Phát triển giáo dục và đào tạo – nền tảng cho đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới ở Việt Nam hiện nay

Developing education and training the foundation for innovation in Vietnam’s new era

ThS. Nguyễn Thị Hiệp
Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình
Email: hiepnguyensphn@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Giáo dục và đào tạo là nền tảng cốt lõi hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển tri thức, năng lực sáng tạo và tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới. Trên cơ sở làm rõ vai trò của giáo dục và đào tạo đối với đổi mới sáng tạo, bài viết phân tích thực trạng phát triển giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy tư duy sáng tạo và tăng cường khả năng thích ứng với những biến đổi của khoa học, công nghệ, tạo nền tảng vững chắc cho đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Giáo dục và đào tạo; đổi mới sáng tạo; kỷ nguyên mới; Việt Nam.

Abstract: Education and training constitute the core foundation for developing a high-quality workforce, advancing knowledge and creative capacity, and generating momentum for innovation, thereby enhancing national competitiveness in the new era. Based on an examination of the role of education and training in innovation, this article analyzes the current state of education and training development in Vietnam, identifies the achievements attained, existing limitations, and emerging challenges in response to the requirements of rapid and sustainable development. At the same time, it proposes several key solutions to fundamentally and comprehensively reform education and training, develop a high-quality workforce, foster creative thinking, and strengthen adaptability to changes in science and technology, thereby establishing a solid foundation for national development in the new era.

Keywords: Education and training; innovation; new era; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng, Nhà nước luôn khẳng định giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển và giáo dục phải được ưu tiên, đi trước so với các lĩnh vực khác. Trong Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, ngày 24/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa thì nhất định phải có học thức” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.90). Để đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI), khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân”. Bởi, giáo dục đào tạo cung cấp kiến thức, kỹ năng chuyên ngành cho người lao động làm nền tảng cho tư duy đổi mới sáng tạo. Đặc biệt trongbối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam hiện nay, người lao động không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải có tư duy và kỹ năng đổi mới sáng tạo để thích ứng nhanh với yêu cầu của thực tiễn. Giáo dục – đào tạo: “Tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.103). Đây là lực lượng trực tiếp tạo ra tri thức, công nghệ và các giải pháp đổi mới sáng tạo; là nhân tố cốt lõi để nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia, làm chủ các công nghệ then chốt, qua đó chủ động tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

2. Vai trò của giáo dục và đào tạo – nền tảng cho đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới

Thứ nhất, giáo dục và đào tạo, tạo nền tảng tri thức, cung cấp kiến thức cơ bản và tư duy phản biện, giúp người học sẵn sàng tiếp nhận và phát triển ý tưởng mới. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhiệm vụ của giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế – văn hóa” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.345) và “Nguồn lực con người là quý báu, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1997, tr.9). Bởi giáo dục – đào tạo tạo ra những con người có tri thức, kỹ năng và tư duy cần thiết để hình thành những ý tưởng mới và biến chúng thành hiện thực. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục – đào tạo cung cấp cho người học khoa học, công nghệ, toán học, nghệ thuật… đây là “nguyên liệu” để tạo ra sáng kiến. Người học càng được đào tạo bài bản thì càng có khả năng kết hợp kiến thức để tạo ra cái mới. Giáo dục giúp người học biết cách phân tích, thử nghiệm, đánh giá, từ đó, biến ý tưởng thành sản phẩm hoặc giải pháp sáng tạo trong thực tiễn. Đồng thời, giáo dục và đào tạo cung cấp kiến thức cơ bản giúp cho mỗi người hình thành tư duy phản biện, đây là “chìa khóa” để con người không chỉ tiếp nhận thông tin một cách thụ động mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và sáng tạo ra giải pháp mới.

Thứ hai, giáo dục khuyến khích khởi nghiệp và nghiên cứu, thử nghiệm và sáng tạo, là nơi ươm mầm cho các dự án khởi nghiệp và nghiên cứu khoa học. Bởi lẽ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.77). Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã nhấn mạnh: “Trong bối cảnh cách mạng khoa học, công nghệ diễn ra mạnh mẽ, học tập suốt đời là yêu cầu cấp thiết đối với mỗi cá nhân, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, để đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Tô Lâm, 2025).

Giáo dục và đào tạo cung cấp nền tảng tri thức và kỹ năng cần thiết để người học có thể hình thành và phát triển ý tưởng. Kiến thức chuyên môn, kết hợp với kỹ năng mềm như tư duy phản biện, làm việc nhóm, quản lý dự án, giúp người học có đủ năng lực để biến sáng kiến thành sản phẩm thực tiễn. Giáo dục hiện đại khuyến khích tinh thần khởi nghiệp thông qua các chương trình đào tạo gắn với thực tiễn, các cuộc thi ý tưởng, và hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp trong trường học. Các trường đại học, viện nghiên cứu còn đóng vai trò như “vườn ươm” cho các dự án khởi nghiệp, nơi ý tưởng được nuôi dưỡng, thử nghiệm và phát triển thành sản phẩm có giá trị. Giáo dục – đào tạo còn thúc đẩy nghiên cứu khoa học, tạo môi trường để người học tiếp cận công nghệ mới, thực hiện các đề tài nghiên cứu, và ứng dụng kết quả vào đời sống.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về giáo dục, đào tạo; trọng tâm là, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg ngày 08/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về “Chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục” và Cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; Nghị quyết số 29-NQ/TW Trung ương (khóa XI); Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.100). Đây là cơ sở: “Nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đạt trình độ tiên tiến ở những lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.104-105).
3. Thực trạng giáo dục và đào tạo – nền tảng cho đổi mới sáng tạo
Giáo dục, đào tạo ở nước ta những năm gần đây đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để cung cấp cho các ngành, lĩnh vực kinh tế của đất nước, đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn. Đặc biệt, trình độ học vấn của người dân, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thể lực của người lao động Việt Nam đã từng bước được nâng lên. Quy mô đào tạo đại học và sau đại học tiếp tục được mở rộng. Năm học 2024 – 2025, cả nước có khoảng 2,12 triệu sinh viên đại học, hơn 111 nghìn học viên cao học và trên 13 nghìn nghiên cứu sinh (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024). Năm 2025, số lượng thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 vào các ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học) đạt hơn 222.000, tăng gần 42.000 so với năm trước. Về nguồn nhân lực đang làm việc trong ngành, khoảng 7.000 kỹ sư đang làm việc tại các doanh nghiệp thiết kế vi mạch; khoảng 6.000 kỹ sư và 10.000 kỹ thuật viên đang làm việc tại các doanh nghiệp đóng gói, kiểm thử vi mạch và sản xuất vật liệu, thiết bị bán dẫn; Mạng lưới Đổi mới sáng tạo về ngành công nghiệp bán dẫn quy tụ hơn 100 chuyên gia người Việt Nam trên thế giới (Thanh Hà & Bích Ngọc, 2025).
Chất lượng nguồn nhân lực và trình độ tay nghề của lao động từng bước được nâng lên, “tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 64,5% năm 2020 lên 70% năm 2025, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 24,1% năm 2020 lên khoảng 29,2% năm 2025” (Chính sách và cuộc sống, 20/01/2026). Tỷ lệ tiếp cận tri thức mới được nâng cao, khuyến khích học tập suốt đời, không chỉ trong nhà trường mà còn qua các khóa học ngắn hạn, đào tạo nghề, học trực tuyến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong việc lan tỏa tinh thần học tập suốt đời không chỉ ở các nhà trường, cơ sở giáo dục mà còn thông qua các phong trào, các cuộc vận động trong toàn dân, “các phong trào như “xã hội học tập”, “khuyến học, khuyến tài” đã trở thành động lực mạnh mẽ, thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân” (NH, 21/3/2025). Nhà nước hỗ trợ chính sách, học bổng, tín dụng giáo dục, đầu tư cơ sở hạ tầng để mọi người đều có điều kiện học tập, “Việt Nam thuộc nhóm 21 quốc gia sớm đạt mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc đến năm 2030 về giáo dục chất lượng” (Bộ Chính trị, 22/8/2025). Xây dựng xã hội học tập, tri thức trở thành tài sản chung, được chia sẻ rộng rãi, thúc đẩy cộng đồng cùng phát triển.
Trên cơ sở thành tựu về giáo dục và đào tạo, Việt Nam cũng đã đạt nhiều thành tựu nổi bật trong đổi mới sáng tạo. Năm 2025, Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), duy trì thứ hạng của năm 2024. Đứng thứ 2/37 nền kinh tế thu nhập trung bình thấp, cho thấy năng lực đổi mới sáng tạo vượt trội so với các quốc gia cùng nhóm (Thu Giang, 2025). Tính đến cuối năm 2025, có 34,6% doanh nghiệp tại Việt Nam đã triển khai hoạt động đổi mới sáng tạo. 962 doanh nghiệp khoa học và công nghệ được thành lập tính đến cuối năm 2025. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam xếp hạng 55/100 toàn cầu, cho thấy sự phát triển nhanh chóng nhưng vẫn còn dư địa để cải thiện (Bộ Khoa học và Công nghệ, 06/01/2026).
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định: “Bước đầu hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo, khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.49). Những thành tựu này cho thấy, Việt Nam đã chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình phát triển dựa trên tri thức và công nghệ, thay thế dần các động lực truyền thống như lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên. Việc duy trì vị trí cao trong GII và gia tăng số lượng doanh nghiệp khoa học công nghệ khẳng định giáo dục, nghiên cứu và chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo đang phát huy hiệu quả.
Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, chưa thực sự trở thành động lực then chốt, nền tảng cho đổi mới sáng tạo trong sự phát triển bứt phá của đất nước: “Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chưa đồng bộ, thiếu tính hệ thống, còn nhiều bất cập”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.66). Khoảng cách vùng miền, học sinh ở đô thị thường có điều kiện học tập tốt hơn nhiều so với nông thôn, miền núi, cơ hội tiếp cận giáo dục còn thấp so với các nước phát triển; có sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền, nhóm đối tượng. Cơ sở vật chất, nhiều trường học còn thiếu thốn phòng thí nghiệm, thư viện, thiết bị công nghệ. Đội ngũ giáo viên, trình độ, phương pháp giảng dạy và cơ hội bồi dưỡng chưa đồng đều. Tiếp cận công nghệ số, khoảng cách số khiến một bộ phận học sinh – sinh viên khó tiếp cận tri thức mới qua Internet và học trực tuyến.
Những hạn chế trong giáo dục, đào tạo đã tác động tới những hạn chế, bất cập trong đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Đổi mới sáng tạo, đặc biệt thông qua chuyển đổi số và đầu tư R&D, giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và dịch vụ, từ đó tăng giá trị gia tăng.  Mặc dù có những tiến bộ về GII, mức chi tiêu cho R&D của Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn. Năm 2021, tỷ lệ chi cho R&D chỉ đạt khoảng 0,42% GDP. Con số này thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu là 1,25% GDP (năm 2021) và các quốc gia dẫn đầu về đổi mới như Israel, Hàn Quốc, Hoa Kỳ hay các nước trong khu vực như Singapore và Thái Lan (Việt Nam News, 13/01/2025). Trong năm 2025, Việt Nam đặt mục tiêu chi ít nhất 3% ngân sách quốc gia cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tương đương khoảng 2% GDP trong giai đoạn 5 năm tới.
Ở Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp lớn đang dẫn đầu về ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp Việt Nam, đang đứng trước thách thức về vốn, công nghệ và quản trị, khiến việc chuyển đổi số và xanh hóa chưa thực sự đổi mới sáng tạo (Thu Giang, 2025). Việc triển khai công nghệ tiên tiến như AI, công nghệ xanh, nền tảng số còn hạn chế, dẫn đến năng suất chưa cao: “năng suất lao động của Việt Nam năm 2020 đạt 18,4 nghìn USD, chỉ bằng 11,3% mức năng suất của Singapore; 23% của Hàn Quốc; 24,4% của Nhật Bản; 33,1% của Malaysia; 59,1% của Thái Lan; 60,3% của Trung Quốc; 77% của Indonesia và bằng 86,5% năng suất lao động của Philippines. Năng suất lao động của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á chỉ cao hơn năng suất lao động của Campuchia (gấp 2,4 lần); Myanmar (1,6 lần); Lào (gấp 1,2 lần)” (Quế Chi, 2024). Liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học chưa mạnh, thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn yếu, thiếu hệ sinh thái đổi mới. Nhiều doanh nghiệp vẫn vận hành theo mô hình truyền thống, chưa tận dụng cơ chế sandbox hay các chính sách hỗ trợ mới.
4. Giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo

Một là, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình giáo dục và đào tạo gắn với thực tiễn yêu cầu phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Đổi mới nội dung, chương trình giáo dục và đào tạo gắn với thực tiễn yêu cầu phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, khuyến khích sáng tạo. Do vậy, tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng tăng cường nền tảng khoa học cơ bản về AI, an ninh mạng, chuỗi khối, điện tử, chíp bán dẫn, công nghệ số, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, môi trường, năng lượng (bao gồm cả năng lượng nguyên tử), vật liệu tiên tiến, rô bốt và tự động hóa, không gian vũ trụ, không gian biển, xây dựng công trình ngầm, vận hành đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao. Nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định tới đổi mới sáng tạo, để chúng ta không bị tụt hậu và có thể tham gia dẫn dắt một số lĩnh vực, công nghệ số, AI, tự động hóa, năng lượng mới… đang thay đổi toàn bộ phương thức sản xuất ở Việt Nam hiện nay.

Về mục tiêu giáo dục và đào tạo phải thật sự kiên định, vững vàng về bản lĩnh chính trị, thực sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng, năng lực và uy tín; có hiểu biết sâu sắc, toàn diện và khả năng tham gia thực hiện và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, chiến lược về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và các nhiệm vụ khác trong phạm vi quyền hạn của mỗi cá nhân. Đối với người lao động có trình độ cao phải có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, có trình độ cao về lý luận và khả năng nghiên cứu độc lập, năng lực thực hành chuyên môn sâu, có kỹ năng phản biện, phân tích, tổng hợp và khuyến khích sáng tạo; có trình độ ngoại ngữ, tin học tương ứng, đủ khả năng hòa nhập và làm việc trong môi trường quốc tế.

Đổi mới phương pháp đào tạo theo hướng hiện đại hóa, tinh giản nội dung, rút ngắn thời gian đào tạo, tăng thời gian thực hành, thực tế của người học, khuyến khích sáng tạo; bảo đảm tính logic, kế thừa, liên thông, tích hợp, sát thực tế. Phương pháp đào tạo mới cần “lấy học sinh, sinh viên làm trung tâm, chủ thể; thầy, cô giáo là động lực; nhà trường là bệ đỡ; gia đình là điểm tựa; xã hội là nền tảng”, “đồng kiến tạo tri thức” thông qua dự án nghiên cứu khoa học, tương tác mô phỏng, thực hành trong phòng thí nghiệm và tại doanh nghiệp. Để hiện thực hóa điều này, cần tiếp tục tổ chức các hoạt động đi nghiên cứu, khảo sát thực tế các cơ quan, địa phương. Tiếp thu những ý kiến góp ý, đề xuất của các cơ quan, đơn vị về công tác giáo dục và đào tạo. Phát huy hiệu quả vai trò trách nhiệm của hội đồng khoa học các cấp và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý trong giáo dục và đào tạo về việc xác định khối lượng kiến thức, phương pháp tổ chức đào tạo phù hợp cho từng đối tượng người lao động và xây dựng nội dung, chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, khuyến khích sáng tạo.

Hai là, tập trung kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo có năng lực sáng tạo, hội nhập quốc tế.

Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo là lực lượng chủ yếu, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, đào tạo người lao động, có vai trò quyết định chất lượng đào tạo đáp ứng điều kiện mới. Do đó, cần xác định xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên là công tác trọng tâm, là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Vì vậy, cần chủ động xây dựng tiêu chuẩn các chức danh theo hướng chuẩn hóa, làm cơ sở để đánh giá, phân loại và tuyển chọn cán bộ, giảng viên ở các cơ sở giáo dục. Tổ chức thực hiện nghiêm túc quy trình, kế hoạch tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục theo tiêu chuẩn chức danh. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch và sử dụng, có chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội đối với đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học, và cán bộ quản lý giáo dục. Coi trọng công tác tuyển chọn, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên toàn diện cả về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ học vấn, năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phong cách nhà giáo, trình độ tin học, ngoại ngữ, có năng lực sáng tạo, hội nhập quốc tế: “Có cơ chế, chính sách đặc biệt để phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài; chú trọng thu hút các nhà khoa học giỏi, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước, nhất là các ngành khoa học cơ bản và các lĩnh vực đặc biệt quan trọng. Bố trí sắp xếp hợp lý để cán bộ, giảng viên luân phiên đi thực tiễn, khảo sát các hoạt động thực tiễn ở các cơ quan, địa phương và đơn vị theo đúng yêu cầu giảng dạy. Hằng năm, tổ chức chặt chẽ hội thi cán bộ giỏi, giảng viên giỏi các cấp, giảng mẫu, tập huấn nghiệp vụ đầu năm học để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của ở các cơ sở giáo dục, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế và doanh nghiệp, liên kết đào tạo – nghiên cứu – sản xuất, nâng cao chất lượng nhân lực đổi mới sáng tạo.

Trong bối cảnh và định hướng phát triển khoa học, công nghệ của Đảng ta, đội ngũ người lao động nói chung và nhân lực khoa học, công nghệ nói riêng cần được ưu tiên đầu tư và đào tạo. Do đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế, mở rộng trao đổi học thuật, nghiên cứu chung, chương trình liên kết đào tạo để tiếp cận tri thức tiên tiến và chuẩn mực quốc tế. Chú trọng liên kết với doanh nghiệp, xây dựng chương trình đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn, tổ chức thực tập, dự án khởi nghiệp, giúp sinh viên có kỹ năng nghề nghiệp phù hợp. Tăng cường đào tạo – nghiên cứu – sản xuất, kết nối ba yếu tố này để biến tri thức thành sản phẩm, dịch vụ, công nghệ mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tập trung đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư vào phát triển các ngành khoa học, công nghệ chiến lược, có tính đột phá cao, dựa trên những lợi thế cạnh tranh cơ bản và hợp tác quốc tế mà Việt Nam đang có. Như vậy, thực hiện tốt các nội dung trên sẽ mang tính đột phá, giúp giáo dục và đào tạo thực sự trở thành nền tảng cho đổi mới sáng tạo, đồng thời tạo ra nguồn nhân lực vừa giỏi chuyên môn, vừa giàu kỹ năng hội nhập.

Bốn là, củng cố, phát triển hạ tầng cơ sở giáo dục, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, liên kết Nhà nước nhà trường doanh nghiệp phục vụ tốt nhất cho đổi mới sáng tạo.

Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở Việt Nam, việc phát triển hạ tầng cơ sở giáo dục, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và tăng cường liên kết giữa Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp là những giải pháp then chốt. Hạ tầng giáo dục cần được đầu tư đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là các cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng. Việc xây dựng phòng thí nghiệm chuẩn quốc tế, trung tâm dữ liệu, thư viện số và hệ thống học tập trực tuyến sẽ giúp sinh viên tiếp cận tri thức mới nhanh hơn, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu. Công tác nghiên cứu khoa học phải được đẩy mạnh thông qua cơ chế tài trợ minh bạch, khuyến khích các đề tài gắn với nhu cầu thực tiễn của xã hội và doanh nghiệp. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về thuế, vốn và quỹ đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, biến tri thức thành sản phẩm và dịch vụ có giá trị.

Liên kết Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp là yếu tố quyết định. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách, nhà trường cung cấp nguồn nhân lực và tri thức, còn doanh nghiệp là nơi ứng dụng và triển khai công nghệ. Mô hình “tam giác hợp tác” này sẽ tạo ra hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, bắt kịp xu hướng công nghệ toàn cầu và phát triển bền vững.
5. Kết luận
Trong bối cảnh kỷ nguyên mới với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo giữ vai trò nền tảng, quyết định chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc đầu tư đồng bộ vào hạ tầng giáo dục, nâng cao chất lượng giảng dạy, gắn đào tạo với thực tiễn sản xuất – kinh doanh sẽ tạo ra thế hệ lao động có tri thức, kỹ năng và tư duy sáng tạo. Công tác nghiên cứu khoa học cần được thúc đẩy mạnh mẽ, hướng đến giải quyết các vấn đề thực tiễn của đất nước, khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu để đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế – xã hội. Mô hình liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp chính là chìa khóa để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách và hỗ trợ tài chính; nhà trường cung cấp tri thức, nhân lực và nghiên cứu; doanh nghiệp là nơi ứng dụng và triển khai công nghệ. Do vậy, phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học và liên kết ba bên và là chiến lược lâu dài, bảo đảm cho đổi mới sáng tạo trở thành động lực bền vững của sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (04/11/2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Báo cáo tổng kết năm học 2023 – 2024 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2024 – 2025.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2026). Số liệu nổi bật lĩnh vực đổi mới sáng tạo năm 2025.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1997). Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 10). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
NH (21/3/2025). Học tập suốt đời – Chìa khóa tiến vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. https://tctph.vinhlong.gov.vn/bentre/hoc-tap-suot-doi-chia-khoa-tien-vao-ky-nguyen-phat-trien-giau-manh-duoi-su-lanh-dao-cua-dang-cong
Quế Chi (25/05/2024). Năng suất lao động của Việt Nam vẫn rất thấp trong khu vực. https://laodong.vn/cong-doan/nang-suat-lao-dong-cua-viet-nam-van-rat-thap-trong-khu-vuc-1344168.ldo
Thanh Hà & Bích Ngọc (10/8/2025). Nâng vị thế ngành học STEM. https://nhandan.vn/nang-vi-the-nganh-hoc-stem-post899257.html.
Thu Giang (2025). Tận dụng cơ hội từ Nghị quyết 57: Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần điều gì để bứt phá?. https://baochinhphu.vn/tan-dung-co-hoi-tu-nghi-quyet-57-doanh-nghiep-nho-va-vua-can-dieu-gi-de-but-pha-102250228125118374.htm
Tô Lâm (02/3/2025). Học tập suốt đời. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/hoc-tap-suot-doi
Việt Nam News (13/01/2025). Party chief urges a 3% budget allocation for science and technology in 2025. https://vietnamnews.vn/politics-laws/1690563/party-chief-urges-a-3-per-cent-budget-allocation-for-science-and-technology-in-2025.html