Hội thảo khoa học: “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới”

(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng ngày 28/9/2026, tại Hà Nội, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới”. TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện và PGS.TS. Đặng Khắc Ánh, Trưởng Khoa Quản lý phát triển xã hội, đồng chủ trì hội thảo. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các phân hiệu của Học viện.

Quang cảnh hội thảo.

Tham dự Hội thảo, về phía các đại biểu khách mời, có: GS.TS. Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long (VUSTA); PGS.TS. Phạm Lan Oanh, Phó Viện trưởng, Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam. Về phía Học viện Hành chính và Quản trị công, có lãnh đạo các khoa, ban, đơn vị; các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, học viên và sinh viên của Học viện tham dự trực tiếp và trực tuyến.

TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện, phát biểu khai mạc Hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Bùi Phương Đình khẳng định, trong phát triển hiện đại, văn hóa ngày càng được nhìn nhận là nguồn lực nội sinh quan trọng, thúc đẩy kinh tế – xã hội, đổi mới sáng tạo và củng cố sức mạnh mềm của quốc gia. Tuy nhiên, trước áp lực của toàn cầu hóa và sự bùng nổ công nghệ số, công tác bảo tồn văn hóa đang đối mặt với nhiều nguy cơ như thương mại hóa quá mức, xói mòn bản sắc và biến dạng các di sản truyền thống.

Thực trạng đó đòi hỏi sự thay đổi toàn diện trong tư duy về việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Về bảo tồn, không thể chỉ dừng lại ở việc duy trì nguyên trạng hay đóng khung di sản, mà phải giải quyết bài toán giúp các giá trị ấy tiếp tục sống động và đồng hành cùng đời sống đương đại. Về phát huy, việc khai thác không nên đơn thuần phục vụ mục tiêu kinh tế hay du lịch, mà cần hướng tới sự hài hòa, cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, giữa giữ gìn bản sắc và đổi mới sáng tạo, cũng như giữa lợi ích kinh tế và lợi ích văn hóa – xã hội. Đáng chú ý, để hiện thực hóa những định hướng này, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa trách nhiệm quản lý của Nhà nước với vai trò chủ thể sáng tạo của cộng đồng, người dân, nghệ nhân và đội ngũ văn nghệ sĩ, qua đó biến văn hóa thành nguồn lực vững chắc để kiến tạo tương lai.

PGS.TS. Đặng Khắc Ánh, Trưởng Khoa Quản lý phát triển xã hội, phát biểu đề dẫn hội thảo.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS.TS. Đặng Khắc Ánh khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là nguồn lực và động lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, các giá trị văn hóa đã góp phần hình thành bản lĩnh, cốt cách, bản sắc và sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Những giá trị đó không chỉ được lưu giữ trong các di sản vật thể và phi vật thể mà còn hiện diện trong hệ giá trị gia đình, cộng đồng, đạo đức, lối sống, tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, ngôn ngữ, phong tục, tập quán và trong cách ứng xử của con người với cộng đồng, thiên nhiên và xã hội.

Theo PGS.TS. Đặng Khắc Ánh, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với những thay đổi sâu sắc về mô hình tăng trưởng, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế. Những biến đổi đó đang tạo ra những cơ hội to lớn để văn hóa được lan tỏa, sáng tạo và chuyển hóa thành các nguồn lực mới cho phát triển. Đồng thời, chúng cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc bảo vệ bản sắc, duy trì tính đa dạng văn hóa và bảo đảm tính liên tục của các giá trị văn hóa truyền thống. Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới ở Việt Nam” được tổ chức nhằm tạo diễn đàn để các nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia và các chủ thể thực hành văn hóa cùng trao đổi, chia sẻ nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn, qua đó góp phần làm rõ cả phương diện lý luận và thực tiễn của vấn đề. PGS.TS. Đặng Khắc Ánh gợi mở một số nhóm nội dung cho các tham luận và trao đổi tại Hội thảo, gồm:

Thứ nhất, về nhận thức và lý luận, làm rõ vị trí, vai trò của văn hóa và các giá trị văn hóa trong mô hình phát triển mới của Việt Nam; làm rõ nội hàm của bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa; nghiên cứu mối quan hệ giữa việc bảo tồn các giá trị truyền thống với đổi mới sáng tạo và việc hình thành các giá trị văn hóa mới.

Thứ hai, về nhận diện và bảo vệ các giá trị văn hóa, đánh giá thực trạng bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể.

Thứ ba, về việc phát huy giá trị văn hóa trong phát triển kinh tế – xã hội.

Thứ tư, về chuyển đổi số và công nghệ, tập trung thảo luận về những cơ hội và thách thức mà số hóa mang lại đối với việc bảo tồn và phát huy văn hóa.

Thứ năm, về chính sách và thể chế, đánh giá hệ thống chính sách hiện hành liên quan đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa; xác định khoảng trống và những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phù hợp.

GS.TS. Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long (VUSTA), tham luận tại hội thảo.

Với tham luận: “Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa”, GS.TS. Từ Thị Loan phân tích mối quan hệ giữa chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Bà nhấn mạnh, đây là hai động lực có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất: chuyển đổi số tạo ra dữ liệu, công cụ công nghệ, quy trình quản lý và phương thức tiếp cận công chúng mới; trong khi đổi mới sáng tạo hướng tới những mô hình quản trị, cách diễn giải, sản phẩm văn hóa, cơ chế hợp tác và phương thức chia sẻ lợi ích mới. Vì vậy, số hóa mới chỉ là điều kiện cần; để di sản thực sự trở thành nguồn lực sống và đóng góp cho phát triển bền vững, cần đồng thời đổi mới tư duy, mô hình quản trị và cách thức phát huy giá trị của di sản.

Thực tiễn Việt Nam về việc áp dụng chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa cho thấy nhiều kết quả tích cực. Chính sách về số hóa di sản từng bước được hoàn thiện; nhiều bảo tàng, khu di tích và địa phương đã triển khai số hóa hiện vật, tư liệu, bản đồ, phim ảnh, thuyết minh tự động, không gian trưng bày số, bản đồ thông minh và trải nghiệm 3D. Một số địa điểm như: Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Cố đô Huế, Hội An, Mỹ Sơn và nhiều bảo tàng đã ứng dụng công nghệ để mở rộng khả năng tiếp cận di sản. Đồng thời, đổi mới sáng tạo thể hiện qua các chương trình giáo dục di sản, trải nghiệm nghề truyền thống, kết nối di sản với du lịch và công nghiệp sáng tạo.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số thách thức chiến lược, như: khoảng cách giữa số hóa và chuyển đổi số thực chất; nguy cơ thương mại hóa hoặc “sáng tạo hóa” quá mức làm suy giảm tính xác thực của di sản; vấn đề quyền sở hữu, quyền tiếp cận và phân phối lợi ích từ dữ liệu di sản; thiếu nhân lực liên ngành; nguồn lực tài chính còn phân tán; những vấn đề mới do AI đặt ra đối với quyền của cộng đồng, nghệ nhân và người thực hành di sản.

Trên cơ sở đó, GS.TS. Từ Thị Loan đề xuất một số giải pháp, gồm: xây dựng hệ sinh thái di sản số thay cho các dự án số hóa rời rạc; hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia có khả năng liên thông và xây dựng “hồ sơ số sống” cho từng di sản; chuyển sang mô hình quản trị đa chủ thể, đổi mới phương thức diễn giải và giáo dục di sản, phát triển công nghiệp sáng tạo dựa trên di sản; hoàn thiện pháp luật và đạo đức số; xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng; đầu tư cho nguồn nhân lực liên ngành và nâng cao năng lực số của cộng đồng chủ thể.

PGS.TS. Phạm Lan Oanh, Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, tham luận tại Hội thảo.

Với tham luận “Từ bản sắc tộc người đến sức sống vùng biên giới: di sản phi vật thể, an ninh văn hoá và sức mạnh mềm quốc gia”, PGS.TS. Phạm Lan Oanh tiếp cận thực tiễn Lễ hội Háng Sléng Réng (xã Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng) nhằm khẳng định rằng di sản văn hóa phi vật thể vùng biên giới là nguồn lực nội sinh quan trọng, gắn liền với an ninh quốc gia và sức mạnh mềm. Khảo sát địa-văn hóa tại Cửa khẩu Tà Lùng cho thấy bản sắc tộc người Tày – Nùng không phải là hằng số cố định mà mang tính dung hợp và tiếp biến linh hoạt. Tuy nhiên, di sản này đang đứng trước nguy cơ đứt gãy ký ức dân gian (đặc biệt là các văn tế Nôm Tày) và sự xâm hại hệ sinh thái Karst Pác Bó (nằm trong quần thể Khu di tích Pác Bó, núi Các Mác, tỉnh Cao Bằng). Trên cơ sở bước ngoặt thể chế từ Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Luật Di sản văn hóa năm 2024, PGS.TS. Phạm Lan Oanh đề xuất chuyển đổi mô hình quản trị sang trao quyền tự quản nghi lễ cho cộng đồng, đồng thời ngăn chặn 3 nguy cơ, gồm: sân khấu hóa, thương mại hóa và hành chính hóa. Việc bảo tồn trục không gian văn hóa liên hoàn và tích hợp giáo dục học đường không chỉ giúp cấy căn tính dân tộc cho thế hệ trẻ mà còn biến mỗi người dân thành một “cột mốc sống”, củng cố thế trận lòng dân và thúc đẩy ngoại giao nhân dân ở vùng biên giới Tổ quốc.

TS. Vũ Thị Minh Ngọc, Khoa Quản lý phát triển xã hội, tham luận tại Hội thảo.

Với tham luận “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dựa vào cộng đồng: kinh nghiệm từ người Māori ở New Zealand và gợi mở cho Việt Nam”, TS. Vũ Thị Minh Ngọc phân tích kinh nghiệm của người Māori ở Aotearoa, New Zealand trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, từ đó rút ra những gợi mở cho Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi xã hội.Từ đó, bà đề xuất bảy gợi mở chính cho Việt Nam: (1) Đưa cộng đồng trở thành chủ thể trung tâm; (2) Bảo đảm quyền văn hóa bằng thể chế; (3) Chuyển từ tham gia sang trao quyền và đồng quản trị; (4) Gắn bảo tồn với sinh kế và phát triển địa phương; (5) Đặt truyền thừa liên thế hệ ở vị trí trung tâm; (6) Ứng dụng công nghệ nhưng bảo đảm quyền kiểm soát của cộng đồng; và (7) Kiểm soát nguy cơ thương mại hóa, sân khấu hóa di sản. Đối với Việt Nam, cần chuyển từ “bảo tồn cho cộng đồng” sang “bảo tồn cùng cộng đồng và có sự làm chủ của cộng đồng”, đặc biệt đối với di sản của các dân tộc thiểu số.

Sinh viên Khoa Quản lý phát triển xã hội tích cực trao đổi, thảo luận tại Hội thảo.

Tại hội thảo, các sinh viên Khoa Quản lý phát triển xã hội đã tích cực trao đổi, thảo luận về những vấn đề thực tiễn đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong bối cảnh hiện nay. Nội dung trao đổi tập trung vào tác động của việc đưa di sản lên các nền tảng số; trong đó, bên cạnh khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận công chúng, cần có giải pháp quản lý phù hợp nhằm hạn chế nguy cơ thương mại hóa và bảo đảm giá trị nguyên bản của di sản.

Các sinh viên cũng quan tâm đến kinh nghiệm quốc tế trong việc bảo tồn và phát huy ngôn ngữ, văn hóa dân tộc, đặc biệt là mô hình giáo dục ngôn ngữ của người Māori, từ đó đặt ra vấn đề về việc xây dựng mô hình giáo dục phù hợp cho thế hệ trẻ tại các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Bên cạnh đó, những vấn đề đặt ra trong quá trình sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã cũng được trao đổi, với trọng tâm là yêu cầu hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm vừa bảo đảm sự thống nhất trong quản trị, vừa gìn giữ bản sắc văn hóa và những nét riêng của từng cộng đồng, địa phương.

TS. Đặng Thị Minh, Phó trưởng Khoa Quản lý phát triển xã hội, phát biểu bế mạc hội thảo.

Phát biểu bế mạc Hội thảo, TS. Đặng Thị Minh khẳng định hội thảo đã tạo diễn đàn trao đổi học thuật sâu sắc, kết nối chặt chẽ giữa lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế, qua đó, góp phần làm rõ những vấn đề đặt ra đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới. Các tham luận và ý kiến trao đổi tại Hội thảo đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học có giá trị, góp phần mở rộng cách tiếp cận và định hình những góc nhìn mới về quản trị và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh chuyển đổi số. Những kết quả của Hội thảo là cơ sở quan trọng phục vụ công tác nghiên cứu, tham mưu, hoạch định chính sách, đồng thời, góp phần đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý phát triển xã hội trong thời gian tới.

Các đại biểu tham dự hội thảo chụp ảnh lưu niệm.

Đinh Hương