Promoting the people’s political strength in countering hostile forces’ attempts to “soften” the public’s political consciousness
ThS. Nguyễn Thúy Duy
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Email: thuyduyng@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – “Mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng là phương thức chống phá tinh vi của các thế lực thù địch, tác động có chủ đích, lâu dài vào nhận thức, niềm tin, tình cảm và thái độ chính trị của Nhân dân nhằm làm suy giảm đồng thuận xã hội, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân và làm suy yếu “thế trận lòng dân”. Trên cơ sở nhận diện bản chất, phương thức và mục tiêu của âm mưu này, bài viết phân tích vai trò sức mạnh chính trị của Nhân dân trong củng cố niềm tin chính trị, phát huy quyền làm chủ và nâng cao sức đề kháng tư tưởng của xã hội; từ đó đề xuất một số giải pháp phát huy sức mạnh chính trị của Nhân dân, góp phần làm thất bại âm mưu “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Từ khóa: Sức mạnh chính trị của nhân dân; ý thức chính trị; “mềm hóa” ý thức chính trị; thế trận lòng dân; nền tảng tư tưởng của Đảng.
Abstract: “Softening” the political consciousness of the masses is a sophisticated subversive tactic employed by hostile forces, designed to exert a deliberate and long-term influence on the people’s perceptions, beliefs, emotions, and political attitudes in order to erode social consensus, drive a wedge between the Party and the people, and weaken the “support of the people”. Based on an understanding of the nature, methods, and objectives of this plot, this article analyzes the role of the people’s political strength in reinforcing political confidence, exercising their right to self-governance, and enhancing society’s ideological resilience; thereby proposing a number of solutions to harness the political strength of the people, helping to thwart the plot to “soften” the political consciousness of the masses and firmly safeguard the Party’s ideological foundation in the new context.
Keywords: The people’s political strength; political consciousness; “softening” of political consciousness; people’s hearts and minds posture; the Party’s ideological foundation.
1. Đặt vấn đề
Sự phát triển nhanh của công nghệ số, mạng xã hội và các phương thức truyền thông mới làm cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận ngày càng phức tạp. Các thế lực thù địch, phản động không chỉ xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn sử dụng nhiều phương thức tinh vi nhằm tác động vào nhận thức, tình cảm, tâm lý và niềm tin chính trị của Nhân dân. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới khẳng định: “Nhân dân là chủ thể tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” (Bộ Chính trị, 2026, tr. 3).
Lợi dụng những vấn đề phức tạp nảy sinh trong đời sống xã hội, các thế lực thù địch pha trộn thông tin thật – giả, bóp méo bản chất sự việc, cường điệu hạn chế và kích thích cảm xúc tiêu cực để gieo rắc hoài nghi, làm suy giảm niềm tin, gây phân hóa đồng thuận xã hội. Đây là biểu hiện của âm mưu “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng – một quá trình tác động có chủ đích, gián tiếp và lâu dài nhằm làm phai nhạt hệ giá trị, suy yếu niềm tin chính trị, từng bước chi phối nhận thức, thái độ và hành vi chính trị của một bộ phận nhân dân.
Đấu tranh làm thất bại âm mưu “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng không chỉ đòi hỏi kịp thời nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà quan trọng hơn là phát huy sức mạnh chính trị của Nhân dân, củng cố niềm tin, quyền làm chủ và sức đề kháng tư tưởng của xã hội. Bài viết tập trung nhận diện âm mưu “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng; làm rõ vai trò của sức mạnh chính trị của Nhân dân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời đề xuất một số giải pháp phát huy sức mạnh đó trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
2. Nhận diện âm mưu “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng
Trong chiến lược chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch đẩy mạnh các phương thức tác động gián tiếp, lâu dài vào nhận thức, niềm tin và thái độ chính trị của Nhân dân; gieo rắc hoài nghi, thúc đẩy tâm lý thờ ơ chính trị, gây phân hóa xã hội, từng bước làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội XIV của Đảng (năm 2026) nhận định: “Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tăng cường chống phá” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr. 189). Một biểu hiện đáng chú ý là âm mưu “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng, nhằm làm suy giảm sức mạnh chính trị của Nhân dân từ bên trong. Âm mưu này biểu hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:
Một là, xuyên tạc mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, làm suy giảm niềm tin chính trị của Nhân dân. Các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, phủ nhận sự thống nhất về mục tiêu và lợi ích, rêu rao rằng, Đảng “xa dân”, “đứng ngoài Nhân dân”, “không còn đại diện cho lợi ích của Nhân dân”. Để tạo vỏ bọc cho những luận điệu đó, chúng lợi dụng những hạn chế trong quản lý, bất cập trong thực thi chính sách, tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và sai phạm của một số cán bộ, đảng viên để đánh tráo cái cá biệt thành cái phổ biến, hiện tượng thành bản chất; từ sai phạm của một số cá nhân quy kết thành bản chất của Đảng và hệ thống chính trị. Mục đích là gieo rắc hoài nghi, làm suy giảm niềm tin chính trị của Nhân dân, kích động chia rẽ Đảng với Nhân dân, qua đó làm suy yếu nền tảng chính trị – xã hội của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, xuyên tạc quyền làm chủ, phủ nhận vai trò chủ thể của Nhân dân. Các thế lực thù địch rêu rao rằng, quyền làm chủ của Nhân dân chỉ mang tính “hình thức”; việc lấy ý kiến Nhân dân đối với Văn kiện của Đảng, Hiến pháp, pháp luật và các chủ trương lớn chỉ nhằm “hợp thức hóa những quyết định có sẵn”. Chúng cố tình đồng nhất dân chủ với đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; lấy mô hình dân chủ phương Tây làm khuôn mẫu để phủ nhận bản chất và thực tiễn dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đồng thời, chúng xuyên tạc, hạ thấp ý nghĩa của các cơ chế để Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, quản lý nhà nước và xã hội, giám sát, phản biện xã hội; từ đó phủ nhận vai trò thực chất của Nhân dân trong tham gia xây dựng và thực hiện các quyết sách của đất nước. Thực chất, những luận điệu này nhằm gây hoài nghi về quyền làm chủ, làm suy giảm ý thức trách nhiệm và sự tham gia của Nhân dân vào đời sống chính trị – xã hội, hòng làm suy yếu vai trò chủ thể và sức mạnh chính trị của Nhân dân.
Ba là, lợi dụng các vấn đề dân sinh, dân chủ, quyền con người để kích động bất mãn, gây phân hóa xã hội. Các thế lực thù địch lợi dụng những hạn chế, bất cập trong giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai, môi trường, việc làm, thu nhập, an sinh xã hội, thủ tục hành chính, khiếu nại, tố cáo và thực thi chính sách để khoét sâu những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội. Chúng tách các vụ việc cụ thể khỏi bối cảnh, cường điệu hạn chế, bóp méo nguyên nhân, từ đó quy kết thành “khủng hoảng thể chế”, “khủng hoảng niềm tin”, “vi phạm nhân quyền có hệ thống”. Thực chất của thủ đoạn này là chính trị hóa những bức xúc dân sinh, chuyển sự không hài lòng đối với một vấn đề hoặc vụ việc cụ thể thành tâm lý bất mãn, hoài nghi đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, qua đó kích động mâu thuẫn, khoét sâu khác biệt và làm suy giảm đồng thuận xã hội.
Bốn là, phủ nhận thành tựu đổi mới, gây hoài nghi về con đường phát triển của đất nước. Các thế lực thù địch tìm cách hạ thấp, phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới, hoặc quy kết những thành tựu đó chủ yếu do các yếu tố bên ngoài; đồng thời, cường điệu những hạn chế, yếu kém để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng cố tình tách những thành tựu phát triển khỏi đường lối đổi mới và sự đóng góp, lao động, sáng tạo của Nhân dân, trong khi từ những hạn chế, yếu kém cụ thể lại quy kết thành bản chất của chế độ. Qua đó, chúng gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan về những thành quả đã đạt được và triển vọng phát triển của đất nước, đồng thời hạ thấp vai trò và sức sáng tạo của Nhân dân trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.
Năm là, lợi dụng không gian mạng và công nghệ mới để tác động, dẫn dắt nhận thức và tâm lý xã hội. Sự phát triển của mạng xã hội, thuật toán phân phối nội dung, trí tuệ nhân tạo và công nghệ giả mạo sâu (deepfake) làm gia tăng tốc độ, phạm vi và mức độ tinh vi của thông tin sai lệch. Lợi dụng đặc điểm này, các thế lực thù địch pha trộn thông tin thật – giả, cắt ghép và tách dữ kiện khỏi bối cảnh, gắn bình luận định hướng, lặp lại các thông tin sai lệch nhằm gây nhiễu nhận thức và dẫn dắt dư luận. Chúng đặc biệt khai thác những vấn đề nhạy cảm, nội dung giật gân, cực đoan để kích thích tâm lý bất bình, lo lắng, hoài nghi và hiệu ứng đám đông, từng bước tác động đến nhận thức, tình cảm và thái độ chính trị của một bộ phận người dân. Sự tiếp xúc thường xuyên với thông tin sai lệch, nếu thiếu khả năng nhận diện và kiểm chứng, có thể làm lệch lạc nhận thức, hình thành tâm lý hoài nghi, thờ ơ trước các vấn đề chính trị – xã hội, qua đó làm suy giảm sức đề kháng tư tưởng của cá nhân và xã hội.
Như vậy, âm mưu “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng không dừng ở việc xuyên tạc chủ trương, chính sách hay phủ nhận thành tựu mà sâu xa là làm suy giảm niềm tin chính trị, ý thức làm chủ, tinh thần trách nhiệm và sự đồng thuận xã hội; từ đó tác động tiêu cực đến mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh của Nhân dân. Nhận diện đúng bản chất, mục tiêu và phương thức của âm mưu này là cơ sở để phát huy sức mạnh chính trị của Nhân dân, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
3. Phát huy sức mạnh chính trị của Nhân dân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Sức mạnh chính trị của Nhân dân được hình thành và kiểm nghiệm trong tiến trình cách mạng Việt Nam, thể hiện ở niềm tin chính trị, quyền làm chủ, sự thống nhất về lợi ích, ý chí và hành động cùng khả năng tham gia vào đời sống chính trị – xã hội. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị xác định: “Xây” là bồi đắp niềm tin, bản lĩnh, văn hóa Đảng, môi trường thông tin lành mạnh, sức đề kháng tư tưởng của toàn xã hội; lòng yêu nước, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. “Chống” là kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với cái sai, cái xấu, cái độc hại, làm suy giảm niềm tin (Bộ Chính trị, 2026, tr. 2-3). Sự kết hợp giữa “xây” và “chống” vừa bồi đắp nền tảng tư tưởng, niềm tin và sức đề kháng của xã hội, vừa tạo thế chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, phát huy sức mạnh chính trị của Nhân dân giữ vai trò quan trọng, thể hiện trên những phương diện chủ yếu sau:
Mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân là nền tảng tạo nên sức mạnh chính trị của Nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhân dân giữ vị trí trung tâm của sự nghiệp cách mạng, mọi hoạt động của Đảng đều hướng tới lợi ích của Nhân dân. Người khẳng định: “Ngoài lợi ích của Nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 107). Kế thừa và phát triển tư tưởng đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: “Sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chính Nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 65). Sự thống nhất về mục tiêu, lợi ích và mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân là cơ sở quy tụ ý chí, hành động và phát huy sức mạnh chính trị của Nhân dân.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những thắng lợi của cách mạng đều gắn với việc tập hợp và phát huy sức mạnh của Nhân dân. Đại hội XIV của Đảng yêu cầu: “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”. Phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 74). Cơ sở lý luận và thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu cố tình tách Đảng khỏi Nhân dân, phủ nhận sự thống nhất về mục tiêu, lợi ích và xuyên tạc mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân.
Quyền làm chủ và sự tham gia của Nhân dân thể hiện vai trò chủ thể của Nhân dân trong đời sống chính trị – xã hội. Đại hội XIV của Đảng xác định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 121). Vai trò chủ thể đó được thể hiện thông qua sự tham gia của Nhân dân vào xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật; quản lý nhà nước và xã hội; giám sát, phản biện xã hội và tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy sự tham gia rộng rãi của Nhân dân vào quá trình xây dựng các quyết sách quan trọng. Năm 2025, việc lấy ý kiến về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 ghi nhận 280.226.909 lượt ý kiến của cơ quan, tổ chức và cá nhân (Văn Toản, 2025). Trong quá trình chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, gần 5 triệu cán bộ, đảng viên và Nhân dân đóng góp gần 14 triệu lượt ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội (Hải Đăng, 2026). Quy mô tham gia đó cho thấy quyền làm chủ không chỉ được xác lập về mặt nguyên tắc mà còn được thực hiện thông qua sự tham gia của Nhân dân vào quá trình xây dựng, hoàn thiện các quyết sách quan trọng, bác bỏ luận điệu cho rằng quyền làm chủ của Nhân dân chỉ mang tính “hình thức”.
Bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng và nâng cao đời sống nhân dân là cơ sở củng cố niềm tin và đồng thuận xã hội. Đại hội XIV của Đảng xác định: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr. 382). Như vậy, quyền, lợi ích, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân không chỉ là mục tiêu mà còn là thước đo kết quả phát triển.
Đến năm 2025, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt 0,766; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2%; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn khoảng 1,3% (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 51-53). Những kết quả này phản ánh sự cải thiện về chất lượng cuộc sống, chăm sóc sức khỏe và bảo đảm an sinh xã hội. Đây là những căn cứ thực tiễn để phản bác các luận điệu lợi dụng vấn đề dân sinh, dân chủ, quyền con người nhằm xuyên tạc tình hình đất nước, kích động bất mãn và gây phân hóa xã hội.
Thực tiễn 40 năm đổi mới khẳng định vai trò và sức sáng tạo của Nhân dân trong sự phát triển đất nước. Thành tựu đổi mới được tạo nên từ sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong lao động, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu và sáng tạo. Giai đoạn 2021 – 2025, kinh tế Việt Nam tăng trưởng bình quân khoảng 6,2%/năm; riêng năm 2025 đạt 8,02%; quy mô GDP vượt 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 47). Những kết quả đó vừa phản ánh hiệu quả của đường lối đổi mới, vừa kết tinh sức lao động, trí tuệ và sáng tạo của Nhân dân. Thực tiễn 40 năm đổi mới là căn cứ khách quan bác bỏ những luận điệu phủ nhận thành tựu, xuyên tạc con đường phát triển của Việt Nam và hạ thấp vai trò của Nhân dân.
Bản lĩnh chính trị và năng lực kiểm chứng thông tin là điều kiện để Nhân dân chủ động nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Sự phát triển của công nghệ số và mạng xã hội mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, nhưng đồng thời làm gia tăng tốc độ, phạm vi phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc. Năm 2026, cả nước đã triển khai hơn 40.000 trạm 5G, phủ sóng khoảng 91,9% dân số, với hơn 24 triệu thuê bao sử dụng dịch vụ 5G (Mai Loan, 2026). Không gian thông tin ngày càng mở rộng đặt ra yêu cầu nâng cao khả năng tiếp nhận, phân tích và kiểm chứng thông tin của người dân.
Cùng với phát triển hạ tầng số, việc phổ cập kỹ năng số đang được đẩy mạnh. Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 – 2030 đặt mục tiêu đào tạo kỹ năng số cơ bản cho ít nhất 10 triệu lượt người trong độ tuổi lao động (Thu Giang, 2026). Nghị quyết số 25-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu phát triển “văn hóa số, kỹ năng thông tin số và năng lực kiểm chứng thông tin”, qua đó “nâng cao sức đề kháng của Nhân dân trước thông tin xấu độc” (Bộ Chính trị, 2026, tr. 9). Khi có bản lĩnh chính trị, kỹ năng số và năng lực kiểm chứng thông tin, người dân có khả năng chủ động nhận diện, sàng lọc, phản bác thông tin sai lệch và tham gia xây dựng môi trường thông tin lành mạnh. Qua đó, sức mạnh chính trị của nhân dân được chuyển hóa thành sức đề kháng tư tưởng của xã hội trên không gian mạng.
Từ những phương diện trên, có thể thấy phát huy sức mạnh chính trị của Nhân dân không chỉ là củng cố niềm tin, bảo đảm quyền làm chủ và lợi ích chính đáng mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để nhân dân thực sự tham gia, đóng góp trí tuệ, hành động và bảo vệ những giá trị chung của đất nước. Đây là cơ sở để củng cố đồng thuận xã hội, nâng cao sức đề kháng tư tưởng và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong đấu tranh làm thất bại âm mưu “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng.
4. Giải pháp phát huy sức mạnh chính trị của Nhân dân, chủ động làm thất bại âm mưu “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng
Thứ nhất, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân bằng hiệu quả lãnh đạo, quản lý và chất lượng phục vụ Nhân dân. Đại hội XIV của Đảng yêu cầu “Đổi mới công tác tuyên giáo, dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr. 383). Yêu cầu đặt ra là tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tăng cường kiểm soát quyền lực; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; khắc phục các biểu hiện quan liêu, xa dân, né tránh trách nhiệm. Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải thực sự gần dân, trọng dân, lắng nghe dân, kịp thời giải quyết những vấn đề chính đáng từ cơ sở. Mỗi chủ trương, chính sách phải được kiểm nghiệm bằng kết quả cụ thể và sự chuyển biến trong đời sống nhân dân. Hiệu quả hoạt động của bộ máy, tinh thần trách nhiệm và sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên chính là những yếu tố có sức thuyết phục trực tiếp đối với Nhân dân.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phát huy quyền làm chủ, bảo đảm sự tham gia thực chất của Nhân dân vào đời sống chính trị – xã hội. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV xác định: “Xây dựng, thực hiện các cơ chế để Nhân dân tham gia góp ý vào quá trình xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm trách nhiệm giải trình của các cơ quan Đảng, Nhà nước trước Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 240). Theo đó, cần nâng cao chất lượng đối thoại, tiếp nhận và phản hồi ý kiến; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân. Việc lấy ý kiến phải gắn với trách nhiệm tiếp thu, giải trình và công khai kết quả xử lý. Những vấn đề Nhân dân quan tâm cần được thông tin đầy đủ, kịp thời; những kiến nghị chính đáng phải được xem xét và trả lời rõ ràng. Khi quyền làm chủ được thực hiện thực chất, nhân dân không chỉ là đối tượng tiếp nhận mà thực sự tham gia vào quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát chủ trương, chính sách.
Thứ ba, chăm lo đời sống, giải quyết kịp thời những vấn đề chính đáng của Nhân dân, lấy kết quả thực tiễn làm cơ sở củng cố đồng thuận xã hội. Cần thường xuyên nắm bắt tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân; tập trung giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc làm, thu nhập, đất đai, môi trường, an sinh xã hội, thủ tục hành chính, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đối với những vấn đề phức tạp hoặc kéo dài, cần xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và kết quả xử lý; chủ động cung cấp thông tin để Nhân dân biết, theo dõi và giám sát. Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, an sinh xã hội và dịch vụ công, bảo đảm thành quả phát triển ngày càng được chuyển hóa thành những cải thiện cụ thể trong đời sống. Chính khả năng giải quyết những vấn đề từ thực tiễn, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân là cơ sở bền vững để tăng cường đồng thuận và tạo sức mạnh xã hội.
Thứ tư, tạo môi trường và cơ chế để Nhân dân phát huy trí tuệ, sức sáng tạo và đóng góp vào sự phát triển đất nước. Phát huy sức mạnh chính trị của Nhân dân không chỉ dừng ở vận động, tuyên truyền mà phải tạo điều kiện để tiềm năng, trí tuệ và nguồn lực trong Nhân dân được chuyển hóa thành những đóng góp cụ thể. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế khuyến khích người dân tham gia phát triển kinh tế – xã hội, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số; phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, người lao động, người Việt Nam ở nước ngoài và các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, thông tin về kết quả phát triển phải kịp thời, khách quan, có căn cứ và có khả năng kiểm chứng; không chỉ phản ánh thành tựu mà cần thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế và kết quả khắc phục. Khi Nhân dân trực tiếp tham gia tạo ra và kiểm nghiệm thành quả phát triển, thực tiễn sẽ trở thành cơ sở có sức thuyết phục trong củng cố nhận thức và niềm tin xã hội.
Thứ năm, nâng cao năng lực chính trị, kỹ năng số và khả năng kiểm chứng thông tin của Nhân dân, phát huy vai trò chủ động của người dân trên không gian mạng. Trong môi trường truyền thông số, cần gắn giáo dục chính trị, tư tưởng với trang bị kiến thức và kỹ năng tiếp nhận, phân tích, đánh giá thông tin; chú trọng khả năng nhận biết nguồn tin, kiểm chứng dữ liệu, nhận diện thông tin sai lệch, nội dung cắt ghép, giả mạo và những phương thức dẫn dắt nhận thức. Nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục cần phù hợp với từng nhóm xã hội, nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên và người thường xuyên sử dụng mạng xã hội.
Tiếp tục phát triển hệ thống thông tin chính thống theo hướng kịp thời, chính xác, dễ tiếp cận và dễ kiểm chứng; nâng cao hiệu quả cung cấp thông tin của cơ quan Đảng, Nhà nước và các cơ quan báo chí; phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trí thức, nhà khoa học, nhà giáo, văn nghệ sĩ, người có uy tín và nhân dân trong lan tỏa thông tin tích cực, có căn cứ. Đồng thời, mở rộng các kênh tiếp nhận phản ánh, xác minh thông tin và tăng cường phổ cập kỹ năng số để mỗi người dân có khả năng tự bảo vệ mình trước thông tin sai lệch. Qua đó, từng bước chuyển từ thế tiếp nhận thông tin sang chủ động nhận diện, kiểm chứng và tham gia xây dựng môi trường thông tin lành mạnh.
5. Kết luận
Trong điều kiện mới, những tác động vào nhận thức, niềm tin và thái độ chính trị của quần chúng ngày càng đa dạng, tinh vi và gắn chặt với sự phát triển của môi trường truyền thông số. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải phát huy mạnh mẽ hơn vai trò chủ thể của Nhân dân, coi đây là nguồn sức mạnh quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố sự đồng thuận xã hội.
Phát huy sức mạnh chính trị của Nhân dân vì vậy phải được thực hiện bằng những cơ chế và kết quả cụ thể trong đời sống: Nhân dân được tôn trọng, được bảo đảm quyền làm chủ và lợi ích chính đáng, được tạo điều kiện tham gia, đóng góp và tiếp cận thông tin chính xác. Khi vai trò chủ thể của Nhân dân được phát huy đầy đủ, sức mạnh của Nhân dân sẽ trở thành nền tảng vững chắc để nâng cao sức đề kháng của xã hội, củng cố “thế trận lòng dân”, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Hải Đăng (19/01/2026). Tạo thống nhất nhận thức, quyết tâm và hành động để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/tao-thong-nhat-nhan-thuc-quyet-tam-va-hanh-dong-thuc-hien-thang-loi-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-post937738.html
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 13). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Văn Toản (13/6/2025). Hôm nay, Quốc hội thảo luận về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/hom-nay-quoc-hoi-thao-luan-ve-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-hien-phap-nam-2013-post886482.html
Mai Loan (22/8/2026). Từ làm chủ 5G đến chủ động chuẩn bị cho công nghệ 6G. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/tu-lam-chu-5g-den-chu-dong-chuan-bi-cho-cong-nghe-6g-post983591.html
Thu Giang (12/6/2026). Đánh dấu bước chuyển sang giai đoạn phát triển toàn diện kinh tế số và xã hội số. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/danh-dau-buoc-chuyen-sang-giai-doan-phat-trien-toan-dien-kinh-te-so-va-xa-hoi-so-102260612165024178.htm



