Strategies to Promote Private Sector Development in Đắk Lắk Province
Phạm Công Thành
Văn phòng HĐND và UBND phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk
Email: thanhphamcong115@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển doanh nghiệp tư nhân có ý nghĩa trung tâm đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao năng suất và khai thác hiệu quả các lợi thế phát triển của tỉnh Đắk Lắk. Bài viết tập trung phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Đắk Lắk trên các phương diện: quy mô và chất lượng doanh nghiệp; môi trường kinh doanh; khả năng tiếp cận đất đai, vốn và hạ tầng; liên kết chuỗi giá trị; đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực. Trên cơ sở kết quả và hạn chế, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp đặc thù nhằm nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh, tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, tín dụng và hạ tầng, phát triển chuỗi giá trị gắn với chuyển đổi số, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hình thành các doanh nghiệp tư nhân có năng lực dẫn dắt.
Từ khóa: Doanh nghiệp tư nhân; phát triển doanh nghiệp; môi trường kinh doanh; chuỗi giá trị; đổi mới sáng tạo; Đắk Lắk.
Abstract: The development of private enterprises plays a central role in the process of economic restructuring, job creation, productivity improvement, and the effective utilization of Đắk Lắk Province’s development advantages. This article focuses on analyzing the current state of private enterprise development in Dak Lak Province across the following dimensions: business scale and quality; the business environment; access to land, capital, and infrastructure; value chain linkages; innovation, digital transformation, and human resources. Based on the findings and limitations identified, the paper proposes specific sets of solutions aimed at improving the quality of the business environment, addressing bottlenecks related to land, credit, and infrastructure, developing value chains linked to digital transformation, while also enhancing the quality of the workforce and fostering private enterprises with the capacity to lead.
Keywords: Private enterprises; enterprise development; business environment; value chains; innovation; Dak Lak Province.
1. Đặt vấn đề
Phát triển kinh tế tư nhân là một trong những nội dung có ý nghĩa trung tâm trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Khu vực kinh tế tư nhân không chỉ góp phần huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển mà còn tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, mở rộng cơ sở thu ngân sách và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bảo vệ quyền tài sản, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, mở rộng khả năng tiếp cận đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao, công nghệ và dữ liệu. Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu chuyển mạnh tư duy quản lý từ kiểm soát sang kiến tạo, phục vụ và đồng hành cùng doanh nghiệp.
Đối với tỉnh Đắk Lắk, phát triển doanh nghiệp tư nhân gắn với yêu cầu tổ chức lại không gian kinh tế theo hướng kết nối các lợi thế về nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch, logistics, năng lượng và kinh tế biển. Không gian phát triển rộng hơn tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng thị trường, kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến, trung tâm phân phối và các đầu mối giao thương. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ có thể chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh khi tỉnh giải quyết được những hạn chế về thể chế, hạ tầng, vốn, công nghệ, nhân lực và liên kết doanh nghiệp.
Theo Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, địa phương định hướng phát triển các lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp chế biến, năng lượng, thương mại, dịch vụ, du lịch và kết cấu hạ tầng. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo dư địa lớn cho doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư, cung ứng dịch vụ và hình thành các chuỗi giá trị mới (UBND tỉnh Đắk Lắk, 2026). Năm 2025, toàn tỉnh thành lập mới 3.168 doanh nghiệp, tăng khoảng 64% so với năm 2024, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên 20.352 doanh nghiệp. Cùng với đó, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 229.550 tỷ đồng theo giá hiện hành; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 61.203 tỷ đồng; và tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 2,8 tỷ USD. Những kết quả này cho thấy khu vực doanh nghiệp có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, 2026)
Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp chưa đồng nghĩa với sự chuyển biến tương ứng về chất lượng và năng lực chống chịu. Năm 2025, tỉnh Đắk Lắk vẫn phải đối diện với yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tăng khả năng liên kết sản xuất, nâng tỷ trọng chế biến sâu và cải thiện năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, theo kết quả chỉ số PCI 2.0 (áp dụng cho 34 tỉnh, thành phố), Đắk Lắk đạt khoảng 6,25 điểm, xếp thứ 23/34 địa phương, thuộc nhóm trung bình (VCCI, 2025). Kết quả này phản ánh những nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, đồng thời cho thấy dư địa cải cách và nâng cao chất lượng điều hành kinh tế của tỉnh vẫn còn lớn.
Từ thực tiễn, bài viết tập trung làm rõ ba vấn đề: thực trạng phát triển và những điểm nghẽn chủ yếu của doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Đắk Lắk; nguyên nhân của những hạn chế trong tiếp cận thể chế, nguồn lực, công nghệ và thị trường; đề xuất các giải pháp có khả năng tạo chuyển biến thực chất đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn đến năm 2030.
2. Thực trạng phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Đắk Lắk
2.1. Sự không tương thích giữa quy mô và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Chỉ mới 8 tháng năm 2026 có tới 1.200 doanh nghiệp giải thể, 1.218 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, 2026). Tỷ lệ doanh nghiệp rút lui cho thấy, rủi ro về khả năng chống chịu, chất lượng quản trị và sự thích ứng với biến động thị trường vẫn còn lớn, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh trong năm 2025 phản ánh sự cải thiện về tinh thần kinh doanh, nhu cầu chính thức hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự mở rộng của khu vực tư nhân. Việc có hơn ba nghìn doanh nghiệp thành lập mới cho thấy, doanh nghiệp tư nhân tiếp tục là lực lượng quan trọng trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, xây dựng, nông nghiệp, chế biến và vận tải.
Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng cần được xem xét cùng với chất lượng hoạt động và khả năng duy trì doanh nghiệp. Trong thực tế, một bộ phận doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ, doanh thu chưa ổn định, phụ thuộc nhiều vào vốn tự có và kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp. Mô hình quản trị ở nhiều doanh nghiệp còn đơn giản, chưa hình thành đầy đủ các bộ phận chuyên môn về tài chính, pháp lý, nhân sự, marketing, công nghệ và nghiên cứu phát triển. Quy mô nhỏ tạo ra nhiều hạn chế đối với khả năng tích lũy vốn và mở rộng thị trường. Doanh nghiệp nhỏ thường khó đầu tư hệ thống máy móc hiện đại, khó thuê nhân sự chất lượng cao và khó đáp ứng yêu cầu về sản lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, thời gian giao hàng của các đối tác lớn. Khi thị trường biến động, giá nguyên liệu tăng hoặc chi phí vận tải tăng, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng thiếu vốn lưu động, thu hẹp sản xuất hoặc tạm ngừng hoạt động.
Vì vậy, sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân không nên chỉ được đánh giá bằng số doanh nghiệp thành lập mới. Các tiêu chí quan trọng hơn gồm khả năng duy trì hoạt động, tăng trưởng doanh thu, năng suất lao động, số lượng việc làm ổn định, mức độ đổi mới công nghệ, đóng góp ngân sách và khả năng tham gia các chuỗi giá trị. Đây là cơ sở để chuyển chính sách hỗ trợ từ mục tiêu gia tăng số lượng sang nâng cao chất lượng và khả năng phát triển bền vững.
2.2. Môi trường kinh doanh từng bước được cải thiện nhưng chất lượng thực thi còn hạn chế
Tỉnh Đắk Lắk đã triển khai nhiều nhiệm vụ cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp. Từ góc nhìn của doanh nghiệp, vấn đề không chỉ nằm ở số lượng thủ tục mà còn ở tính nhất quán và khả năng phối hợp giữa các cơ quan thực thi. Một dự án đầu tư có thể đồng thời liên quan đến quy hoạch, đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy, giao thông và thuế. Nếu các quy trình này chưa được liên thông, doanh nghiệp phải bổ sung hồ sơ nhiều lần, tự liên hệ với nhiều cơ quan và chịu chi phí cơ hội lớn.
Thông tin về quy hoạch, quỹ đất, danh mục dự án, điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ và cơ hội mua sắm công chưa phải lúc nào cũng được cung cấp theo cách dễ tiếp cận đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp lớn thường có bộ phận pháp chế, đầu tư và phát triển thị trường, trong khi doanh nghiệp nhỏ chủ yếu tiếp cận thông tin thông qua hiệp hội, cơ quan thuế, ngân hàng hoặc các mối quan hệ kinh doanh.
Một điểm nghẽn khác là sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng quy định giữa các cơ quan. Khi chính sách thiếu tính nhất quán, doanh nghiệp khó dự báo thời gian, chi phí và kết quả giải quyết thủ tục. Điều này làm giảm động lực đầu tư dài hạn và khuyến khích doanh nghiệp duy trì quy mô nhỏ để hạn chế rủi ro.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị yêu cầu đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện thể chế, giảm chi phí tuân thủ, số hóa thủ tục hành chính và nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp. Đây là định hướng quan trọng để Đắk Lắk chuyển từ cải cách thủ tục theo hình thức sang nâng cao chất lượng thực thi theo kết quả thực tế.
2.3. Tiếp cận đất đai, tín dụng và hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn lớn
Đất đai là điều kiện đầu vào quan trọng đối với doanh nghiệp chế biến nông sản, logistics, công nghiệp hỗ trợ, thương mại, dịch vụ và du lịch. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường khó tiếp cận quỹ đất có vị trí phù hợp, pháp lý rõ ràng và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Nhiều doanh nghiệp phải sử dụng mặt bằng nhỏ lẻ, thiếu hệ thống xử lý nước thải, kho bãi, điện, nước và giao thông kết nối.
Việc thiếu quỹ đất sạch làm tăng chi phí đầu tư ban đầu và kéo dài thời gian triển khai dự án. Đối với doanh nghiệp chế biến nông sản, mặt bằng sản xuất phải gắn với nhà xưởng, vùng nguyên liệu, kho bảo quản, khu sơ chế, hệ thống xử lý chất thải và kết nối vận tải. Nếu các yếu tố này không được quy hoạch đồng bộ, doanh nghiệp khó mở rộng quy mô và khó đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và môi trường.
Tín dụng cũng là rào cản phổ biến đối với doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp nhỏ thường thiếu tài sản bảo đảm, báo cáo tài chính chưa chuẩn hóa, dòng tiền không ổn định và chưa có hệ thống quản trị rủi ro. Trong khi đó, các tổ chức tín dụng phải kiểm soát chất lượng khoản vay, dẫn đến việc thẩm định thường dựa nhiều vào tài sản thế chấp hơn là khả năng tạo dòng tiền trong tương lai.
Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã tạo cơ sở pháp lý cho các chính sách hỗ trợ về tín dụng, bảo lãnh tín dụng, mặt bằng sản xuất, công nghệ, đào tạo và phát triển thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách phụ thuộc lớn vào mức độ đơn giản của thủ tục, khả năng tiếp cận thông tin và sự phù hợp giữa chương trình hỗ trợ với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Đối với tỉnh Đắk Lắk, chi phí logistics có ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nông nghiệp và chế biến. Nguồn nguyên liệu phân bố rộng, cơ sở chế biến và trung tâm tiêu dùng nằm ở những vị trí khác nhau, trong khi nhu cầu về vận chuyển, kho lạnh, bảo quản và kiểm soát chất lượng ngày càng cao. Chi phí logistics lớn làm giảm lợi nhuận, tăng giá thành sản phẩm và hạn chế khả năng mở rộng thị trường.
2.4. Lợi thế về nông nghiệp, chế biến, du lịch và kinh tế biển chưa được chuyển hóa đầy đủ thành năng lực cạnh tranh
Tỉnh Đắk Lắk có lợi thế về cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, cao su, mật ong, các sản phẩm nông nghiệp đặc sản, văn hóa dân tộc, cảnh quan sinh thái và các hoạt động du lịch gắn với không gian cao nguyên và ven biển. Đây là nền tảng để phát triển các chuỗi giá trị có khả năng tạo việc làm, tăng thu nhập và mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, một bộ phận doanh nghiệp vẫn chủ yếu tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp như thu mua, sơ chế và thương mại sản phẩm thô. Năng lực chế biến sâu, thiết kế sản phẩm, xây dựng thương hiệu, kiểm soát chất lượng và phát triển thị trường quốc tế còn hạn chế. Tình trạng này làm cho doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào biến động giá nguyên liệu và các khâu trung gian trong chuỗi phân phối.
Trong chuỗi nông sản, sự liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất chưa thật sự ổn định. Quy mô sản xuất phân tán, chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều, việc thực hiện tiêu chuẩn kỹ thuật và truy xuất nguồn gốc chưa thống nhất. Khi không kiểm soát được vùng nguyên liệu, doanh nghiệp khó duy trì chất lượng sản phẩm, khó ký kết hợp đồng dài hạn và khó đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Đối với cà phê, yêu cầu phát triển không chỉ là tăng sản lượng mà còn phải nâng tỷ trọng cà phê rang xay, cà phê hòa tan, cà phê đặc sản, sản phẩm hữu cơ, sản phẩm quà tặng và các thương hiệu có khả năng phân phối trực tiếp. Đối với sầu riêng và nông sản tươi, yêu cầu quan trọng là quản lý vùng trồng, kiểm soát dư lượng, đóng gói, bảo quản lạnh và truy xuất nguồn gốc. Đối với hồ tiêu, cao su và các sản phẩm lâm nghiệp, doanh nghiệp cần chú trọng tiêu chuẩn môi trường, nguồn gốc hợp pháp và trách nhiệm xã hội.
Du lịch cũng là lĩnh vực có nhiều tiềm năng để doanh nghiệp tư nhân tham gia. Tuy nhiên, sản phẩm du lịch còn phân tán, sự liên kết giữa các điểm đến chưa chặt chẽ, thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều doanh nghiệp du lịch có quy mô nhỏ, thiếu năng lực xây dựng sản phẩm, marketing, quản trị dữ liệu khách hàng và kết nối với các doanh nghiệp vận tải, lưu trú, ẩm thực và thương mại.Việc xây dựng sản phẩm liên kết giữa du lịch cao nguyên và du lịch biển có thể tạo ra cơ hội mới cho doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, nhà hàng, vận tải, thương mại và dịch vụ trải nghiệm. Tuy nhiên, để hình thành sản phẩm có sức cạnh tranh, cần có sự phối hợp về quy hoạch, giao thông, xúc tiến du lịch, dữ liệu điểm đến, chất lượng dịch vụ và đào tạo nhân lực.
2.5. Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế
Chuyển đổi số ở doanh nghiệp tư nhân đã có những bước phát triển nhất định thông qua việc sử dụng phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, mạng xã hội và thương mại điện tử. Tuy nhiên, ở nhiều doanh nghiệp, chuyển đổi số mới dừng ở mức sử dụng những công cụ đơn lẻ, chưa trở thành một hệ thống quản trị tích hợp.
Một số doanh nghiệp có phần mềm nhưng dữ liệu chưa được chuẩn hóa; có bán hàng trực tuyến nhưng chưa kiểm soát tốt tồn kho, đơn hàng, chăm sóc khách hàng và hiệu quả quảng cáo; có sử dụng mạng xã hội nhưng chưa xây dựng được chiến lược thương hiệu và phân phối ổn định. Điều này cho thấy điểm nghẽn không chỉ nằm ở chi phí đầu tư công nghệ mà còn ở năng lực hấp thụ, tổ chức lại quy trình và sử dụng dữ liệu.
Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp cũng chưa trở thành hoạt động thường xuyên. Nhiều doanh nghiệp thiếu nguồn lực dành cho nghiên cứu và phát triển, thiếu nhân sự công nghệ và thiếu khả năng hợp tác với trường đại học, cơ sở nghiên cứu. Mối liên kết giữa doanh nghiệp và các tổ chức cung cấp tri thức chưa đủ chặt để chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, quy trình và mô hình kinh doanh mới.
Nguồn nhân lực là một trong những hạn chế quan trọng. Doanh nghiệp thiếu lao động có kỹ năng về quản trị tài chính, quản trị chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn chất lượng, thương mại điện tử, marketing, xuất nhập khẩu, ngoại ngữ và công nghệ thông tin. Năm 2025, tỉnh giải quyết việc làm cho 55.950 người, nhưng yêu cầu đặt ra không chỉ là số lượng việc làm mà còn là chất lượng, kỹ năng và mức độ phù hợp giữa đào tạo với nhu cầu của doanh nghiệp. (Sở Tài chính Đắk Lắk, 2026)
Một bộ phận chủ doanh nghiệp vẫn điều hành dựa nhiều vào kinh nghiệm cá nhân, chưa phân tách rõ tài chính doanh nghiệp và tài chính gia đình, chưa xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ và chưa có chiến lược tăng trưởng dài hạn. Đây là nguyên nhân khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, khó thu hút nhân sự chất lượng cao và khó đáp ứng yêu cầu của các đối tác lớn.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh và hiệu quả thực thi chính sách.
Tỉnh Đắk Lắk cần chuyển trọng tâm từ cải cách thủ tục hành chính đơn thuần sang giảm chi phí giao dịch và nâng cao khả năng dự đoán của môi trường đầu tư. Mỗi quy trình liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường và thuế cần được liên thông công khai, chuẩn hóa thời gian xử lý và rõ cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng. Tỉnh cần công khai, cập nhật liên tục quỹ đất sạch, quy hoạch phân khu, danh mục dự án ưu tiên và cơ hội mua sắm công trên nền tảng số bằng ngôn ngữ dễ tiếp cận cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, phát huy vai trò thực chất của các Hiệp hội Doanh nghiệp tại tỉnh Đắk Lắk trong việc chủ trì khảo sát độc lập về chi phí không chính thức và các “điểm nghẽn” thủ tục. Kết quả khảo sát này là đầu vào cho các phiên đối thoại chuyên đề định kỳ giữa Lãnh đạo tỉnh và doanh nghiệp, trong đó mọi kiến nghị phải được gắn mã theo dõi và ấn định thời hạn giải quyết dứt điểm
Việc cải thiện môi trường kinh doanh cũng cần gắn với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Có thể sử dụng các tiêu chí như thời gian xử lý thủ tục, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, mức độ hài lòng của doanh nghiệp, số lượng kiến nghị được giải quyết và mức độ cải thiện các chỉ số PCI để đánh giá hiệu quả thực thi. Mục tiêu cuối cùng không phải là tổ chức thêm nhiều hoạt động hỗ trợ mà là tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và bình đẳng hơn.
Thứ hai, tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, tín dụng và hạ tầng logistics.
Tỉnh Đắk Lắk cần chuyển từ phân bổ mặt bằng nhỏ lẻ sang quy hoạch quỹ đất sạch theo cụm ngành tại các khu, cụm công nghiệp trọng điểm, như: KCN Hòa Phú, CCN Tân An, CCN Phú Xuân. Việc giao đất, cho thuê đất phải ưu tiên doanh nghiệp chế biến sâu, công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp, kho lạnh logistics và các dự án cam kết liên kết tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.
Về hạ tầng, tỉnh Đắk Lắk cần đẩy nhanh tiến độ và khai thác hiệu quả tuyến cao tốc liên tỉnh Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột, đồng thời chủ động phối hợp triển khai tuyến cao tốc Đắk Lắk (Tuy Hòa – Buôn Ma Thuột) nhằm kết nối đồng bộ mạng lưới giao thông nội tỉnh với hành lang kinh tế Đông – Tây và hệ thống cảng biển nước sâu (như Nam Vân Phong, Bãi Gốc). Đây là yếu tố then chốt giúp hạ thấp chi phí vận tải, rút ngắn thời gian logistics và nâng cao sức cạnh tranh cho các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực.
Đối với tín dụng, cần khuyến khích tổ chức tín dụng đánh giá doanh nghiệp dựa nhiều hơn vào dòng tiền, hợp đồng đầu ra, lịch sử thanh toán, dữ liệu hóa đơn điện tử, mức độ tuân thủ thuế và khả năng tham gia chuỗi cung ứng. Chính quyền địa phương không thể thay thế chức năng thẩm định tín dụng của ngân hàng, nhưng có thể hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa báo cáo tài chính, phương án kinh doanh, hồ sơ pháp lý và thông tin thị trường. Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được vận hành theo hướng thực chất hơn, tập trung vào doanh nghiệp có dự án khả thi nhưng thiếu tài sản thế chấp. Cơ chế bảo lãnh cần gắn với kế hoạch sử dụng vốn, khả năng trả nợ, mức độ minh bạch tài chính và kết quả kinh doanh. Đồng thời, cần tăng cường kết nối doanh nghiệp với Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các chương trình tín dụng xanh, tín dụng nông nghiệp, cho thuê tài chính và những nguồn vốn đầu tư hợp pháp khác.
Về logistics, tỉnh cần xây dựng mạng lưới liên kết giữa vùng nguyên liệu, cơ sở sơ chế, nhà máy chế biến, kho lạnh, trung tâm phân phối, doanh nghiệp vận tải và các đầu mối xuất khẩu. Chính sách logistics cần gắn với đặc điểm của từng nhóm sản phẩm. Nông sản tươi cần hệ thống bảo quản lạnh và kiểm soát thời gian vận chuyển; cà phê và nông sản khô cần kho bảo quản, kiểm soát chất lượng và dịch vụ đóng gói; du lịch cần hệ thống vận tải, đặt chỗ và phân phối dịch vụ đồng bộ. Nếu giải quyết được các điểm nghẽn về đất đai, vốn và logistics, doanh nghiệp tư nhân sẽ có điều kiện chuyển từ hoạt động nhỏ lẻ sang sản xuất quy mô lớn, giảm chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường.
Thứ ba, phát triển chuỗi giá trị gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang tập trung vào một số chuỗi giá trị có lợi thế và khả năng tạo tác động lan tỏa. Đối với Đắk Lắk, các chuỗi ưu tiên có thể gồm cà phê và nông sản chế biến, sầu riêng và nông sản tươi, logistics và phân phối, du lịch cao nguyên – ven biển, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn.
Trong chuỗi cà phê, cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, cà phê đặc sản, cà phê hữu cơ, sản phẩm tiện dụng, sản phẩm quà tặng và các thương hiệu có khả năng phân phối trực tiếp. Hỗ trợ của Nhà nước nên tập trung vào tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ, thiết kế bao bì, xúc tiến thương mại và kết nối với các hệ thống phân phối hiện đại.
Đối với sầu riêng và các sản phẩm nông nghiệp tươi, cần tăng cường quản lý vùng trồng, kiểm soát chất lượng, bảo quản sau thu hoạch, đóng gói và truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp cần liên kết chặt chẽ với hợp tác xã và hộ sản xuất để ổn định nguồn nguyên liệu và giảm rủi ro về chất lượng. Chính sách hỗ trợ không nên chỉ tập trung vào mở rộng diện tích mà cần chú trọng tiêu chuẩn, thị trường và khả năng chế biến.
Đối với lĩnh vực du lịch – dịch vụ, tỉnh cần định hướng phát triển các chuỗi sản phẩm mang tính liên kết đa dạng giữa văn hóa bản địa, sinh thái đại ngàn, thương hiệu cà phê, nghỉ dưỡng và du lịch biển. Cần hình thành mạng lưới hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, nhà hàng, đơn vị vận tải và cộng đồng địa phương để cùng đồng thiết kế và vận hành chuỗi dịch vụ hoàn chỉnh.
Về phía chính quyền, tỉnh Đắk Lắk đóng vai trò kiến tạo thông qua việc nâng cấp công tác xúc tiến điểm đến, chuẩn hóa tiêu chí chất lượng dịch vụ, xây dựng nền tảng dữ liệu du lịch dùng chung, đào tạo nhân lực chất lượng cao và làm cầu nối liên kết các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Trong đó, trọng tâm là xây dựng hành lang du lịch liên không gian mang thương hiệu “Huyền thoại Tây Nguyên – Biển xanh Duyên hải”, kết hợp hỗ trợ doanh nghiệp du lịch đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị trải nghiệm khách hàng, marketing dựa trên dữ liệu (data-driven marketing) và thương mại điện tử.
Chuyển đổi số cần được triển khai theo nguyên tắc phù hợp với quy mô và năng lực của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, gói hỗ trợ cơ bản nên bao gồm kế toán số, hóa đơn điện tử, quản trị kho, bán hàng đa kênh, quản trị quan hệ khách hàng, truy xuất nguồn gốc và bảo mật dữ liệu. Việc hỗ trợ cần gắn với tư vấn trực tiếp và hướng dẫn vận hành trong một khoảng thời gian nhất định, không chỉ dừng ở việc cấp tài khoản hoặc tổ chức tập huấn.
Tỉnh Đắk Lắk cũng cần tăng cường kết nối doanh nghiệp với trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tổ chức nghiên cứu và chuyên gia công nghệ. Hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo nên xuất phát từ nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp như giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng chế biến, tiết kiệm năng lượng, xử lý phụ phẩm, tối ưu vận chuyển và phát triển sản phẩm mới.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị và hình thành doanh nghiệp dẫn dắt.
Trong điều kiện phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nâng cao năng lực quản trị cần được xem là giải pháp nền tảng. Tỉnh nên xây dựng chương trình đào tạo dành cho chủ doanh nghiệp và cán bộ quản lý theo từng nhóm ngành, thay vì tổ chức các lớp đào tạo đại trà. Nội dung đào tạo cần tập trung vào những vấn đề có tác động trực tiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như quản trị dòng tiền, kế toán và thuế, pháp luật hợp đồng, quản trị nhân sự, quản trị chất lượng, thương mại điện tử, xuất nhập khẩu, xây dựng thương hiệu, quản trị rủi ro, bảo vệ dữ liệu và phát triển bền vững.
Đối với doanh nghiệp nông nghiệp và chế biến, chương trình đào tạo cần bổ sung các nội dung về quản trị vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và logistics. Đối với doanh nghiệp du lịch, cần chú trọng quản trị trải nghiệm khách hàng, marketing số, dữ liệu du khách và thiết kế sản phẩm. Đối với doanh nghiệp logistics, cần tập trung vào quản trị kho, vận tải, chuỗi lạnh, hợp đồng và công nghệ theo dõi hàng hóa. Cần phát triển mô hình đào tạo theo chuỗi, trong đó doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, bao bì, giao hàng, an toàn lao động, chuyển đổi số và quản trị đơn hàng. Cách tiếp cận này gắn đào tạo với nhu cầu thực tế và tạo khả năng chuyển giao kinh nghiệm trực tiếp.
Tỉnh cũng cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Doanh nghiệp cần được tham gia xây dựng chương trình đào tạo, đặt hàng kỹ năng, tiếp nhận sinh viên thực tập và đánh giá chất lượng đầu ra. Cơ sở đào tạo cần tăng tỷ trọng đào tạo thực hành, kỹ năng số, ngoại ngữ, thương mại và quản trị sản xuất.
Bên cạnh nâng cao năng lực chung, tỉnh Đắk Lắk cần có chương trình phát hiện và hỗ trợ nhóm doanh nghiệp tư nhân có khả năng dẫn dắt trong các lĩnh vực như chế biến nông sản, logistics, du lịch, năng lượng và công nghiệp hỗ trợ. Tiêu chí lựa chọn không nên chỉ dựa vào quy mô vốn mà cần xem xét khả năng tăng trưởng, mức độ đổi mới, tạo việc làm, đóng góp ngân sách, khả năng liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa, mức độ mở rộng thị trường và trách nhiệm môi trường.
4. Kết luận
Phát triển doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Đắk Lắk là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với quá trình nâng cao năng suất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và khai thác hiệu quả các lợi thế về nông nghiệp, công nghiệp chế biến, du lịch, logistics, năng lượng và kinh tế biển. Những kết quả đạt được trong năm 2025 cho thấy khu vực doanh nghiệp tiếp tục mở rộng về số lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng, đầu tư, thương mại và tạo việc làm. Tuy nhiên, thứ hạng PCI còn thấp, cùng với những hạn chế về quy mô, năng lực quản trị, khả năng tiếp cận vốn, đất đai, hạ tầng, công nghệ và thị trường, cho thấy chất lượng phát triển của khu vực tư nhân vẫn cần được cải thiện.
Các hạn chế của doanh nghiệp tư nhân có mối quan hệ tác động qua lại. Doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận vốn và công nghệ; thiếu công nghệ làm giảm năng suất; năng suất thấp hạn chế khả năng mở rộng thị trường; thị trường nhỏ lại làm giảm động lực đầu tư dài hạn. Vì vậy, chính sách phát triển doanh nghiệp không thể chỉ tập trung vào một yếu tố riêng lẻ mà cần được triển khai đồng bộ từ cải thiện thể chế, phát triển hạ tầng, mở rộng nguồn lực đến nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp.
Để các giải pháp phát huy hiệu quả, chính quyền tỉnh cần chuyển từ tư duy hỗ trợ theo chương trình riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp. Trong hệ sinh thái đó, chính quyền giữ vai trò kiến tạo thể chế và hạ tầng; doanh nghiệp lớn giữ vai trò dẫn dắt chuỗi; doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào các công đoạn sản xuất, cung ứng và dịch vụ; trường đại học, cơ sở đào tạo và tổ chức nghiên cứu cung cấp tri thức; còn hiệp hội doanh nghiệp thực hiện chức năng kết nối và phản biện chính sách.
Về phía doanh nghiệp, cần chủ động nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa tài chính, đầu tư cho công nghệ, xây dựng thương hiệu, tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng và tăng cường liên kết với các đối tác trong chuỗi. Chỉ khi chính sách của Nhà nước và năng lực nội tại của doanh nghiệp được cải thiện đồng thời, khu vực doanh nghiệp tư nhân ở Đắk Lắk mới có thể chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ khai thác lợi thế nguyên liệu sang tạo ra giá trị gia tăng cao và từng bước nâng cao vị thế trong các chuỗi giá trị khu vực, quốc gia và quốc tế.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Sở Tài chính Đắk Lắk (2026). Báo cáo thực hiện công tác giải quyết việc làm năm 2025 tỉnh Đắk Lắk.
Thống kê tỉnh Đắk Lắk (2026). Công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội tỉnh Đắk Lắk năm 2025. Thống kê tỉnh Đắk Lắk.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1747/QĐ-TTg ngày 30/12/2023 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2026). Báo cáo tình hình doanh nghiệp 8 tháng năm 2026. daklak.gov.vn.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2026). Chỉ số PCI năm 2025: Đắk Lắk xếp thứ 23, thuộc nhóm trung bình. daklak.gov.vn.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2026). Công bố PCI 2025 của Đắk Lắk: Chỉ số thành phần và điểm nghẽn. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2026). Đắk Lắk gặp mặt doanh nghiệp có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh năm 2025. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
VCCI (2026). Báo cáo PCI 2025 (PCI 2.0): Đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. VCCI.



