The role of digital transformation in public management and the competitiveness of tourist sites in An Giang province
NCS. Dư Phạm Hữu Khuyến
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết xem xét vai trò của chuyển đổi số trong quản lý nhà nước đối với năng lực cạnh tranh của các điểm du lịch tại An Giang từ góc nhìn du khách. Dữ liệu khảo sát 330 du khách phục vụ nghiên cứu luận án của tác giả được phân tích cùng sáu nhóm yếu tố quản lý khác bằng thang đo, phân tích nhân tố khám phá và hồi quy tuyến tính bội. Nhóm chuyển đổi số gồm năm nội dung: hạ tầng viễn thông, ứng dụng công nghệ vào quản lý, điểm du lịch thông minh, dịch vụ trên nền tảng số và số hóa điểm du lịch. Hệ số chuẩn hóa của nhóm này đạt β = 0,261 (p < 0,001), cao nhất trong bảy nhóm yếu tố của mô hình; mô hình có R² hiệu chỉnh = 0,542. Kết quả cho thấy, chuyển đổi số có mối liên hệ thuận đáng chú ý với các biểu hiện năng lực cạnh tranh được du khách đánh giá, gồm sự hài lòng, quay lại và giới thiệu điểm du lịch. Bài viết đề xuất kết nối dữ liệu quản lý, cải thiện dịch vụ số theo hành trình du khách, phát triển năng lực thực thi và đánh giá kết quả bằng chỉ tiêu sử dụng thực tế.
Từ khóa: Chuyển đổi số; quản lý nhà nước; điểm du lịch; năng lực cạnh tranh; An Giang.
Abstract: This article examines the role of digital transformation in public management in relation to the competitiveness of tourist sites in An Giang, using visitor perceptions. Survey data from 330 visitors were analyzed alongside six other public management dimensions using exploratory factor analysis and multiple linear regression. The digital transformation dimension covers telecommunications infrastructure, technology use in management, smart tourist sites, digital platform services, and site digitization. Its standardized coefficient is β = 0.261 (p < 0.001), the largest among the seven dimensions; adjusted R² for the model is 0.542. The findings indicate a positive association with visitor-reported satisfaction, return visits, and recommendations. Policy implications concern interoperable management data, visitor-centered digital services, implementation capacity, and outcome monitoring.
Keywords: Digital transformation; public management; tourist sites; competitiveness; An Giang.
1. Đặt vấn đề
Cạnh tranh giữa các điểm du lịch phụ thuộc ngày càng nhiều vào khả năng tiếp cận thông tin, tổ chức dịch vụ và xử lý các vấn đề phát sinh trong chuyến đi. Một điểm đến có tài nguyên hấp dẫn nhưng thông tin phân tán, đặt dịch vụ khó khăn hoặc thiếu kênh phản hồi vẫn có thể tạo ra trải nghiệm không thuận lợi cho du khách. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số của cơ quan quản lý không chỉ là việc đưa thông tin lên mạng. Vấn đề kinh tế quản lý cốt lõi là sử dụng dữ liệu và công nghệ để giảm chi phí tìm kiếm, tăng khả năng phối hợp giữa các chủ thể và cải thiện chất lượng dịch vụ tại điểm du lịch.
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 đặt yêu cầu ứng dụng khoa học, công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch. Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030 tiếp tục tạo khuôn khổ chung cho quản trị dựa trên dữ liệu. Đối với An Giang, không gian du lịch hiện bao gồm các loại hình biển đảo, sinh thái, văn hóa và tâm linh với điều kiện kết nối, quy mô thị trường và trình độ cung ứng dịch vụ khác nhau. Năm 2026 địa phương đặt mục tiêu phát triển ngành du lịch có thương hiệu và sức cạnh tranh cao gắn với chuyển đổi số, đồng thời vận hành hệ thống website tích hợp video thực tế ảo, mua vé trực tuyến và ứng dụng di động phục vụ quảng bá, cung cấp thông tin (Cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang, 2026).
Một số bài viết gần đây đã bàn về chuyển đổi số trong quản trị điểm đến và quản lý tài nguyên du lịch ở Việt Nam, chủ yếu dựa trên phân tích tài liệu, chính sách và trường hợp địa phương; bổ sung bằng chứng từ khảo sát du khách ở An Giang, tập trung vào câu hỏi: khi xem xét đồng thời các mặt quản lý khác, chuyển đổi số có mối liên hệ như thế nào với năng lực cạnh tranh của các điểm du lịch theo cảm nhận của du khách? Việc trả lời câu hỏi này giúp xác định vị trí của chuyển đổi số trong một chương trình quản lý kinh tế du lịch, thay vì xem ứng dụng công nghệ là mục tiêu tự thân.
2. Cơ sở tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Chuyển đổi số trong quản lý điểm du lịch
Theo Luật Du lịch năm 2017, điểm du lịch gắn với tài nguyên hấp dẫn và nhu cầu tham quan của khách du lịch. Trong thực tiễn quản lý, trải nghiệm của khách tại một điểm còn phụ thuộc hạ tầng kết nối, dịch vụ của doanh nghiệp, thông tin về sức chứa, an toàn, môi trường và phối hợp giữa các cơ quan. Dwyer và Kim (2003) xem quản lý điểm đến là một thành phần của khung năng lực cạnh tranh, bên cạnh tài nguyên, điều kiện hỗ trợ và cầu du lịch. Cách tiếp cận này cho phép xem xét công cụ quản lý nhà nước trong quan hệ với kết quả thị trường và trải nghiệm du khách.
Chuyển đổi số ở đây được hiểu là đổi mới cách cơ quan quản lý thu thập, kết nối, phân tích và sử dụng dữ liệu để quản lý điểm du lịch, đồng thời tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp và du khách tiếp cận các dịch vụ số. Nghiên cứu về điểm đến thông minh của Ivars-Baidal và cộng sự (2019) cho thấy, công nghệ thông tin có thể thay đổi cả hoạt động quản lý lẫn tiếp thị điểm đến, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào mô hình tổ chức và khả năng sử dụng công nghệ. Vì thế, số lượng ứng dụng được triển khai chỉ là đầu vào; giá trị quản lý cần được nhận diện ở khả năng kết nối dịch vụ và giải quyết nhu cầu thực tế.
Về mặt lý thuyết, thông tin thống nhất và cập nhật có thể giảm thời gian tìm kiếm của khách; vé và dịch vụ số có thể giảm chi phí giao dịch; dữ liệu phản hồi có thể giúp cơ quan quản lý phát hiện quá tải, sai lệch chất lượng và điều phối xử lý sớm hơn. Đây là những cơ chế có thể giải thích mối liên hệ giữa chuyển đổi số và trải nghiệm du khách. Dữ liệu của bài viết chưa kiểm định riêng từng cơ chế này, do đó chúng được dùng để định hướng thảo luận chính sách, không được coi là kết quả thực nghiệm đã được chứng minh.
2.2. Dữ liệu và mô hình phân tích
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát 330 du khách theo cách chọn mẫu thuận tiện tại các điểm khảo sát ở An Giang. Phiếu sử dụng thang Likert năm mức. Trên cơ sở tổng quan tài liệu và tham vấn chuyên gia, mô hình phân tích gồm bảy nhóm yếu tố quản lý nhà nước và một nhóm biến phụ thuộc. Dữ liệu được xử lý bằng kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá và hồi quy tuyến tính bội.
Nhóm chuyển đổi số được đo bằng năm chỉ báo: hạ tầng viễn thông; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số vào quản lý du lịch; xây dựng điểm du lịch thông minh; thúc đẩy dịch vụ trên nền tảng số và số hóa các điểm du lịch. Sáu nhóm được đưa vào cùng mô hình là quản lý phát triển kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, an toàn và môi trường, truyền thông quảng bá, liên kết trong ngành, bảo tồn tài nguyên. Như vậy, hệ số của chuyển đổi số thể hiện mối liên hệ thống kê khi giữ cố định sáu nhóm biến còn lại trong mô hình, chứ không phải kết quả từ một hồi quy chỉ có một biến giải thích.
Năng lực cạnh tranh của điểm du lịch được thao tác hóa qua ba chỉ báo: sự hài lòng của du khách, việc quay trở lại và sự giới thiệu tích cực cho người khác. Đây là cách đo từ góc nhìn du khách, phù hợp với mục tiêu phân tích trải nghiệm và khả năng thu hút của điểm du lịch. Các chỉ tiêu kinh tế khác như doanh thu hoặc thị phần không nằm trong thang đo này. “Điểm du lịch” trong khảo sát được sử dụng theo cách gọi thực tiễn của các địa điểm tham quan, không hàm ý tất cả địa điểm đều có cùng tư cách pháp lý theo Luật Du lịch.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Đặc điểm thang đo chuyển đổi số
Thang đo chuyển đổi số có Cronbach’s Alpha = 0,863; thang đo kết quả đánh giá của du khách có Alpha = 0,731. Sau khi loại ba chỉ báo thuộc các nhóm yếu tố khác, phân tích nhân tố khám phá đối với các biến độc lập cho KMO = 0,843 và kiểm định Bartlett có p < 0,001. Bảy nhân tố được rút trích, giải thích 74,085% phương sai của nhóm biến quan sát còn lại. Cả năm chỉ báo chuyển đổi số được giữ trong nhân tố tương ứng. Các kiểm định này ủng hộ việc sử dụng thang đo trong mẫu hiện có, song chưa thay thế được kiểm định trên một mẫu độc lập.
Điểm trung bình của năm chỉ báo chuyển đổi số lần lượt là 3,89; 3,82; 3,94; 3,80 và 3,75 trên thang năm mức. Chỉ báo về xây dựng điểm du lịch thông minh được đánh giá cao nhất, còn số hóa các điểm du lịch thấp nhất trong nhóm. Sự khác biệt này gợi ý cần quan tâm hơn đến mức độ số hóa tại từng địa điểm và khả năng sử dụng thực tế của khách, nhất là khi các điểm du lịch có điều kiện hạ tầng và loại hình trải nghiệm khác nhau.
3.2. Mối liên hệ với năng lực cạnh tranh theo đánh giá của du khách
Mô hình hồi quy có R² = 0,552 và R² hiệu chỉnh = 0,542; kiểm định F(7; 322) = 56,590 với p < 0,001. Như vậy, bảy nhóm yếu tố giải thích khoảng 54,2% biến thiên của biến phụ thuộc trong mẫu sau khi điều chỉnh theo số biến. Bảng 1 trình bày các hệ số chuẩn hóa để so sánh mức độ liên hệ giữa các nhóm trong cùng mô hình.
Bảng 1. Kết quả hồi quy về năng lực cạnh tranh theo đánh giá của du khách
| Nhóm yếu tố quản lý nhà nước | B | β | p |
| Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin | 0,298 | 0,261 | < 0,001 |
| Bảo tồn tài nguyên du lịch | 0,275 | 0,206 | < 0,001 |
| Phát triển nguồn nhân lực | 0,189 | 0,198 | < 0,001 |
| Liên kết và cạnh tranh trong ngành | 0,180 | 0,175 | < 0,001 |
| An toàn, vệ sinh và môi trường | 0,178 | 0,148 | 0,001 |
| Truyền thông quảng bá | 0,077 | 0,099 | 0,017 |
| Phát triển kết cấu hạ tầng | 0,108 | 0,095 | 0,032 |
Chuyển đổi số có β = 0,261 và B = 0,298 (p < 0,001), là hệ số chuẩn hóa lớn nhất trong bảy nhóm. Nếu các nhóm còn lại không đổi, mức đánh giá chuyển đổi số tăng một độ lệch chuẩn gắn với mức tăng 0,261 độ lệch chuẩn ở biến kết quả trong mô hình. Không nên diễn giải β = 0,261 thành “chuyển đổi số làm tăng 26,1% năng lực cạnh tranh”. Tương quan Pearson hai biến cũng dương (r = 0,560), nhưng kết quả hồi quy mới cho thấy mối liên hệ sau khi xét đồng thời các yếu tố quản lý khác.
Kết quả đáng chú ý ở góc độ quản lý kinh tế là hạ tầng số, cách cung cấp dịch vụ và cách sử dụng dữ liệu có thể tạo ra giá trị đối với khách ngay tại điểm đến. Tuy nhiên, bảo tồn tài nguyên (β = 0,206) và phát triển nhân lực (β = 0,198) cũng có hệ số tương đối cao. Vì vậy, thứ tự β không phải bảng xếp hạng lợi ích chi phí để phân bổ ngân sách. Một hệ thống số hiệu quả cần dữ liệu tài nguyên đáng tin cậy, nhân sự vận hành và các đơn vị dịch vụ cùng tham gia; đầu tư nền tảng số tách khỏi các điều kiện này có thể không đem lại kết quả như kỳ vọng.
4. Hàm ý quản lý kinh tế đối với tỉnh An Giang
4.1. Xây dựng dữ liệu dùng chung phục vụ quyết định quản lý
Cần ưu tiên rà soát dữ liệu hiện có trước khi phát triển thêm cổng thông tin hoặc ứng dụng riêng lẻ. Cơ quan đầu mối quản lý du lịch cấp tỉnh có thể lập danh mục dữ liệu tối thiểu về tài nguyên, vị trí, tuyến kết nối, cơ sở dịch vụ, khả năng phục vụ, tình trạng an toàn và môi trường của từng điểm; xác định đơn vị chịu trách nhiệm cập nhật và tần suất kiểm tra. Dữ liệu công khai cho khách và doanh nghiệp cần tách khỏi dữ liệu nội bộ phục vụ thanh tra, điều phối hoặc dự báo. Cách làm này giúp giảm thông tin trùng lặp, sai lệch giữa các kênh và tạo cơ sở để phân tích luồng khách, nhu cầu dịch vụ theo mùa.
Trong không gian du lịch đa dạng của An Giang, việc liên thông dữ liệu giữa cấp tỉnh, xã, phường, đặc khu và các đơn vị quản lý điểm là điều kiện để hình thành tuyến du lịch kết nối biển đảo, tâm linh và sinh thái. Việc phân quyền cập nhật phải gắn với trách nhiệm kiểm chứng; chỉ tiêu theo dõi nên là tỷ lệ điểm có hồ sơ số được cập nhật đúng hạn và tỷ lệ thông tin sai được sửa sau phản ánh, thay vì chỉ đếm số hồ sơ đã nhập lên hệ thống.
4.2. Thiết kế dịch vụ số theo hành trình du khách
Tỉnh đã vận hành website quảng bá tích hợp nội dung thực tế ảo, mua vé trực tuyến và ứng dụng di động. Bước tiếp theo là đánh giá các kênh này từ phía người sử dụng: khách có tìm được giờ mở cửa, giá, đường đi, điều kiện an toàn và hình thức thanh toán trong một vài thao tác hay không; thông tin có nhất quán giữa kênh của chính quyền, ban quản lý và doanh nghiệp hay không. Ở các điểm đông khách, có thể kết hợp vé điện tử và thông tin thời gian thực về lượng khách, bãi đỗ, vận tải và thời tiết để hỗ trợ điều tiết. Ở các điểm cộng đồng hoặc sinh thái có điều kiện số hạn chế, cần duy trì cả hướng dẫn trực tiếp và thông tin dễ truy cập trên điện thoại phổ thông.
Mỗi giải pháp số cần có chỉ tiêu đầu ra gắn với chi phí và trải nghiệm: tỷ lệ khách sử dụng kênh số, thời gian tìm thông tin hoặc mua vé, số phản ánh được xử lý đúng hạn, tỷ lệ hài lòng sau chuyến đi và mức độ sử dụng lặp lại. So sánh trước và sau triển khai ở từng điểm có thể cung cấp bằng chứng tốt hơn cho quyết định mở rộng đầu tư. Kết nối nền tảng công với doanh nghiệp nên dựa trên giao thức, quy tắc chia sẻ dữ liệu và điều kiện tiếp cận minh bạch để tránh một kênh độc quyền làm tăng chi phí cho các cơ sở kinh doanh nhỏ.
4.3. Gắn công nghệ với năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình
Chuyển đổi số làm thay đổi quy trình phối hợp giữa cán bộ quản lý, đơn vị vận hành điểm và doanh nghiệp. Tỉnh cần phân định ai tiếp nhận và xử lý cảnh báo về quá tải, vệ sinh, an toàn, niêm yết giá hoặc chất lượng dịch vụ; thời hạn xử lý và cách phản hồi lại cho khách. Bồi dưỡng nhân lực nên tập trung vào quản trị dữ liệu, an toàn thông tin, phân tích báo cáo và sử dụng phản ánh của khách để điều chỉnh hoạt động, thay vì chỉ hướng dẫn thao tác phần mềm. Đồng thời, cần quy định quyền truy cập, bảo vệ dữ liệu cá nhân và kiểm tra chất lượng dữ liệu khi kết nối các hệ thống.
Để giữ trọng tâm quản lý kinh tế, các dự án số phải được lựa chọn theo vấn đề cần giải quyết và khả năng tạo giá trị công. Có thể triển khai thí điểm tại một vài loại hình điểm du lịch khác nhau, xác lập đường cơ sở về trải nghiệm khách và chi phí quản lý, rồi đánh giá độc lập trước khi nhân rộng. Phương án này giúp phân biệt tác dụng của số hóa thông tin, cải tiến quy trình phục vụ và những yếu tố khác như đầu tư hạ tầng hoặc nâng chất lượng nhân lực. Nó cũng giảm nguy cơ đầu tư trùng lặp khi bộ máy và dữ liệu quản lý địa phương đang được sắp xếp, tích hợp.
5. Kết luận
Trên dữ liệu khảo sát 330 du khách tại An Giang, nhóm chuyển đổi số trong quản lý nhà nước có mối liên hệ thuận với năng lực cạnh tranh của các điểm du lịch theo đánh giá của du khách và có hệ số chuẩn hóa lớn nhất trong mô hình bảy nhóm yếu tố (β = 0,261; p < 0,001). Kết quả cho thấy một hướng ưu tiên chính sách: dùng dữ liệu và dịch vụ số để cải thiện khả năng tiếp cận, chất lượng phối hợp và phản hồi tại điểm đến, đồng thời gắn chuyển đổi số với bảo tồn tài nguyên và phát triển nhân lực. Do dữ liệu được thu thập tại một thời điểm từ mẫu thuận tiện, kết quả cho thấy mối liên hệ thống kê trong mẫu khảo sát, chưa đủ để khẳng định quan hệ nhân quả. Những nghiên cứu tiếp theo có thể kết hợp dữ liệu hành chính, chỉ tiêu kinh tế của điểm du lịch và khảo sát doanh nghiệp để đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả quản lý và năng lực cạnh tranh.
Tài liệu tham khảo:
Cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang (2026). An Giang: Phát triển du lịch thành ngành kinh tế quan trọng. https://angiang.gov.vn/vi/an-giang-phat-trien-du-lich-thanh-nganh-kinh-te-quan-trong
Dwyer, L. & Kim, C. (2003). Destination Competitiveness: Determinants and Indicators. Current Issues in Tourism, 6(5), tr. 369–414. https://doi.org/10.1080/13683500308667962
Nguyễn Thu Hải (04/8/2026). Chuyển đổi số trong quản trị điểm đến du lịch biển ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/08/04/chuyen-doi-so-trong-quan-tri-diem-den-du-lich-bien-o-viet-nam/
Quốc hội (2017). Luật Du lịch năm 2017.
Ivars-Baidal, J. A., Celdrán-Bernabeu, M. A., Mazón, J.-N. & Perles-Ivars, Á. F. (2019). “Smart destinations and the evolution of ICTs: a new scenario for destination management?”, Current Issues in Tourism, 22(13), tr. 1581–1600. https://doi.org/10.1080/13683500.2017.1388771
Nguyễn Thị Huỳnh Như & Châu Minh Tuấn (21/9/2026). Hoàn thiện chuyển đổi số trong quản lý và phát huy giá trị tài nguyên du lịch văn hóa tại đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Quản lý nhà nước https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/09/21/hoan-thien-chuyen-doi-so-trong-quan-ly-va-phat-huy-gia-tri-tai-nguyen-du-lich-van-hoa-tai-dong-bang-song-cuu-long/
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2045.



