Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới ở thành phố Quảng Ninh

The development of science, technology and innovation contributes to establishing a new growth model in Quang Ninh City

TS. Hà Huy Ngọc
Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới
Email: huyngoc47ql@yahoo.com
ThS. Lâm Văn Phong
Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh
Email:lamvanphongkhcn@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong giai đoạn 2011 – 2025, Quảng Ninh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những nỗ lực này đã góp phần từng bước hình thành nền tảng cho mô hình kinh tế xanh, kinh tế số cũng như các ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh của địa phương. Tuy nhiên, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng đổi mới quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Mục tiêu là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Quảng Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.

Từ khóa: Khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; mô hình tăng trưởng; quản lý nhà nước; Quảng Ninh.

Abstract: In the period 2011-2025, Quang Ninh province issued numerous guidelines and policies aimed at promoting the development of science, technology, innovation, and digital transformation. These efforts have gradually contributed to establishing the foundation for a green economy model, a digital economy, as well as sectors and fields in which the locality holds competitive advantages. Nevertheless, science, technology, and innovation activities in the province still face many limitations, thereby affecting the effectiveness of state management in this domain. On this basis, the article proposes several orientations for innovating state management of science, technology, and innovation. The objective is to enhance the effectiveness and efficiency of state management, thereby contributing to the process of transforming the growth model of Quang Ninh province toward 2030, with a vision to 2035.

Keywords: Science and technology; innovation; growth model; state management; Quang Ninh City.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra ngày càng mạnh mẽ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của mỗi quốc gia, địa phương. Thực tiễn phát triển những năm gần đây cho thấy, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đang chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo thay cho mô hình phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ trước đây.

Ở Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Bộ Chính trị, năm 2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW cho thấy, yêu cầu đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước giai đoạn tới.

Là địa phương có vị trí chiến lược đặc biệt ở vùng Đông Bắc, tỉnh Quảng Ninh hiện nay là thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01/9/2026. Quảng Ninh có nhiều tiềm năng, lợi thế về kinh tế biển, công nghiệp, logistics, du lịch và kinh tế cửa khẩu. Những năm qua, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, như: Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 05/5/2012, Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 13/3/2017 và gần đây là Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 28/4/2023 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến năm 2030. Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được quan tâm đầu tư nhiều hơn, gắn với phát triển kinh tế xanh, chuyển đổi số, phát triển sản phẩm OCOP, nông nghiệp công nghệ cao, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn còn những hạn chế nhất định. Các nhiệm vụ nghiên cứu phần lớn còn triển khai theo từng lĩnh vực riêng lẻ, thiếu tính liên kết và chưa hình thành được các chương trình có tính dẫn dắt đối với chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp còn hạn chế; cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự hiệu quả; việc gắn kết giữa nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn chưa chặt chẽ.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Quảng Ninh giai đoạn 2011 – 2025, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần phát huy vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển nhanh, bền vững đến năm 2030, định hướng năm 2035.
2. Thực trạng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở thành phố Quảng Ninh

Những năm qua, Quảng Ninh đã quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc triển khai các nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về khoa học, công nghệ đã tạo chuyển biến nhất định trong nhận thức, cơ chế quản lý và ứng dụng khoa học, công nghệ trong một số ngành, lĩnh vực của tỉnh.

Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được triển khai trên nhiều lĩnh vực, như: khoa học xã hội và nhân văn, nông nghiệp, y tế, môi trường, chuyển đổi số và phát triển doanh nghiệp khoa học, công nghệ. Một số nhiệm vụ nghiên cứu đã gắn với yêu cầu thực tiễn của địa phương, nhất là trong phát triển kinh tế xanh, kinh tế biển, bảo tồn di sản, phát triển sản phẩm OCOP và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất.

Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, tỉnh tập trung nghiên cứu phục vụ xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, du lịch và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Một số nghiên cứu liên quan đến bảo tồn và phát huy giá trị Quần thể di tích danh thắng Yên Tử, phát triển du lịch bền vững, phát triển logistics, kinh tế số và thương mại biên giới là cơ sở phục vụ hoạch định chính sách và định hướng phát triển của tỉnh.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, đây là một trong những lĩnh vực được đầu tư nghiên cứu và ứng dụng khá mạnh trong giai đoạn 2014 – 2024. Các nhiệm vụ chủ yếu tập trung vào bảo tồn nguồn gen quý; ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ nano và các kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp; phát triển sản phẩm chủ lực và sản phẩm OCOP (Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh, 2025). Một số mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao bước đầu được hình thành tại Đông Triều, Đầm Hà và một số địa phương khác. Tuy nhiên, quy mô ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp nhìn chung còn chưa lớn; liên kết giữa nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa thật sự chặt chẽ. Một số mô hình còn phụ thuộc khá nhiều vào hỗ trợ của Nhà nước, khả năng nhân rộng trong doanh nghiệp và người dân còn hạn chế.

Trong lĩnh vực y tế, các nhiệm vụ khoa học, công nghệ chủ yếu theo hướng ứng dụng kỹ thuật cao trong khám, chữa bệnh tại các bệnh viện lớn, như: Bệnh viện Đa khoa, Bệnh viện Bãi Cháy, Bệnh viện Sản Nhi. Nhiều kỹ thuật chuyên sâu được triển khai tại tuyến tỉnh đã góp phần giảm áp lực chuyển tuyến và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho người dân trong tỉnh.

Lĩnh vực môi trường được quan tâm gắn với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng “từ nâu sang xanh”. Quảng Ninh đã triển khai một số nhiệm vụ ứng dụng công nghệ trong quan trắc, giám sát môi trường, xử lý chất thải và tái sử dụng phế thải công nghiệp. Việc nghiên cứu, sản xuất gạch không nung từ xỉ thải, xít thải tại Đông Triều, Cẩm Phả là hướng xử lý phù hợp với đặc điểm địa phương, gắn với yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển “từ nâu sang xanh”.

Cùng với triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, tiềm lực khoa học, công nghệ từng bước được củng cố. Số lượng tổ chức khoa học, công nghệ trên địa bàn tỉnh tăng từ 21 tổ chức (năm 2020) lên 37 tổ chức (năm 2023) và duy trì ở mức 36 tổ chức vào năm 2025. Quảng Ninh đã hình thành 2 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Đông Triều và Đầm Hà; Hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, viễn thông và cơ sở dữ liệu dùng chung được quan tâm đầu tư, nhất là tại các khu vực đô thị và trung tâm hành chính của tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2024).

Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo bước đầu được hình thành. Số doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tăng từ 404 doanh nghiệp năm 2022 lên 429 doanh nghiệp năm 2024. Trung tâm Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Trường Đại học Hạ Long được thành lập, góp phần hỗ trợ kết nối hoạt động nghiên cứu, đào tạo và khởi nghiệp (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2024). Mặc dù vậy, hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ, số doanh nghiệp có khả năng phát triển công nghệ hoặc sản phẩm mới còn chưa nhiều.

Tỉnh cũng triển khai một số chương trình trọng điểm về khoa học và công nghệ, như: Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030; Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2021-2030. Qua triển khai các chương trình này, nhiều sản phẩm OCOP, nhãn hiệu địa phương được hỗ trợ đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ; một số doanh nghiệp được hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, công cụ cải tiến năng suất và chương trình bảo đảm đo lường (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2025).
3. Những vấn đề đặt ra đối với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Quảng Ninh

Mặc dù đã đạt được một số kết quả, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Quảng Ninh vẫn còn không ít khó khăn, nhất là trong tổ chức thực hiện, huy động nguồn lực và gắn kết với yêu cầu phát triển thực tiễn của địa phương.

Thứ nhất, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự hình thành được các chương trình nghiên cứu có tính liên ngành, dài hạn và đóng vai trò dẫn dắt đối với chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Phần lớn các nhiệm vụ khoa học, công nghệ vẫn được triển khai theo từng lĩnh vực, từng năm và chủ yếu theo cơ chế đề xuất từ cơ sở. Vì vậy, nhiều nhiệm vụ còn phân tán, thiếu tính tiếp nối; một số kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu chậm được ứng dụng vào thực tiễn quản lý và sản xuất.

Thứ hai, mối liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và cơ sở đào tạo còn chưa chặt chẽ. Vai trò của doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, đổi mới công nghệ còn khá mờ nhạt. Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về năng lực nghiên cứu và phát triển, thiếu nguồn lực để đầu tư cho đổi mới công nghệ. Trong khi đó, cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ phía doanh nghiệp còn ít; việc hình thành các nhiệm vụ khoa học, công nghệ xuất phát từ nhu cầu thực tiễn sản xuất – kinh doanh chưa nhiều. Không ít nhiệm vụ nghiên cứu vẫn chủ yếu do cơ quan quản lý hoặc cơ sở nghiên cứu đề xuất.

Thứ ba, cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn gặp khó khăn. Tỷ lệ chi ngân sách cho khoa học, công nghệ của tỉnh còn thấp so với mục tiêu đề ra; trong khi nguồn vốn từ khu vực tư nhân cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số còn hạn chế. Một số cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã được triển khai nhưng hiệu quả lan tỏa còn hạn chế; số doanh nghiệp thực sự đầu tư cho nghiên cứu và phát triển chưa nhiều.

Thứ tư, nguồn nhân lực phục vụ nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo còn thiếu cả về số lượng và chất lượng. Đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học, công nghệ ở nhiều sở, ngành, địa phương chủ yếu kiêm nhiệm; thiếu cán bộ có chuyên môn sâu về công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Việc thu hút chuyên gia, nhà khoa học có trình độ cao về làm việc lâu dài tại địa phương còn gặp khó khăn; chưa hình thành được các nhóm nghiên cứu mạnh hoặc trung tâm nghiên cứu có khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo.

Ngoài khó khăn về nguồn lực, việc triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ ở một số lĩnh vực còn chịu tác động bởi thủ tục tài chính, thanh quyết toán và cơ chế quản lý nhiệm vụ nghiên cứu. Trong một số trường hợp, thời gian triển khai kéo dài làm giảm tính kịp thời của kết quả nghiên cứu đối với yêu cầu thực tiễn.

Thứ năm, hạ tầng phục vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng nhìn chung còn thiếu đồng bộ; một số thiết chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp vẫn còn thiếu. Hệ thống dữ liệu, hạ tầng số dùng chung còn thiếu đồng bộ; chưa hình thành được các trung tâm dữ liệu lớn phục vụ quản trị, điều hành và phát triển kinh tế số. Một số khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao triển khai còn chậm; các thiết chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

4. Một số giải pháp

Trong giai đoạn tới, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần gắn trực tiếp hơn với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Quảng Ninh, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và cạnh tranh giữa các địa phương ngày càng rõ hơn. Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần gắn chặt hơn với yêu cầu phát triển thực tiễn của địa phương, nhất là các lĩnh vực có lợi thế, như: kinh tế biển, du lịch, logistics, công nghiệp chế biến, chế tạo, chuyển đổi số và bảo vệ môi trường.

Một là, cần tiếp tục đổi mới tư duy quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng chuyển mạnh từ quản lý theo từng nhiệm vụ riêng lẻ sang quản lý theo chương trình, gắn với các mục tiêu phát triển trung và dài hạn. Thực tế cho thấy, nếu tiếp tục triển khai theo cách dàn trải, thiếu trọng tâm thì khó hình thành được các nhiệm vụ có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Thay vì triển khai dàn trải theo từng nhiệm vụ nhỏ, việc xây dựng các chương trình khoa học, công nghệ cần tập trung hơn vào một số vấn đề lớn của địa phương, như: phát triển kinh tế biển bền vững, chuyển đổi xanh khu vực công nghiệp khai khoáng, logistics, chuyển đổi số và phát triển đô thị thông minh.

Hai là, liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu vẫn chưa chặt chẽ. Vì vậy, cần có cơ chế cụ thể hơn để doanh nghiệp tham gia từ khâu đề xuất, đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu đến ứng dụng kết quả vào sản xuất – kinh doanh.

Đối với các lĩnh vực có lợi thế, cần tập trung nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển kinh tế biển, du lịch và logistics. Trong lĩnh vực kinh tế biển, logistics và đô thị ven biển, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý cảng biển, vận tải, chuỗi cung ứng và điều hành đô thị; đồng thời, tăng cường nghiên cứu, ứng dụng công nghệ phục vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản, phát triển du lịch bền vững.

Trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản, cần tiếp tục thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị. Tập trung phát triển một số mô hình nuôi biển công nghệ cao, quản lý thủy sản trên nền tảng số, truy xuất nguồn gốc điện tử và ứng dụng công nghệ trong chế biến, bảo quản sản phẩm nông nghiệp, thủy sản có lợi thế của tỉnh. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp và thủy sản cần phù hợp với điều kiện sản xuất và khả năng tiếp cận công nghệ của người dân, doanh nghiệp địa phương; tránh đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả.

Đối với khu vực công nghiệp và môi trường, cần ưu tiên nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ xử lý và tái sử dụng chất thải nhằm phục vụ chuyển đổi mô hình phát triển “từ nâu sang xanh”. Cùng với đó, cần tăng cường ứng dụng công nghệ trong quan trắc, giám sát môi trường và quản lý tài nguyên, nhất là tại các khu vực khai thác khoáng sản, công nghiệp và ven biển.

Ba là, cần quan tâm phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chuyển đổi số, công nghệ cao và quản trị hiện đại. Bên cạnh đào tạo tại chỗ, Quảng Ninh cần có chính sách phù hợp để thu hút chuyên gia, nhà khoa học và lao động kỹ thuật chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ số, công nghệ môi trường và quản trị hiện đại.

Bốn là, cần tiếp tục đầu tư hạ tầng dữ liệu, hạ tầng số dùng chung và các thiết chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp. Trong điều kiện nguồn lực ngân sách còn hạn chế, cần có cơ chế phù hợp để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư cho đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và nghiên cứu ứng dụng.

Năm là, việc phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần được triển khai đồng bộ với quá trình cải cách hành chính, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản trị địa phương. Nếu được triển khai đồng bộ, các giải pháp trên sẽ tạo thêm điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và hỗ trợ quá trình chuyển đổi mô hình phát triển của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn tới.

5. Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng tác động trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của Quảng Ninh. Những năm qua, Quảng Ninh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và dành nguồn lực cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên một số lĩnh vực, như: chuyển đổi số, nông nghiệp công nghệ cao, bảo vệ môi trường, phát triển sản phẩm OCOP và ứng dụng kỹ thuật cao trong y tế. Tuy nhiên, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn còn một số hạn chế như thiếu tính liên kết giữa nghiên cứu với ứng dụng thực tiễn; cơ chế huy động nguồn lực xã hội còn khó khăn; năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp còn hạn chế; hạ tầng và nhân lực phục vụ nghiên cứu khoa học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Từ thực tế đó cho thấy, việc đổi mới quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần được đặt trong tổng thể yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển của địa phương. Trong đó, cần tập trung hơn vào các chương trình có tính liên ngành, gắn với các lĩnh vực có lợi thế như kinh tế biển, logistics, công nghiệp xanh, chuyển đổi số và phát triển đô thị thông minh. Trong giai đoạn tới, việc nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ là một trong những điều kiện quan trọng để Quảng Ninh duy trì tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và thực hiện các mục tiêu phát triển trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2025). Báo cáo sơ kết kết quả thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 28/4/2023 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến năm 2030.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh (2025). Báo cáo kết quả thực hiện chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014 – 2024.
Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2024). Báo cáo kết quả thực hiện Quy hoạch khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh.
* Bài viết là một phần của đề tài: Nghiên cứu xây dựng định hướng ưu tiên, xác định nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030 do TS. Hà Huy Ngọc là chủ nhiệm, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới tổ chức chủ trì.