Promoting the roles of stakeholders to enhance linkages in marine economic development in Vietnam
ThS. Nguyễn Thành Long
TS. Đỗ Văn Trịnh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email liên hệ: nguyenthanhlongsqct@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Quá trình tổ chức thực hiện liên kết trong phát triển kinh tế biển ở Việt Nam đòi hỏi phải huy động và phát huy hiệu quả vai trò của tất cả các chủ thể trong xã hội. Mỗi chủ thể đảm nhận những chức năng, thực hiện nhiệm vụ, có quyền hạn và tạo ra những tác động nhất định song không biệt lập, tách rời mà luôn hỗ trợ lẫn nhau trong việc hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, giám sát và bảo đảm hiệu quả liên kết. Việc phát huy vai trò của các chủ thể trong phát triển kinh tế biển ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, những kết quả này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển. Điều này đang đặt ra yêu cầu cần phải có sự nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện nhằm làm rõ thực trạng, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm phát huy vai trò của các chủ thể trong tăng cường liên kết để phát triển kinh tế biển ở Việt Nam thời gian tới.
Từ khóa: Kinh tế biển; liên kết trong phát triển kinh tế biển; chủ thể; quản trị biển; Việt Nam.
Abstract: The process of organizing and implementing linkages in the development of Vietnam’s marine economy requires the mobilization of all stakeholders in society and the effective promotion of their respective roles. Each stakeholder performs specific functions and tasks, exercises particular powers, and generates certain impacts. However, these stakeholders do not operate in isolation or independently; rather, they support one another in policy formulation, implementation, monitoring, and ensuring the effectiveness of linkages. The promotion of the roles of various stakeholders in the development of Vietnam’s marine economy in recent years has yielded certain results. However, these outcomes remain incommensurate with the country’s potential and development requirements. This situation calls for systematic and comprehensive research to clarify the current situation and its underlying causes, as well as to propose appropriate solutions to promote the roles of relevant stakeholders in strengthening linkages for marine economic development in the coming period.
Keywords: Marine economy; linkages in marine economic development; stakeholders; marine governance; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, kinh tế biển đã và đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững của nhiều quốc gia. Đối với Việt Nam, với lợi thế là quốc gia ven biển, việc phát triển kinh tế biển không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh và khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước đã xác định kinh tế biển là một trong những trụ cột chiến lược trong phát triển đất nước, đồng thời ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế biển. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và yêu cầu phát triển bền vững, việc phát triển kinh tế biển không thể dựa vào nỗ lực riêng lẻ của từng chủ thể mà đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia, từ Nhà nước, doanh nghiệp, người dân đến các tổ chức khoa học – công nghệ, đào tạo và tài chính. Chính vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các chủ thể nhằm tăng cường liên kết trong phát triển kinh tế biển đang trở thành một yêu cầu mang tính cấp thiết.
2. Thực trạng phát huy vai trò của các chủ thể nhằm tăng cường liên kết trong phát triển kinh tế biển ở Việt Nam thời gian qua
Thứ nhất, vai trò định hướng và thể chế hóa của Đảng, Nhà nước ngày càng rõ nét.
Thời gian qua, Trung ương cũng như các cấp ủy đảng và chính quyền đã từng bước phát huy vai trò định hướng chiến lược trong phát triển kinh tế biển gắn với liên kết. Hệ thống văn bản như Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cùng với các quy hoạch biển quốc gia và quy hoạch tỉnh đã tạo nền tảng thể chế quan trọng, định hình rõ các trục phát triển và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể. Ở cấp địa phương, vai trò này được cụ thể hóa bằng nhiều nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động mang tính chuyên đề.
Tại Quảng Ninh, Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 23/4/2019 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã xác lập định hướng phát triển hệ thống cảng theo chuỗi logistics.
Ở Hải Phòng, Nghị quyết số 36-NQ/TW được cụ thể hóa bằng một số nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động, như: Chương trình hành động số 72-CTr/TU ngày 27/3/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy; Quyết định số 1393/QĐ-UBND ngày 02/6/2020 của UBND thành phố Hải Phòng về việc ban hành Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm triển khai Chương trình hành động số 72-CTr/TU ngày 27/3/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy; Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 28/01/2022 của UBND thành phố Hải Phòng về đổi mới và tăng cường tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Các chỉ thị, nghị quyết, chương trình hành động đều nhấn mạnh đến yếu tố liên kết trong phát triển kinh tế biển như liên kết vùng, liên kết chuỗi giá trị, liên kết công – tư, liên kết quốc tế.
Tại Khánh Hòa, bên cạnh Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 28/01/2022, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã cụ thể hóa mục tiêu xây dựng trung tâm kinh tế biển gắn với liên kết ngành và thu hút đầu tư.
Tại Thanh Hóa, Nghị quyết số 58-NQ/TW ngày 05/8/2020 được cụ thể hóa bằng Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và các đề án, kế hoạch phát triển, như: Kế hoạch số 222/KH-UBND ngày 11/10/2021 của UBND tỉnh Thanh Hóa thực hiện chương trình phát triển khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2021 – 2025. Theo đó, khu kinh tế Nghi Sơn được xác định phát triển theo hướng liên kết công nghiệp – cảng biển – năng lượng.
Nhờ quá trình thể chế hóa này, các địa phương đã từng bước chuyển từ phát triển đơn ngành sang phát triển tích hợp, hình thành các chuỗi liên kết giữa khai thác – chế biến – dịch vụ – logistics, qua đó nâng cao hiệu quả khai thác tiềm năng biển và tăng cường sự phối hợp giữa các chủ thể trong phát triển kinh tế biển. Gần đây nhất, ngày 28/7/2026, Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) đã ban hành Nghị quyết số 20 – NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết đã phát triển tư duy từ “quản lý tổng hợp biển” theo Nghị quyết số 36-NQ/TW lên “quản trị biển hiện đại”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu điều phối liên ngành, liên vùng và huy động sự tham gia của nhiều chủ thể. Điều này tạo cơ sở chính trị và định hướng chiến lược mới cho việc tăng cường liên kết trong phát triển kinh tế biển, bởi liên kết không còn chỉ là giải pháp phát triển kinh tế mà trở thành một yêu cầu của mô hình quản trị biển hiện đại.
Thứ hai, doanh nghiệp từng bước trở thành lực lượng trung tâm trong liên kết.
Trong lĩnh vực kinh tế biển, sự tham gia ngày càng sâu của doanh nghiệp vào các chuỗi logistics biển, du lịch biển và chế biến thủy sản đã góp phần quan trọng nâng cao giá trị gia tăng. Trước hết, trong lĩnh vực logistics biển, theo Cục Hàng hải Việt Nam, năm 2023 hệ thống cảng biển cả nước thông qua trên 761 triệu tấn hàng hóa, trong đó 100% hoạt động khai thác cảng, bốc xếp và dịch vụ logistics do doanh nghiệp thực hiện, cho thấy doanh nghiệp giữ vai trò chi phối toàn bộ chuỗi dịch vụ hậu cần biển – yếu tố then chốt tạo giá trị gia tăng cho vận tải biển (Cục Hàng hải Việt Nam, 2024). Trong lĩnh vực du lịch biển, doanh nghiệp cũng là chủ thể chính tổ chức và cung ứng dịch vụ. Theo Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, đến hết năm 2023, cả nước có khoảng 38.000 cơ sở lưu trú du lịch với hơn 780.000 buồng, trong đó khu vực doanh nghiệp và tư nhân chiếm trên 90% số cơ sở và số phòng lưu trú, đồng thời 100% doanh nghiệp lữ hành quốc tế và nội địa được cấp phép là lực lượng trực tiếp xây dựng và vận hành các chương trình du lịch (Trung tâm Thông tin du lịch/Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, 2024, tr.17). Điều này cho thấy, doanh nghiệp đã liên kết các dịch vụ vận tải, lưu trú, ăn uống và giải trí thành chuỗi sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, qua đó gia tăng giá trị dịch vụ du lịch biển. Đặc biệt, trong lĩnh vực chế biến thủy sản, vai trò của doanh nghiệp trong nâng cao giá trị gia tăng được thể hiện rõ nét nhất.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2023, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 9 tỷ USD, trong đó trên 95% giá trị xuất khẩu do khu vực doanh nghiệp thực hiện (VASEP, 2024, tr.11). Đồng thời, tính đến tháng 4/2026, cả nước có 861 cơ sở sản xuất – kinh doanh thủy sản đủ điều kiện tham gia Chương trình chứng nhận thủy sản xuất khẩu vào các thị trường (Cục Chất lượng, chế biến và phát triển thị trường/Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Các doanh nghiệp này trực tiếp liên kết với các khâu khai thác và nuôi trồng để hình thành chuỗi từ nguyên liệu đến chế biến sâu và xuất khẩu. Nhờ đó, tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu trong xuất khẩu thủy sản ngày càng tăng, góp phần nâng cao đáng kể giá trị gia tăng của ngành.
Thứ ba, người dân ven biển từng bước tham gia vào các mô hình liên kết.
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế biển, người dân ven biển ở các địa phương đã từng bước tham gia vào các mô hình liên kết sản xuất – kinh doanh, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên và cải thiện sinh kế. Sự tham gia này thể hiện rõ nét nhất trong lĩnh vực thủy sản – ngành gắn trực tiếp với đời sống của cộng đồng cư dân ven biển. Năm 2023, cả nước có 86 nghiệp đoàn nghề cá cơ sở tại 16/28 tỉnh, thành phố với 17.684 đoàn viên và 6.235 tàu có chiều dài từ 15m trở lên (chiếm 20,5% trên tổng số tàu xa bờ). Ngoài ra, cả nước có 4.227 tổ đội sản xuất trên biển đang hoạt động với sự tham gia của 29.588 tàu cá, 179.601 lao động trên các vùng biển. Các mô hình này thường gồm từ 5 – 10 tàu làm cùng nghề, cùng khai thác trên một ngư trường (Cục Thủy sản và Kiểm ngư, 2024). Thông qua các tổ đội này, ngư dân đã thiết lập được các mối liên kết tương đối chặt chẽ trong quá trình sản xuất trên biển như hỗ trợ nhau khi gặp thiên tai, tai nạn, rủi ro trên biển, hỗ trợ về thông tin ngư trường, vận chuyển sản phẩm khai thác được vào bờ hoặc vận chuyển nhiên liệu nước đá cho tàu còn khai thác ngoài biển…, qua đó, nâng cao hiệu quả khai thác và tăng cường khả năng phối hợp trong hoạt động nghề cá.
Bên cạnh đó, trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, người dân ven biển cũng ngày càng tham gia vào các hình thức liên kết thông qua tổ hợp tác, hợp tác xã và liên kết với doanh nghiệp. Theo số liệu thống kê, tại thời điểm ngày 31/12/2023, khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tập trung hợp tác xã nhiều nhất với 8.154 hợp tác xã đang hoạt động có kết quả sản xuất, kinh doanh (chiếm 49,9% tổng số hợp tác xã), thu hút 67,6 nghìn lao động (chiếm 40,3% tổng lao động của toàn khu vực hợp tác xã). Các mô hình này đã góp phần tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, tạo điều kiện tăng cường liên kết giữa các hộ nuôi trồng, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và ứng dụng khoa học – công nghệ. Trong lĩnh vực du lịch biển, sự tham gia của người dân cũng ngày càng rõ nét thông qua các mô hình du lịch cộng đồng. Cả nước hiện có trên 300 làng du lịch cộng đồng, trong đó nhiều mô hình được triển khai tại các địa phương ven biển, thu hút đông đảo người dân tham gia cung cấp dịch vụ lưu trú, ẩm thực và trải nghiệm văn hóa bản địa (Cục Thống kê, 2025, tr.26-28). Thông qua các mô hình này, người dân đã trực tiếp tham gia vào chuỗi giá trị du lịch biển, hình thành các liên kết giữa cộng đồng địa phương với doanh nghiệp du lịch và thị trường.
Như vậy, có thể thấy, người dân ven biển đã từng bước trở thành một chủ thể quan trọng và ngày càng phát huy được vai trò của mình trong các mô hình liên kết kinh tế biển, đặc biệt trong các lĩnh vực thủy sản và du lịch, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế biển tại các địa phương.
Thứ tư, các tổ chức khoa học – công nghệ, đào tạo và tài chính ngày càng phát huy tốt vai trò hỗ trợ trong liên kết kinh tế biển.
Trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, hoạt động nghiên cứu và chuyển giao phục vụ kinh tế biển được triển khai tương đối bài bản thông qua Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia KC.09/16-20 về “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển”. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng vào thực tiễn như công nghệ nuôi biển công nghiệp, công nghệ dự báo ngư trường, công nghệ bảo quản sau thu hoạch và quản lý tài nguyên – môi trường biển. Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có quyết định phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2030 “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển”, mã số: KC.09/21-30, trong đó xác định: về ứng dụng vào thực tiễn, ít nhất có 70% nhiệm vụ có sản phẩm khoa học được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn khi chương trình kết thúc, khoảng 30% các kết quả nhiệm vụ được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện; về trình độ khoa học, 100% số nhiệm vụ có kết quả được công bố trên tạp chí khoa học thuộc Danh mục tạp chí khoa học được tính điểm của Hội đồng Giáo sư ngành, liên 4 ngành được phê duyệt theo Quyết định của Hội đồng giáo sư nhà nước, ít nhất 50% nhiệm vụ có bài báo quốc tế đăng trên các tạp chí thuộc danh mục Web of Science/Scopus; về sở hữu trí tuệ, ít nhất 15% các nhiệm vụ có giải pháp hữu ích được công nhận; về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, 100% số nhiệm vụ góp phần hỗ trợ đào tạo sau đại học (tiến sĩ, thạc sĩ); về cơ cấu nhiệm vụ, số lượng các dự án sản xuất thử nghiệm chiếm khoảng 10% nhiệm vụ của chương trình, 30% số nhiệm vụ có sự tham gia của doanh nghiệp (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2022).
Trong lĩnh vực thủy sản, theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, cả nước có 3227 ha nuôi trồng thủy sản với 681 cơ sở đạt VietGAP. Đối với riêng khu vực hộ, 0,7% số hộ nuôi trồng thủy sản có ứng dụng công nghệ như công nghệ Biofloc, công nghệ nuôi thâm canh, công nghệ tuần hoàn, khép kín, công nghệ kết nối vạn vật, cảm biến,… Điều đó đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm (Ban Chỉ đạo tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp Trung ương, 2026, tr. 52-53).
Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo đã đóng vai trò quan trọng trong cung ứng nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế biển. Riêng lĩnh vực kinh tế biển, Quyết định số 452/QĐ-TTg ngày 27/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định: “Đầu tư xây dựng Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam là trường trọng điểm quốc gia, đạt trình độ ngang bằng các nước phát triển trong khu vực về các ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển”. Đặc biệt, ngày 05/9/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1901/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án xây dựng Trường Ðại học Hàng hải Việt Nam là trường trọng điểm quốc gia về đào tạo, nghiên cứu phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó nêu rõ: “Phát triển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam thành trung tâm đào tạo chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, hợp tác chuyển giao – ứng dụng công nghệ, sản xuất thử nghiệm, trong đó lĩnh vực giao thông vận tải và kinh tế biển đạt trình độ khu vực và thế giới; là một trong những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thuộc nhóm hàng đầu châu Á trong lĩnh vực hàng hải, kinh tế biển và đại dương”. Theo báo cáo của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, tính đến nay, Nhà trường đã đào tạo được hàng vạn cán bộ có trình độ đại học và sau đại học, hơn 45.000 sĩ quan hàng hải và thuyền viên phục vụ trực tiếp cho nền kinh tế biển của đất nước. Nhà trường hiện đang đào tạo 55 chương trình hệ đại học, 19 chương trình cao học, 9 chương trình nghiên cứu sinh liên quan trực tiếp đến kinh tế biển với hơn 23.000 sinh viên; 883 cán bộ, giảng viên, trong đó có hơn 51 giáo sư, phó giáo sư; 240 tiến sĩ, tiến sĩ khoa học; 505 thạc sĩ, cùng hàng trăm thuyền trưởng, máy trưởng hạng nhất và nhiều sĩ quan quản lý, vận hành, thuyền viên lành nghề (Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, 2026). Nguồn nhân lực này góp phần tăng cường liên kết giữa đào tạo – doanh nghiệp – thị trường trong các ngành kinh tế biển.
Trong lĩnh vực tài chính, các tổ chức tín dụng đã từng bước mở rộng quy mô vốn phục vụ phát triển kinh tế biển (Hà Thu Giang, 2026, tr.30-34). Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến cuối năm 2025, đã có trên 90 tổ chức tín dụng và gần 1.100 quỹ tín dụng nhân dân tham gia cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với dư nợ đạt trên 4,2 triệu tỉ đồng, tăng khoảng 14,5% so với cuối năm 2024, chiếm gần 23% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, trong đó có phần đáng kể dành cho lĩnh vực thủy sản (trên 285 nghìn tỷ đồng). Đặc biệt, chương trình tín dụng theo Nghị định số 17/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản đã tạo điều kiện hỗ trợ tín dụng, góp phần nâng cao năng lực khai thác xa bờ và thúc đẩy hình thành các tổ đội liên kết trên biển. Nghị định xác định: a) Đối với tàu khai thác, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản đóng mới vỏ thép (bao gồm cả các trang thiết bị mới), cụ thể: tàu cá có tổng công suất máy chính từ 800CV đến dưới 1.000CV, chủ tàu được hỗ trợ 35% giá trị đầu tư đóng mới nhưng không quá 6,7 tỷ đồng/tàu; tàu cá có tổng công suất máy chính từ 1.000CV trở lên, chủ tàu được hỗ trợ 35% giá trị đầu tư đóng mới nhưng không quá 8 tỷ đồng/tàu. b) Đối với tàu khai thác, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản đóng mới vỏ composite có công suất từ 800CV trở lên (bao gồm cả các trang thiết bị mới), chủ tàu được hỗ trợ 35% giá trị đầu tư đóng mới nhưng không quá 6,7 tỷ đồng/tàu. Nghị định cũng xác định các điều kiện được hỗ trợ tín dụng, như: chủ tàu là thành viên của tổ đội sản xuất, nghiệp đoàn nghề cá, hợp tác xã nghề cá được UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt; c) Tàu cá đóng mới phải là tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ vỏ thép, vỏ composite;… (Nghị định số 17/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018).
3. Những hạn chế, bất cập
Một là, vai trò định hướng và thể chế hóa của Nhà nước còn chưa thật sự rõ nét trong thúc đẩy liên kết.
Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến phát triển kinh tế biển, song việc cụ thể hóa và tổ chức thực thi ở cấp tỉnh, thành phố vẫn còn những hạn chế nhất định. Một số cơ chế, chính sách chưa thực sự rõ ràng về trách nhiệm và quyền lợi của các chủ thể trong liên kết, dẫn đến khó khăn trong quá trình triển khai. Bên cạnh đó, vai trò điều phối của chính quyền địa phương trong kết nối các chủ thể còn chưa hiệu quả, thể hiện qua tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm. Hiện tượng trùng lặp trong đầu tư một số lĩnh vực kinh tế biển vẫn diễn ra ở nhiều địa phương, phản ánh hạn chế trong vai trò định hướng và điều phối của Nhà nước. Điều này làm giảm hiệu quả phát huy vai trò của các chủ thể trong liên kết.
Hai là, doanh nghiệp chưa phát huy đầy đủ vai trò lực lượng trung tâm trong liên kết.
Doanh nghiệp được xác định là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức sản xuất và dẫn dắt các mối liên kết, tuy nhiên trên thực tế, vai trò này chưa được thể hiện rõ nét. Phần lớn doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh tế biển là doanh nghiệp nhỏ và vừa, với quy mô vốn, trình độ công nghệ và năng lực quản trị còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Nhiều doanh nghiệp chưa đủ năng lực đóng vai trò “đầu tàu”, chưa tạo được sự lan tỏa và kết nối hiệu quả với các chủ thể khác. Hệ quả là các mối liên kết còn rời rạc, thiếu tính bền vững và chưa hình thành được các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh cao.
Ba là, người dân ven biển tham gia liên kết còn hạn chế và thiếu tính ổn định.
Người dân ven biển là lực lượng trực tiếp tham gia vào các hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản, song mức độ tham gia vào các mô hình liên kết còn hạn chế. Hoạt động sản xuất vẫn chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, phân tán, thiếu sự gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp và thị trường. Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong khu vực nông, lâm, thủy sản còn thấp, cho thấy hạn chế về năng lực tham gia các mô hình liên kết hiện đại. Bên cạnh đó, sự thiếu ổn định trong quan hệ hợp tác giữa người dân với doanh nghiệp cũng làm gia tăng rủi ro và giảm hiệu quả liên kết. Điều này khiến vai trò của người dân trong hệ thống liên kết chưa được phát huy đầy đủ.
Bốn là, các chủ thể hỗ trợ (khoa học – công nghệ, đào tạo, tài chính) tham gia vào quá trình liên kết còn chưa tương xứng với yêu cầu.
Các tổ chức khoa học – công nghệ, cơ sở đào tạo và hệ thống tài chính có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các chủ thể khác nâng cao năng lực và tham gia hiệu quả vào các mối liên kết. Tuy nhiên, trên thực tế, mức độ tham gia của các chủ thể này còn chưa tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế biển trong bối cảnh mới. Việc chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ đào tạo và hỗ trợ tài chính còn hạn chế cả về quy mô và chất lượng. Mặc dù kinh tế số của Việt Nam đang dần chiếm tỷ trọng nhất định trong GDP, song mức độ lan tỏa công nghệ vào các ngành kinh tế biển còn thấp. Đồng thời, nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu hụt, làm giảm khả năng hỗ trợ và kết nối giữa các chủ thể trong quá trình tham gia liên kết.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực thực thi nhằm phát huy vai trò định hướng, điều phối của Nhà nước.
Hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực thực thi là giải pháp nền tảng nhằm phát huy vai trò kiến tạo, định hướng và điều phối của Nhà nước trong liên kết phát triển kinh tế biển. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách theo hướng đồng bộ, thống nhất, xác định rõ vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể; đồng thời, xây dựng cơ chế phân chia lợi ích và rủi ro hợp lý để khuyến khích các bên tham gia liên kết. Bên cạnh đó, cần xây dựng và vận hành hiệu quả các thiết chế điều phối với chức năng kết nối, điều hòa và giám sát hoạt động liên kết, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và địa phương.
Tiếp tục tăng cường giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực thi chính sách trên cơ sở các tiêu chí cụ thể, nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý nhằm kịp thời điều chỉnh những bất cập trong quá trình triển khai. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, minh bạch hóa thông tin và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể chủ động tham gia và nâng cao hiệu quả liên kết trong phát triển kinh tế biển.
Thứ hai, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của doanh nghiệp nhằm củng cố vai trò trung tâm trong liên kết.
Doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong liên kết phát triển kinh tế biển, vì vậy, cần tạo chuyển biến cả về nhận thức, năng lực và trách nhiệm trong quá trình tham gia liên kết. Trước hết, doanh nghiệp cần nhận thức đầy đủ lợi ích của hợp tác, coi liên kết là giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và phát triển bền vững thay vì chỉ hướng đến lợi ích ngắn hạn. Trên cơ sở đó, cần khuyến khích đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh theo hướng tăng cường hợp tác, nâng cao năng lực quản trị, chủ động tiếp cận thông tin thị trường và các tiêu chuẩn kỹ thuật để mở rộng quan hệ liên kết. Cùng với đó, cần có cơ chế hỗ trợ hình thành các doanh nghiệp đầu tàu trong những ngành kinh tế biển chủ lực nhằm phát huy vai trò dẫn dắt, kết nối doanh nghiệp nhỏ và người dân tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp cũng cần thực hiện tốt trách nhiệm xã hội thông qua hợp tác minh bạch, chia sẻ lợi ích hài hòa, hỗ trợ chuyển giao công nghệ và phối hợp với các tổ chức khoa học và công nghệ, qua đó củng cố niềm tin và nâng cao hiệu quả liên kết trong phát triển kinh tế biển.
Thứ ba, nâng cao năng lực của người dân ven biển nhằm tăng cường khả năng tham gia vào các mối liên kết,
Người dân ven biển là chủ thể trực tiếp tham gia các hoạt động kinh tế biển, vì vậy nâng cao năng lực của lực lượng này là điều kiện quan trọng để tăng cường hiệu quả liên kết. Trọng tâm trước mắt là đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về kỹ thuật sản xuất, quản lý, kinh doanh và nâng cao nhận thức về kinh tế thị trường, giúp người dân đáp ứng yêu cầu của các mô hình liên kết hiện đại. Song song với đó, cần khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp như hợp tác xã, tổ hợp tác nhằm nâng cao năng lực hợp tác, khả năng đại diện và sức cạnh tranh của người dân trên thị trường.
Một yêu cầu quan trọng khác là tạo điều kiện để người dân tiếp cận thuận lợi các nguồn lực thiết yếu, bao gồm: vốn, khoa học và công nghệ, thông tin thị trường và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, thông qua sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan. Đồng thời, cần thúc đẩy các mô hình hợp tác ổn định giữa doanh nghiệp và người dân trên cơ sở hài hòa lợi ích, minh bạch trách nhiệm và chia sẻ rủi ro, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập và củng cố vai trò của người dân trong liên kết phát triển kinh tế biển.
Thứ tư, tăng cường nguồn lực và điều kiện bảo đảm để các chủ thể hỗ trợ phát huy vai trò.
Việc phát huy vai trò của các chủ thể hỗ trợ phụ thuộc trước hết vào khả năng bảo đảm các nguồn lực cần thiết cho quá trình liên kết phát triển kinh tế biển. Vì vậy, cần ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ trong các ngành kinh tế biển, nhất là nuôi trồng, khai thác, chế biến và logistics; đồng thời, nâng cao vai trò của các tổ chức khoa học và công nghệ trong hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Cùng với đó, cần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của kinh tế biển thông qua đổi mới nội dung đào tạo, tăng cường gắn kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động. Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng là hoàn thiện hệ thống tài chính và các dịch vụ hỗ trợ theo hướng mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng, bảo hiểm, tư vấn công nghệ, thông tin thị trường và kết nối cung – cầu. Việc bảo đảm đồng bộ các nguồn lực này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể hỗ trợ thực hiện tốt chức năng kết nối, nâng cao hiệu quả liên kết và thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững.
5. Kết luận
Tăng cường liên kết là yêu cầu tất yếu để phát triển kinh tế biển bền vững ở Việt Nam, trong đó việc phát huy vai trò của các chủ thể giữ ý nghĩa quyết định. Từ phân tích thực trạng cho thấy, mặc dù vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp, người dân ven biển và các chủ thể hỗ trợ đã từng bước được khẳng định, quá trình liên kết vẫn còn những hạn chế về cơ chế phối hợp, năng lực tham gia và điều kiện bảo đảm. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm, bao gồm: hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực điều phối của Nhà nước; phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp; nâng cao năng lực của người dân ven biển và tăng cường nguồn lực cho các chủ thể hỗ trợ. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả liên kết, tạo động lực thúc đẩy kinh tế biển phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Ban Chỉ đạo tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp Trung ương (2026). Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025. Hà Nội.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2022). Quyết định số 1034/QĐ-BKHCN ngày 20/6/2022 phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2030 “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển”, mã số KC.09/21-30.
Chính phủ (2018). Nghị định số 17/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản.
Cục Chất lượng, chế biến và phát triển thị trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Danh sách doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia Chương trình chứng nhận thủy sản xuất khẩu vào các thị trường. Hà Nội.
Cục Hàng hải Việt Nam (2024). Thống kê khối lượng hàng hóa qua cảng biển năm 2023.Cục Thống kê/Bộ Tài chính (2025). Sách trắng hợp tác xã Việt Nam năm 2025. Nxb Thống kê, tr.26 – 28.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2024). Báo cáo tổng kết ngành thủy sản 2023.
Hà Thu Giang (2026). Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Tạp chí Ngân hàng, số 3/2026.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 452/QĐ-TTg ngày 27/02/2025 phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1901/QĐ-TTg ngày 05/9/2025 về việc phê duyệt Đề án xây dựng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam là trường trọng điểm quốc gia về đào tạo, nghiên cứu phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Trung tâm Thông tin du lịch/Cục Du lịch quốc gia Việt Nam (2024). Thông tin du lịch tháng 12 năm 2023.Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (2026). Thông điệp của Hiệu trưởng.VASEP (2024). Báo cáo xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2023.



