Thu ngân sách từ xuất – nhập khẩu đạt hơn 2.170 tỷ đồng. https://baolaocai.vn/lao-cai-thu-ngan-sach-tu-xuat-nhap-khau-dat-hon-2170-ty-dong-post889748.html
Hồng Nụ (06/5/2026). Bài 1: Lạng Sơn – nơi đặt nền móng cho lộ trình cửa khẩu thông minh. https://thuehaiquan.tapchikinhtetaichinh.vn/bai-1-lang-son-noi-dat-nen-mong-cho-lo-trinh-cua-khau-thong-minh-155283.html
Lê Trung Kiên & Phạm Xuân Anh (11/5/2026). “Chìa khóa” nâng tầm logistics biên giới tại cửa khẩu Lào Cai. https://baolaocai.vn/chia-khoa-nang-tam-logistics-bien-gioi-tai-cua-khau-lao-cai-post899336.html
López González, J. & Jouanjean, M. (2017). Digital Trade: Developing a Framework for Analysis, OECD Trade Policy Papers, No. 205, OECD Publishing, Paris. https://doi.org/10.1787/524c8c83-en
Nụ Bùi (30/4/2026). Đề xuất quy trình 4 bước nhằm tái cấu trúc Nền tảng cửa khẩu số của Lạng Sơn. https://thuehaiquan.tapchikinhtetaichinh.vn/de-xuat-quy-trinh-4-buoc-nham-tai-cau-truc-nen-tang-cua-khau-so-cua-lang-son-155029.html
Phạm Hạnh (19/8/2023). Triển khai cửa khẩu số tại Kim Thành, Lào Cai từ 21/8. https://vov.vn/kinh-te/trien-khai-cua-khau-so-tai-kim-thanh-lao-cai-tu-218-post1040396.vov
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 865/QĐ-TTg ngày 17/8/2024 phê duyệt Đề án thí điểm xây dựng cửa khẩu thông minh tại đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa khu vực mốc 1119 – 1120 và đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa khu vực mốc 1088/2 – 1089 thuộc cặp cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Việt Nam) – Hữu Nghị Quan (Trung Quốc).
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 453/QĐ-TTg ngày 18/3/2026 phê duyệt Đề án xây dựng cửa khẩu thông minh tại lối thông quan cầu đường bộ Kim Thành và lối thông quan Bản Vược thuộc cửa khẩu quốc tế Lào Cai.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2024). Kế hoạch số 239/KH-UBND ngày 24/10/2024 triển khai thực hiện Đề án thí điểm xây dựng cửa khẩu thông minh tại đường chuyên dụng vận chuyển hàng hoá khu vực mốc 1119 – 1120 và đường chuyên dụng vận chuyển hàng hoá khu vực mốc 1088/2 – 1089 thuộc cặp cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Việt Nam) – Hữu Nghị Quan (Trung Quốc).
Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2025). Quyết định số 27/2025/QĐ-UBND ngày 24/3/2025 ban hành quy định về sử dụng Nền tảng cửa khẩu số tỉnh Lạng Sơn.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2026). Hội nghị Ban Chỉ đạo triển khai thực hiện thí điểm Đề án xây dựng cửa khẩu thông minh.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2024). Quyết định số 15/2024/QĐ-UBND ngày 18/7/2024 ban hành Quy định về theo dõi, quản lý việc thực hiện thủ tục xuất – nhập khẩu, xuất – nhập cảnh qua Cửa khẩu quốc tế đường bộ số II (Kim Thành) trên nền tảng cửa khẩu số.
World Trade Organization (2017). Agreement on Trade Facilitation, Articles 8 and 10.4. https://www.wto.org/english/docs_e/legal_e/tfa_e.htm
World Trade Organization. Digital technologies and trade: Trade facilitation. https://www.wto.org/english/tratop_e/dtt_e/dtt-tradfa_e.htm