Experience and emerging issues in further improving the institutional framework for Party building today
TS. Nguyễn Thị Thanh Bình
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: binhntt127@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng là nội dung quan trọng, được đặt trong tổng thể hoàn thiện thể chế của hệ thống chính trị, nhất là trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, gắn với quá trình xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Bài viết tổng kết những kinh nghiệm, đồng thời, chỉ rõ những vấn đề đặt ra về hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Từ khóa: Xây dựng Đảng; công tác xây dựng Đảng; hoàn thiện thể chế; kinh nghiệm, vấn đề đặt ra.
Abstract: Improving the institutional framework for Party building is a crucial task, situated within the broader context of improving the institutional framework of the political system, particularly given that the Communist Party of Vietnam is the sole ruling party and is building a socialist state governed by the rule of law in Vietnam, and is closely linked to the processes of Party building, political system development, and national development in the new context. This article summarizes experiences and identifies challenges regarding the improvement of the institutional framework for Party building, to continuously enhance the Party’s leadership, governance, and combat effectiveness during this new phase of the country’s development.
Keywords: Party building; Party-building work; institutional improvement; experiences; challenges.
1. Đặt vấn đề
Qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Đảng đã chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, trong đó, lãnh đạo, cầm quyền bằng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương được xác định là phương thức đầu tiên và rất quan trọng. Trong thời gian qua, Đảng đã hoàn thiện hệ thống văn bản, như: nghị quyết, quy chế, quy định; hoàn thiện việc phân cấp, phân quyền cho các cấp ủy, tổ chức đảng; hoàn thiện cách thức tổ chức thực hiện các nghị quyết, quy định, nguyên tắc của Đảng ở tất cả các cấp. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn, thực tiễn công tác xây dựng Đảng vẫn còn những điểm nghẽn do các quy chế, quy định của Đảng ban hành còn chậm được bổ sung, hoàn thiện: “Công tác nghiên cứu lý luận xây dựng Đảng còn hạn chế; xây dựng thể chế, cơ chế, tổ chức hoạt động của Đảng chậm đổi mới, hoàn thiện, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trong điều kiện mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.195). Tình trạng trùng lặp, bất cập của một số văn bản vẫn còn, tính thời hiệu không rõ ràng dẫn đến hiệu lực và hiệu quả thực thi còn chưa cao.
Vì vậy, nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hướng nhiệm vụ, giải pháp: “Tập trung tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế chính trị vững mạnh, hiệu quả, trong đó tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; xác định rõ và hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tránh trùng lặp. Hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực trong Đảng gắn đồng bộ với thể chế kiểm soát quyền lực trong toàn hệ thống chính trị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.265). Việc tổng kết những kinh nghiệm và xác định vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng hiện nay có ý nghĩa lý luận, khoa học và là đòi hỏi thực tiễn đặt ra.
2. Kinh nghiệm hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng
40 năm đổi mới, Đảng đặc biệt chú trọng đến việc hoàn thiện thể chế. Đại hội XIII của Đảng xác định giải pháp đột phá thứ nhất trong ba giải pháp đột phá trong công tác xây dựng Đảng của nhiệm kỳ Đại hội XIII là: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là công tác tổ chức, cán bộ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021b, tr. 257). Nhiệm vụ, giải pháp này được toàn Đảng thực hiện trong suốt nhiệm kỳ Đại hội XIII và tiếp tục được đẩy mạnh trong nhiệm kỳ Đại hội XIV. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế trong quá trình hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng, có thể khái quát một số kinh nghiệm về hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng.
Một là, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.
Toàn bộ công tác xây dựng Đảng luôn trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, do thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay có nhiều điểm mới so với trước đây, nên nhất thiết Đảng ta phải vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những năm qua, việc hoàn thiện thể chế xây dựng Đảng không xa rời các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, đồng thời, có những phát triển hết sức sáng tạo, phù hợp với tình hình mới. Trong lĩnh vực xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng, Đảng đã kiên định các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bộ máy tổ chức phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, bộ máy tổ chức phải tinh gọn, hoạt động có hiệu quả, việc kiện toàn tổ chức bộ máy phải theo phương châm “Thà ít mà tốt”…, đồng thời đã chú trọng xác định đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác và xây dựng quy chế làm việc của từng tổ chức…
Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng đã kiên định các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn cán bộ, việc bố trí sử dụng cán bộ, quản lý cán bộ, dựa vào Nhân dân để kiểm soát cán bộ, đồng thời đã ban hành rất nhiều chủ trương mới về đánh giá cán bộ, quy hoạch cán bộ, luân chuyển cán bộ, đặc biệt là đã ban hành, thường xuyên sửa đổi hệ thống các quy chế, quy định cụ thể đối với từng khâu trong công tác cán bộ. Trong quá trình đó, Đảng đã bổ sung “trụ cột” thứ tư là “đạo đức” (Đại hội XII) và trụ cột thứ năm là “cán bộ” (Đại hội XIII) để trở thành một chỉnh thể: xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Trong toàn bộ quá trình nghiên cứu, hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ, Đảng đã luôn kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều lệ Đảng, các quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng Đảng đều được lấy ý kiến của các tổ chức đảng, các cơ quan khoa học, các cán bộ lão thành và được thảo luận tập thể trong các cơ quan lãnh đạo có thẩm quyền, quyết định theo đa số. Các quy định của Đảng về công tác xây dựng Đảng đều tuân thủ đúng, không trái với Hiến pháp, pháp luật.
Hai là, hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng phải nhằm xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện; giữ vững và không ngừng nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
Việc hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng không phải vì mục đích tự thân, “bộ máy vì bộ máy” mà góp phần thúc đẩy xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, được Nhân dân tin tưởng và đất nước không ngừng phát triển. Trước tình trạng tổ chức, bộ máy của Đảng và cả hệ thống chính trị cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian không thật sự cần thiết, hoạt động kém hiệu quả, cùng với việc đề ra và thực hiện sắp xếp lại hệ thống tổ chức, Đảng đã ban hành các quy định thời kỳ đầu chỉ về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức nội bộ tổ chức, gần đây quy định cả chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, mối quan hệ công tác của từng tổ chức; ban hành mẫu quy chế làm việc của các tổ chức đảng; bộ tiêu chí đánh giá, xếp loại tổ chức hằng năm;…
Trước tình hình trong đội ngũ cán bộ có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đã xác định các tiêu chí để nhận diện các biểu hiện này; Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành quy định về những điều đảng viên không được làm; Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới; Ban Bí thư đã ban hành Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương… Đặc biệt, ngày 11/7/2023, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Những quy định này vừa là cơ sở để các tổ chức đảng thực hiện, vừa là căn cứ để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát đối với công tác xây dựng Đảng và xử lý các trường hợp vi phạm.
Ba là, gắn kết giữa hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng với hoàn thiện thể chế xây dựng cả hệ thống chính trị.
Việc hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng gắn với hoàn thiện đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ – “khâu then chốt” của nhiệm vụ then chốt xây dựng Đảng. Các tổ chức trong cả hệ thống chính trị phải thực sự là một đội ngũ mạnh, đoàn kết, năng động, sáng tạo để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức; tổ chức tạo môi trường, điều kiện để phát huy vai trò của cán bộ và giúp cán bộ không ngừng tiến bộ, trưởng thành.
Quá trình hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng đã chú ý bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ với việc hoàn thiện thể chế xây dựng Đảng về các mặt khác và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Cùng với đổi mới các quy chế, quy định về tổ chức, cán bộ, Đảng đã ban hành các quy chế, quy định cần thiết về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; xây dựng Đảng về đạo đức; về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; thể chế về cơ chế, chính sách đối với những cán bộ chịu tác động trực tiếp trong quá trình thay đổi quy định. Với mỗi quy định mới, Đảng đều có quy định cụ thể việc chuyển tiếp từ quy định cũ sang quy định mới.
Bốn là, bám sát thực tiễn, đánh giá và dự báo đúng tình hình, chủ động, kịp thời hoàn thiện thể chế, tập trung vào các trọng tâm, trọng điểm, khắc phục những hạn chế, giải quyết các vướng mắc từ thể chế.
Hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng là vấn đề lớn và khó, nên cùng với nắm vững các nguyên tắc, Đảng đã đặc biệt quan tâm nắm bắt tình hình, tổng kết thực tiễn, nhận diện kịp thời những vướng mắc và dự báo các vấn đề phát sinh để lựa chọn đúng những quy chế, quy định cần bổ sung, sửa đổi. Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện thể chế luôn yêu cầu phải sau sát thực tiễn và cơ sở, tôn trọng thực tế khách quan, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, phù hợp với tình hình thực tiễn, tránh chủ quan, áp đặt các quy định không phù hợp với thực tiễn, không khả thi.
Năm là, không ngừng đổi mới tư duy, giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa kế thừa, bổ sung và phát triển; giữa kiên định và đổi mới; giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận và hoàn thiện thể chế.
Hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng đòi hỏi phải trên cơ sở tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ đã hình thành, nhưng khắc phục chủ nghĩa kinh nghiệm, ngại có những thay đổi lớn, nể nang, ngại va chạm, tư tưởng cục bộ. Tiền đề để thực hiện việc này là phải đổi mới tư duy, nhận thức, kiên quyết vượt qua tư duy cũ, dám đột phá vào việc mới, khó, chưa có tiền lệ. Đồng thời, trong lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện thể chế phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, cách làm bài bản, dân chủ, chắc chắn và có bước đi phù hợp; kiên trì thực hiện đến khi đạt được kết quả; thật sự cầu thị, nghiêm túc lắng nghe, tiếp thu các ý kiến đóng góp; không cầu toàn, không chủ quan nóng vội, nhưng không để chậm trễ, bởi vì chậm sửa đổi thể chế là để lỡ cơ hội. Đối với những thể chế đã có đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn, đã chín muồi thì kiên quyết ban hành mới, hoặc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế đã có. Đối với những thể chế mới, khó, phức tạp, có nhiều ý kiến khác nhau thì tiến hành thí điểm, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, tìm ra các quy chế, quy định phù hợp, hiệu quả nhất.
Sáu là, làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và cả hệ thống chính trị về những đổi mới trong thể chế công tác xây dựng Đảng.
Hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng liên quan trực tiếp đến tổ chức, con người, đến cả tư tưởng, tâm lý, công việc và đời sống của cán bộ, có những yếu tố mang tính nhạy cảm. Trong thực tế, nhiều vướng mắc công tác xây dựng Đảng đã phát hiện ra từ lâu, như tình trạng tổ chức bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, chồng chéo và trùng lắp chức năng, nhiệm vụ giữa các tổ chức; hợp nhất các cơ quan đảng và nhà nước có chức năng tương đồng; đánh giá cán bộ là khâu yếu nhất trong công tác cán bộ; vấn đề kiểm soát quyền lực trong hoạt động của các tổ chức, nhất là trong công tác cán bộ; không bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt là người địa phương; v.v., nhưng chưa thực hiện được vì chưa tạo được sự thống nhất cao trong Đảng và cả hệ thống chính trị, thiếu quyết tâm chính trị, vẫn bị tư tưởng va tâm lý nể nang, e ngại, “tư duy nhiệm kỳ” chi phối. Trong cuộc cách mạng sắp xếp lại, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, với quyết tâm chính trị cao, sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự đồng tình của các cấp, các ngành, các tổ chức, những vấn đề lớn và hoàn toàn mới về công tác tổ chức, cán bộ đã được giải quyết thành công, dù mới là bước đầu, còn cần được tiếp tục.
Trong hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng, việc nêu cao trách nhiệm, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, người đứng đầu và cán bộ lãnh đạo chủ chốt các tổ chức ở các cấp; phát huy tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, tránh tình trạng ngại khó, đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; thật sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, trong đó có công tác tổ chức, cán bộ. Đề cao cảnh giác, kịp thời ngăn chặn những người bất mãn, các thế lực thù địch và các đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn, phần tử xấu xuyên tạc, chống phá, gây chia rẽ nội bộ.
3. Những vấn đề đặt ra về thể chế công tác xây dựng Đảng hiện nay
Thứ nhất, thể chế Đảng lãnh đạo đối với một số tổ chức và trên từng lĩnh vực trọng yếu còn một số nội dung chưa đủ rõ, gây trở ngại cho việc hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng.
Một số vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới trong giai đoạn mới chưa đủ rõ và tính thuyết phục chưa cao. Cơ sở lý luận, thực tiễn, những giá trị, hình thức, các bước đi, bảo đảm sự phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng trong quá trình phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa còn những bất cập chưa được làm rõ về lý luận và thực tiễn về sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong dòng chảy phát triển chung của nhân loại. Phân biệt những “đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “đặc trưng cơ bản của xã hội Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”; vấn đề dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ trong Đảng; thực hiện dân chủ trực tiếp, phát huy dân chủ trong Nhân dân; cụ thể hóa quyền tự do báo chí; mô hình tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội chưa được thảo luận sâu sắc, giải quyết triệt để tạo sức thuyết phục cao bằng khoa học, lý luận sắc bén.
Thể chế kinh tế còn nhiều vấn đề lớn, quan trọng chưa được nhận thức và giải quyết thấu đáo như các đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và vai trò của các thành phần kinh tế; mối quan hệ giữa “nhà nước, thị trường và xã hội”, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất…
Thể chế văn hóa chưa được làm rõ, như: công nghiệp văn hóa, văn hóa số, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa trong chính trị, kinh tế…; chậm đáp ứng với những điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội của đất nước, chưa phù hợp với thông lệ, luật pháp quốc tế. Một số vấn đề về chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội bền vững đã được đặt ra nhưng chậm nghiên cứu, giải quyết, như: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, già hóa dân số, chênh lệch giới tính, phân hóa giàu nghèo, bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội…
Thể chế khoa học và công nghệ còn nhiều nút thắt, điểm nghẽn có tính hệ thống, tồn tại trong thời gian dài, cản trở sự phát triển, chưa được nhận thức và giải quyết đồng bộ, dứt điểm, nhất là phân bổ nguồn lực, quản lý tài chính, thu hút nhân tài…
Thể chế quốc phòng, an ninh còn những vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được nhận thức và giải quyết thấu đáo, như: bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; cơ chế, chính sách đặc biệt để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc; thể chế hóa và triển khai thực hiện có hiệu quả nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; Nhà nước quản lý tập trung, thống nhất đối với lực lượng vũ trang; lý luận và thực tiễn về an ninh phi truyền thống, an ninh con người…
Thể chế đối ngoại chưa xứng tầm với yêu cầu vai trò trọng yếu, thường xuyên; mối quan hệ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; mục tiêu đối ngoại và trong bối cảnh thế giới phân tuyến ngày càng rõ.
Thứ hai, thể chế Đảng lãnh đạo trong hệ thống chính trị chưa được làm rõ đầy đủ và chậm được hoàn thiện.
Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” chậm được cụ thể hóa và tính khả thi không cao. Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung hoàn thiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a, tr.173) nhưng vẫn chưa được thể chế hóa một cách cụ thể, đầy đủ, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
Có thể thấy những vấn đề đặt ra là: (1) Làm gì để hệ thống chính sách của Nhà nước thể chế hóa đầy đủ, kịp thời, đúng đắn và khả thi các quan điểm của Đảng, đồng thời khắc phục tình trạng thiếu tính khả thi. (2) “Phương châm” là hướng theo đó mà hành động, còn “nguyên tắc” là quy định của Đảng bắt buộc phải thực hiện; và pháp luật là thể chế bảo đảm tốt nhất việc thực thi trong xã hội, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vậy còn vấn đề gì cần thể chế hóa thành luật hoặc bổ sung, phát triển, hoàn thiện khi đã có luật? (3) Vấn đề công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình tuy đã có quy định nhưng việc thực thi ở nhiều tổ chức chưa nghiêm; cũng chưa được xử lý nghiêm minh, dẫn đến nhiều việc bị lãng quên, bị coi nhẹ. (4) Trình độ nhận thức và đòi hỏi chính đáng của nhân dân chưa tạo áp lực đủ mạnh để các cơ quan có trách nhiệm thực thi đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, dẫn đến tình trạng thực thi đối phó, kéo dài, chậm sửa chữa, khắc phục. (5) Dân là chủ phải gắn với kỷ cương, phép nước, bảo đảm tinh thần thượng tôn pháp luật. Phát huy tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của dân chủ XHCN là cách tốt nhất để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, nhưng tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, vẫn là yếu tố căn bản nhất về thực thi dân chủ ở nước ta hiện nay. Quyết định số 99-QĐ/TW ngày 03/10/2017 của Ban Bí thư ban hành “Hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” vẫn chưa mang lại hiệu quả rõ rệt.
Thứ ba, thể chế công tác xây dựng Đảng đứng trước yêu cầu phải khẩn trương hoàn thiện, trong khi thực tiễn còn nhiều vấn đề đang định hình, chưa có đủ căn cứ để thực thi.
Phương thức lãnh đạo, cầm quyền, cơ chế kiểm soát quyền lực, phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền; phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng còn nhiều hạn chế.
Những quy định để bảo đảm tính khả thi của các nguyên tắc trong xây dựng Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ chưa cao. 5 nguyên tắc nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng được xác định ngay phần mở đầu của Điều lệ Đảng: “Ðảng và những vấn đề cơ bản về xây dựng Ðảng” nhưng sau đó, Điều lệ Đảng mới chỉ làm rõ những nội dung chính của nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 9 với 6 nội dung), các nguyên tắc khác chưa được quy định cụ thể trong Điều lệ Đảng.
Sau Đại hội, Đảng đã ban hành nhiều quy định thi hành Điều lệ Đảng (nay là Quy định số 208-QĐ/TW ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về thi hành Điều lệ Đảng) nhưng các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất; gắn bó mật thiết với nhân dân; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật cũng chưa được cụ thể hóa và quy định trong Quy định thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương hoặc Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng của Ban Bí thư.
Trên thực tế, khi có quy định cụ thể về nguyên tắc tập trung dân chủ thì việc kiểm tra, kết luận, xử lý những sai phạm khá thuận lợi. Tuy nhiên, dù đã có nhiều văn bản của Đảng quy định liên quan đến việc thực hiện các nguyên tắc khác nhưng chưa đầy đủ, rõ ràng, nên việc kiểm tra, kết luận, xử lý những sai phạm còn gặp khó khăn. Việc đấu tranh để bảo vệ các nguyên tắc này còn mờ nhạt, thiếu tính khả thi, nhất là bảo vệ người có chính kiến, bản lĩnh để thực hiện nghiêm các nguyên tắc. Tình trạng nhiều cơ quan lãnh đạo, nhiều cán bộ lãnh đạo, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước vẫn còn và chậm được giải quyết dứt điểm.
4. Kết luận
Là một bộ phận của thể chế chính trị, thể chế công tác xây dựng Đảng tạo căn cứ chính trị – pháp lý cho toàn bộ công tác xây dựng Đảng, để các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng thực hiện, góp phần xây dựng Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, hoàn thành tốt vai trò lãnh đạo đối với cách mạng, Nhà nước và xã hội. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, xuyên suốt nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; có năng lực lãnh đạo, cầm quyền cao đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới.
Việc hoàn thiện thể chế phải được tiến hành một cách khoa học, đồng bộ, phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, các tổ chức trong hệ thống chính trị; bám sát thực tiễn, kế thừa những mặt hợp lý, khắc phục những hạn chế; gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Thành công của công cuộc hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng sẽ góp phần quyết định nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và niềm tin của Nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.



