Từ chuyển đổi hệ thống đến kiến tạo phát triển: Các ưu tiên về quản trị và năng lực thực thi ở Việt Nam

(Quanlynhanuoc.vn) – Phiên toàn thể đối thoại chính sách: từ chuyển đổi hệ thống đến kiến tạo phát triển – Các ưu tiên về quản trị và năng lực thực thi ở Việt Nam nhận được sự quan tâm của nhiều nhà quản lý và chuyên gia. PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Trưởng khoa Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công đảm nhiệm vai trò điều phối phiên đối thoại.

Toàn cảnh Phiên đối thoại chính sách.

Phiên đối thoại chính sách có sự tham gia của nhiều nhà quản lý và chuyên gia hàng đầu, như: TS. Trần Thị Minh Châu, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức biên chế, Bộ Nội vụ; bà Phạm Thị Thùy Hương, Phó Giám đốc Sở Nội vụ thành phố Quảng Ninh; bà Nguyễn Thị Tươi, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Hưng Yên; TS. Ko Tae Yeon, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam, Đồng Chủ tịch Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF); bà Hương Vũ, Tổng Giám đốc EY Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE), Phó Chủ tịch Hiệp hội các Nhà quản trị Doanh nghiệp Việt Nam (VACD); TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội.

Các đại biểu tập trung thảo luận nhiều vấn đề lớn:

Thứ nhất, về đột phá thể chế công vụ.

TS. Trần Thị Minh Châu, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức biên chế, Bộ Nội vụ.

Theo TS. Trần Thị Minh Châu, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức biên chế, Bộ Nội vụ, trong thời gian tới, đột phá về thể chế công vụ cần được xác định là một trong những ưu tiên quan trọng, bởi thể chế là nền tảng để tổ chức vận hành nền công vụ và điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh trong quá trình phát triển. Trong bối cảnh phương thức quản trị, cung ứng dịch vụ công và quan hệ giữa Nhà nước với người dân, doanh nghiệp đang thay đổi nhanh chóng, yêu cầu hoàn thiện thể chế càng trở nên cấp thiết. Theo đó, hoàn thiện thể chế công vụ cần tập trung vào ba yêu cầu: (1) Thể chế phải xuất phát và bám sát thực tiễn. Các quy định pháp luật cần được xây dựng từ những vấn đề, quan hệ đang phát sinh, qua đó kịp thời hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và đáp ứng yêu cầu thực tế; (2) Các quy định pháp luật phải bảo đảm tính khả thi. Quy định không chỉ đúng trên giấy mà cần được đánh giá toàn diện về tác động, đối tượng chịu sự điều chỉnh và điều kiện thực hiện. Điều này giúp hạn chế tình trạng quy định vừa ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung do chưa phù hợp với thực tiễn; và (3) Thể chế phải có tính dự báo. Trước sự phát triển nhanh của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và đặc biệt là AI, pháp luật cần chủ động dự liệu những quan hệ, tình huống có thể phát sinh trong tương lai, thay vì chỉ xử lý khi vấn đề đã xảy ra.

Như vậy, đột phá thể chế công vụ không chỉ là ban hành thêm các quy định mới mà quan trọng hơn là đổi mới tư duy xây dựng thể chế: lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy tính khả thi làm thước đo và lấy năng lực dự báo, thích ứng làm yêu cầu hướng tới tương lai. Đây là nền tảng để xây dựng một nền công vụ hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước.

Thứ hai, về năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả hoạt động của chính quyền, trong đó năng lực, trách nhiệm và sự dấn thân của người đứng đầu có vai trò đặc biệt quan trọng. Năng lực thực thi không chỉ dừng ở việc hoàn thành đúng nhiệm vụ được giao mà còn thể hiện ở khả năng nhận diện vấn đề từ thực tiễn, chủ động đề xuất giải pháp, huy động và phối hợp các nguồn lực, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện.

Bà Nguyễn Thị Tươi, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Hưng Yên.

Từ thực tiễn vận hành chính quyền địa phương hai cấp tại tỉnh Hưng Yên, bà Nguyễn Thị Tươi, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Hưng Yên cho rằng, phân cấp chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi thẩm quyền đi cùng với năng lực, dữ liệu và công cụ thực thi. Trong thực tế, dù một số thẩm quyền đã được giao cho cấp xã, song điều kiện thực hiện vẫn còn hạn chế, chẳng hạn trong khai thác dữ liệu đất đai hoặc vận hành hệ thống đăng ký hộ tịch điện tử. Tuy nhiên, các cơ quan vẫn phải bảo đảm thời hạn giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi cán bộ, công chức phải chủ động nhận diện khó khăn, chia sẻ và phối hợp nguồn lực để hoàn thành nhiệm vụ. Thực tế tỉnh Hưng Yên cho thấy, cần chuyển từ tư duy giao nhiệm vụ và kiểm tra việc hoàn thành nhiệm vụ sang giao mục tiêu, trao quyền và đánh giá bằng kết quả đầu ra; vị trí việc làm cần được xác định rõ về nhiệm vụ, yêu cầu năng lực và sản phẩm đầu ra; kết quả thực hiện chính là cơ sở quan trọng để đánh giá năng lực thực thi của cán bộ, công chức.

Thứ ba, làm rõ các thách thức lớn của khu vực công.

Thảo luận tại phiên đối thoại, bà Hương Vũ, Tổng Giám đốc EY Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE), Phó Chủ tịch Hiệp hội các Nhà quản trị Doanh nghiệp Việt Nam (VACD) cho rằng, thách thức lớn đối với khu vực công ở Việt Nam hiện nay không nằm ở nguồn lực tài chính hay công nghệ mà ở khả năng thích ứng với những thay đổi và mô hình quản trị mới. Theo đó, khu vực công cần đồng thời thích ứng với ba chuyển đổi lớn, gồm: quản trị bao trùm, kinh tế xanh và phát triển bền vững, chuyển đổi số. Ba yêu cầu này có mối liên hệ chặt chẽ và cần được triển khai đồng thời.

Về quản trị bao trùm, khu vực công không chỉ dừng ở việc ban hành chính sách, quy định và hành lang pháp lý mà cần đồng hành với doanh nghiệp trong quá trình thực thi. Việc tăng cường đối thoại, tham vấn doanh nghiệp trước và trong quá trình xây dựng chính sách, như các hoạt động tham vấn theo từng nhóm doanh nghiệp của Bộ Tài chính có thể giúp chính sách sát thực tiễn hơn. Đồng thời, các cơ quan nhà nước cần vận hành theo hướng phối hợp, liên thông như một hệ thống thống nhất, tránh tình trạng các thủ tục đầu tư phải đi qua nhiều cơ quan riêng lẻ, làm kéo dài thời gian và gia tăng chi phí cho doanh nghiệp.

Về phát triển bền vững, khu vực công phải giải quyết đồng thời yêu cầu duy trì tăng trưởng, thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao và thực hiện các mục tiêu về chuyển đổi xanh, giảm phát thải. Trong khi các doanh nghiệp lớn ngày càng đặt ra yêu cầu cao về năng lượng tái tạo và khung đánh giá ESG (environmental-social-governance môi trường – xã hội – quản trị), việc triển khai các cơ chế như mua bán điện trực tiếp hay điện mặt trời mái nhà vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về giá, hạ tầng và lưu trữ năng lượng. Điều này đòi hỏi khu vực công phải chủ động hoàn thiện thể chế và các điều kiện thực thi để thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh.

Về chuyển đổi số, thước đo không chỉ là số lượng thủ tục được số hóa mà quan trọng hơn là khả năng khai thác dữ liệu để nâng cao chất lượng và tốc độ ra quyết định. Việt Nam đã có lượng dữ liệu lớn nhưng còn tình trạng dữ liệu phân tán, khác biệt về định dạng và khó liên thông. Vì vậy, cần tập trung chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu hiệu quả, hướng tới cung cấp dịch vụ và ra quyết định dựa trên dữ liệu theo thời gian thực.

Từ đó, ba thách thức quản trị bao trùm, phát triển bền vững và chuyển đổi số không nên được xem là những vấn đề tách rời mà cần được triển khai đồng thời, qua đó nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và khả năng thích ứng, chống chịu của khu vực công trước những thay đổi trong tương lai.

Thứ tư, về rào cản tiếp cận chính sách và nguồn lực phát triển của doanh nghiệp.

TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội.

Tham gia phiên đối thoại chính sách, TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội cho rằng, bình đẳng không có nghĩa là hỗ trợ tất cả doanh nghiệp theo cùng một cách, mà phải tạo cơ hội để các doanh nghiệp có xuất phát điểm, quy mô và năng lực khác nhau đều có khả năng phát triển. Theo tinh thần chuyển từ quản lý sang phục vụ và kiến tạo, cần tiếp tục chuyển các định hướng chính sách thành khả năng tiếp cận thực chất đối với doanh nghiệp. Từ thực tiễn đó, ông chỉ ra 5 rào cản tiếp cận chính sách và nguồn lực phát triển của doanh nghiệp, đồng thời đề xuất 5 giải pháp tương ứng, gồm: (1) Khoảng cách về thông tin. Nhiều doanh nghiệp chưa biết chính sách nào phù hợp và tiếp cận bằng cách nào. Chính quyền cần chuyển từ công bố thụ động sang chủ động cung cấp thông tin, sử dụng dữ liệu để tiếp cận từng nhóm doanh nghiệp và làm rõ điều kiện, hồ sơ, đầu mối, thời hạn thực hiện; (2) Khoảng cách về thực thi. Thủ tục có thể đúng ở từng khâu nhưng doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong cả quá trình. Cần có một đầu mối điều phối xuyên suốt, hạn chế yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại dữ liệu đã có, đồng thời công khai thời hạn và lý do chậm trễ; (3) Khoảng cách về nguồn lực. Hỗ trợ cần được phân tầng theo nhu cầu và quy mô doanh nghiệp: doanh nghiệp siêu nhỏ cần hỗ trợ kế toán, kỹ năng số; doanh nghiệp mở rộng cần vốn, mặt bằng, thị trường; trong khi đó, doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng cần công nghệ, chứng nhận kỹ thuật và tư vấn nhân lực; (4) Khoảng cách về thị trường. Chính quyền cần công khai nhu cầu mua sắm của khu vực công, các tiêu chuẩn kỹ thuật và tạo điều kiện thử nghiệm sản phẩm, đơn hàng, qua đó mở rộng cơ hội thị trường cho doanh nghiệp; (5) Khoảng cách về tiếng nói. Doanh nghiệp cần được tham gia vào quá trình thiết kế chính sách hỗ trợ. Việc tham vấn cần được thực hiện theo quy mô, ngành nghề và nhóm doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp đã và chưa từng tiếp cận chính sách.

TS. Ko Tae Yeon, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam, Đồng Chủ tịch Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF).

Từ góc độ doanh nghiệp Hàn Quốc, TS. Ko Tae Yeon, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam, Đồng Chủ tịch Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) nhấn mạnh nhu cầu về tính ổn định, dự báo và bền vững của chính sách, đặc biệt trong lĩnh vực thu hút FDI. Chính sách cần được xây dựng với tầm nhìn hội nhập quốc tế, tránh cách tiếp cận quá đặc thù hoặc mang tính bảo hộ, đồng thời cân nhắc đầy đủ tác động đối với quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài. Cùng với đó, trách nhiệm giải trình và năng lực thực thi của cơ quan nhà nước cần được tăng cường; việc xây dựng chính sách không chỉ dừng ở thảo luận mà cần gắn với khảo sát thực tế, nhận diện đúng vấn đề và phối hợp tìm giải pháp.

PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Trưởng khoa Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công.

Phát biểu kết luận, PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Trưởng khoa Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công khẳng định, phiên Đối thoại chính sách đã diễn ra trong không khí thẳng thắn, cởi mở và có tính tương tác cao, với nhiều góc nhìn đa chiều từ các chuyên gia, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp. Nhìn tổng thể, các thông điệp của phiên Đối thoại cho thấy chuyển đổi hệ thống, nâng cao năng lực thực thi, thúc đẩy quản trị bao trùm và xây dựng nền quản trị dựa trên đồng thuận, niềm tin và sự tham gia là những yêu cầu có tính liên kết chặt chẽ. Đây cũng là những định hướng quan trọng để tiếp tục nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và năng lực thích ứng của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Nhóm phóng viên