Các xu hướng mới trong quản trị và cải cách khu vực công

(Quanlynhanuoc.vn) – Ngày 06/10/2026, Diễn đàn quốc tế thường niên về quản trị công năm 2026 bước vào ngày làm việc thứ hai tại Học viện Hành chính và Quản trị công (77 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội), với 20 phiên chuyên đề diễn ra song song. Các phiên thảo luận tập trung vào 5 nhóm chủ đề: quản trị phát triển và phát triển bền vững; chính phủ số, trí tuệ nhân tạo và quản trị dữ liệu; chính phủ sẵn sàng trước tương lai và quản trị thích ứng; lãnh đạo, năng lực khu vực công và các thách thức mới nổi; chuyển đổi hệ thống và cải cách thể chế.

Trong chương trình làm việc, các đại biểu, chuyên gia và nhà nghiên cứu đến từ nhiều quốc gia đã tập trung trao đổi những vấn đề đang đặt ra đối với quản trị công trong bối cảnh chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, yêu cầu phát triển bao trùm và những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế – xã hội. Các tham luận không chỉ phân tích những vấn đề thực tiễn tại từng quốc gia mà còn gợi mở những cách tiếp cận có giá trị tham khảo đối với quá trình đổi mới quản trị và cải cách khu vực công.

Quản trị phát triển và phát triển bền vững

Ở nhóm chủ đề “Quản trị phát triển và phát triển bền vững”, các Phiên 1, 6 và 9 tập trung làm rõ mối quan hệ giữa năng lực thể chế, nguồn lực tài chính, công nghệ, sự tham gia của cộng đồng và hiệu quả thực thi chính sách.

Phiên 1 do ông Rajendra Adhikari (Trường Hành chính Nê-pan) và PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà (Học viện Hành chính và Quản trị công) đồng điều phối.

Phiên 1 do ông Rajendra Adhikari (Trường Hành chính Nê-pan) và PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà (Học viện Hành chính và Quản trị công) đồng điều phối, với 5 bài tham luận của các chuyên gia đến từ Philippines, gồm: ông Michael Malachy D. Dagami, ông Bensen Alex Urbano Pola, bà Norhamen S. Abdulkadir, bà Jamille Vanessa E. Saplagio và bà Eminel Jane M. Alvior.

Các tham luận tập trung vào những vấn đề cốt lõi của quản trị địa phương và phát triển bền vững, từ hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đến phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo tồn tài nguyên và di sản.

(1) Tối ưu hóa quy trình và thể chế hóa quản trị địa phương. Nghiên cứu của ông Michael Malachy D. Dagami tại Sogod và bà Jamille Vanessa E. Saplagio tại Bataan chỉ ra những hạn chế trong quy hoạch, xuất phát từ tình trạng phân tán trong tổ chức thực hiện, tư duy quản lý theo hướng từ trên xuống và khoảng cách giữa việc ứng dụng công nghệ địa không gian (GIS) với thực tiễn quy hoạch. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển từ cách tiếp cận thiên về tuân thủ sang mô hình quản trị hợp tác, tăng cường phối hợp và chia sẻ quyền lực giữa các chủ thể.

(2) Bảo đảm nguồn lực và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách môi trường. Các tham luận của ông Bensen Alex Urbano Pola và bà Norhamen S. Abdulkadir tập trung vào những thách thức trong thực hiện các cam kết quốc tế về bảo tồn. Nghiên cứu cảnh báo nguy cơ chính sách và cam kết bảo tồn chỉ dừng lại ở hình thức nếu không được bảo đảm bằng nguồn lực tài chính tương xứng; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu chuyên nghiệp hóa lực lượng thực thi ở tuyến đầu và đa dạng hóa các nguồn lực phục vụ công tác bảo tồn.

(3) Thúc đẩy quản trị đa trung tâm và gắn bảo tồn với giá trị bản địa. Nghiên cứu của bà Eminel Jane M. Alvior về Di sản thế giới Dãy núi Hamiguitan (MHRWS) cho thấy, sự tham gia và phối hợp giữa nhà nước với cộng đồng có thể tạo ra hiệu quả tích cực trong quản lý, bảo tồn di sản. Tuy nhiên, mô hình này vẫn gặp những hạn chế liên quan đến thủ tục hành chính, thiếu hụt kinh phí và việc lồng ghép luật tục, tri thức bản địa của cộng đồng Mandaya vào quá trình quản trị và bảo tồn.

Nhìn chung, các tham luận cho thấy, phát triển bền vững và quản trị hiệu quả ở cấp địa phương không thể chỉ dựa vào các cam kết chính sách hay từng công cụ kỹ thuật riêng lẻ. Thay vào đó, cần hình thành một hệ sinh thái quản trị trong đó thể chế, nguồn lực tài chính, công nghệ, năng lực thực thi và sự tham gia của cộng đồng được kết nối và hỗ trợ lẫn nhau, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị và bảo đảm tính bền vững của các chính sách trong thực tiễn.

Phiên 6 do TS. Sushmita Acharya, Ủy viên Ban Chấp hành PAAN, giảng viên Đại học Tribhuvan và TS. Nguyễn Thị Mai, Học viện Hành chính và Quản trị công, điều phối.

Phiên 6 do TS. Sushmita Acharya, Ủy viên Ban Chấp hành PAAN, giảng viên Đại học Tribhuvan và TS. Nguyễn Thị Mai, Học viện Hành chính và Quản trị công, điều phối. Phiên thảo luận quy tụ các diễn giả đến từ Philippines, Hồng Kông, Trung Quốc và Malaysia, gồm: bà Raquel Smith C. Ortega, Bộ Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên/Đại học Cơ đốc giáo Philippines; Luật sư Brenice Ann Gendeve-Castillo, Kỹ sư Richard Aquino, Kỹ sư Ronald Villanueva và Kỹ sư Iris Kay Cortez, Văn phòng khu vực XI, Cục Mỏ và Khoa học địa chất (Philippines); bà Angela Lau, Học viện Hàng không Quốc tế Hồng Kông; bà Yi Su, Trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc); TS. Noor Rizawati Nasir, TS. Putri Noorafedah binti Megat Tajudin, TS. Teh Lian Tai và bà Nur Ezzati Zulkifli, Cục Công vụ Malaysia.

Quang cảnh Phiên 6.

Các tham luận tại Phiên 6 tiếp cận quản trị phát triển và phát triển bền vững từ nhiều góc độ, tập trung vào hoàn thiện thể chế, huy động và phân bổ nguồn lực, tăng cường phối hợp liên cơ quan và thúc đẩy quản trị bao trùm.

(1) Hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị ở cấp cơ sở. Nghiên cứu của bà Raquel Smith C. Ortega về khung quản trị chất thải tuần hoàn EsteroSafe tại Bulacan và nghiên cứu của nhóm tác giả Cục Mỏ và Khoa học địa chất Philippines về công cụ ICMT và Sổ tay vận hành khai khoáng quy mô nhỏ (SSM) cho thấy chính sách và tiềm năng tài nguyên chỉ có thể được chuyển hóa thành kết quả thực tế khi được thể chế hóa thông qua các công cụ quản trị phù hợp. Điều này đồng thời đòi hỏi tăng cường năng lực thực thi, phân quyền hợp lý và nâng cao vai trò của các cơ quan ở cấp cơ sở.

(2) Tăng cường điều phối và thiết kế các cơ chế huy động nguồn lực. Tham luận của bà Angela Lau về chiến lược phát triển đường bay do Học viện Hàng không Quốc tế Hồng Kông (HKIA) dẫn dắt và nghiên cứu của bà Yi Su về khủng hoảng tài chính của Liên hợp quốc cùng làm nổi bật vai trò của các thiết chế trung gian trong thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn. Nếu hạ tầng trung tâm có thể góp phần khắc phục những hạn chế của thị trường thông qua cơ chế điều phối và kết nối, thì các cơ chế tài chính đa phương cần giải quyết bài toán cân bằng giữa quyền kiểm soát của các quốc gia và thẩm quyền tập thể, qua đó, bảo đảm khả năng huy động nguồn lực cho các mục tiêu chung.

(3) Thúc đẩy quản trị bao trùm và trách nhiệm giải trình. Nghiên cứu của TS. Noor Rizawati Nasir cùng các cộng sự về mục tiêu bảo đảm tỷ lệ 1% người khuyết tật trong nền công vụ Malaysia mở rộng thảo luận từ quản trị nguồn lực sang quản trị xã hội bao trùm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện các mục tiêu về hòa nhập xã hội không thể chỉ dựa vào các biện pháp hành chính riêng lẻ mà cần cách tiếp cận toàn chính phủ, tăng cường phối hợp liên cơ quan, quản trị dữ liệu và trách nhiệm giải trình trong quá trình thực thi.

Nhìn chung, các tham luận tại Phiên 6 cho thấy, để chuyển hóa các mục tiêu phát triển và cam kết chính sách thành kết quả thực chất, cần đồng thời củng cố năng lực thể chế, cơ chế điều phối, nguồn lực tài chính, quản trị dựa trên dữ liệu và sự phối hợp giữa các chủ thể. Đây cũng là cơ sở để xây dựng các mô hình quản trị linh hoạt, bao trùm và có khả năng đáp ứng tốt hơn những thách thức phát triển trong bối cảnh mới.

Phiên 9 do TS. Bevaola Kusumasari, Đại học Gadjah Mada (Indonesia) và TS. Trần Thanh Nga, Học viện Hành chính và Quản trị công điều phối, với sự tham gia của các diễn giả đến từ Nhật Bản và Philippines, gồm: TS. Naoki Fujiwara, Đại học Otemon Gakuin, Osaka (Nhật Bản); bà Maria Katrina Hontanosas và ông Irish John A. Avis, Trường Quốc gia về Hành chính công và Quản trị, Đại học Philippines; TS. May Fernandez và Lher Verell S. Palabay, Bệnh viện Quận Rosario, Đại học Bang Don Mariano Marcos Memorial (Philippines); TS. Loraine Ann R. Madera và bà Florida U. Ursulom, Đại học Northern Philippines (Philippines).

Quang cảnh Phiên 9

Các tham luận tập trung vào những vấn đề gắn với quản trị phát triển đô thị, tài chính khí hậu, cung ứng dịch vụ công và thực thi pháp luật, qua đó, làm rõ yêu cầu nâng cao năng lực thể chế và tăng cường sự phối hợp giữa các chủ thể trong quá trình thực thi chính sách.

(1) Tăng cường liên kết thể chế và bảo đảm tính bền vững của phát triển đô thị. Nghiên cứu của TS. Naoki Fujiwara về mô hình gắn kết thể chế qua sự kiện Expo 2025 cho thấy, các cơ hội phát triển được tạo ra trong ngắn hạn không tự động chuyển hóa thành những giá trị và lợi ích lâu dài nếu thiếu cơ chế chiến lược để duy trì và phát huy sau sự kiện. Vì vậy, phát triển đô thị bền vững cần xác định rõ vai trò của khu vực công và khu vực tư nhân, đồng thời xây dựng các cơ chế liên kết có khả năng duy trì ngay cả khi sự kiện đã kết thúc.

(2) Nâng cao năng lực cộng đồng trong quản trị rủi ro và thích ứng khí hậu. Tham luận của bà Maria Katrina Hontanosas về Quỹ Sinh tồn Nhân dân (PSF) và nghiên cứu của ông Irish John A. Avis về vai trò của các hiệp hội chủ nhà (HOAs) cùng chỉ ra khoảng cách giữa các cam kết chính sách và khả năng tiếp cận, hấp thụ nguồn lực ở cấp cộng đồng. Các nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết đơn giản hóa thủ tục, nâng cao năng lực kỹ thuật và củng cố vai trò pháp lý của các tổ chức cộng đồng, qua đó, tăng khả năng tham gia và chủ động ứng phó với các rủi ro khí hậu.

(3) Nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công và thực thi pháp luật. Tham luận của TS. May Fernandez và Lher Verell S. Palabay về mô hình doanh nghiệp y tế địa phương (MEEs) tại La Union và nghiên cứu của TS. Loraine Ann R. Madera cùng các cộng sự về thực thi Luật Phòng, chống lái xe mất tập trung (RA 10913) cho thấy, hiệu quả quản trị phụ thuộc vào sự kết hợp giữa quyền tự chủ, trách nhiệm công và năng lực tổ chức thực thi. Bên cạnh các biện pháp quản lý và chế tài, giáo dục, truyền thông và ứng dụng công nghệ cũng giữ vai trò quan trọng trong nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi và bảo đảm hiệu quả thực thi pháp luật.

Nhìn chung, các tham luận tại Phiên 9 cho thấy, hiệu lực của quản trị phát triển không chỉ phụ thuộc vào chất lượng thiết kế chính sách mà còn quyết định bởi năng lực thực thi, khả năng hấp thụ nguồn lực và mức độ phối hợp giữa chính quyền, khu vực tư nhân và cộng đồng. Việc tăng cường các mối liên kết này là điều kiện quan trọng để chuyển hóa chính sách thành kết quả thực chất và bảo đảm lợi ích phát triển bền vững cho người dân.

Chính phủ số, trí tuệ nhân tạo và quản trị dữ liệu

Nhóm chủ đề “Chính phủ số, trí tuệ nhân tạo và quản trị dữ liệu” được thảo luận tại các Phiên 2, 7 và 10, tập trung làm rõ những thay đổi mà công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu đang tạo ra đối với tổ chức, phương thức vận hành và cung ứng dịch vụ của khu vực công. Các tham luận không chỉ đề cập đến việc ứng dụng công nghệ mà còn đặt vấn đề về năng lực con người, quản trị tri thức, an toàn số, tính bao trùm và yêu cầu hoàn thiện thể chế để công nghệ thực sự tạo ra giá trị công.

Phiên 2 do bà Samvidha Pathak (Thành viên PAAN, Phó Giám đốc UGC) và PGS.TS. Nguyễn Nghị Thanh (Học viện Hành chính và Quản trị công) điều phối.

Phiên 2 do bà Samvidha Pathak (Thành viên PAAN, Phó Giám đốc UGC) và PGS.TS. Nguyễn Nghị Thanh (Học viện Hành chính và Quản trị công) điều phối, với sự tham gia của các diễn giả đến từ Philippines và Indonesia, gồm: TS. Jonald F. Carrera, TS. Rahima Abdul Kabir, TS. Lher Verell S. Palabay, TS. Bevaola Kusumasari, GS. Sajida và TS. Alder Deloro.

Các tham luận tập trung vào ba vấn đề chính:

(1) Số hóa quy trình và nâng cao hiệu quả quản trị. Nghiên cứu của TS. Jonald F. Carrera về hệ thống Act-InSu trong môi trường đại học và TS. Lher Verell S. Palabay về hệ thống eNGAS tại chính quyền địa phương cho thấy các công cụ số có thể góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu suất hoạt động. Tuy nhiên, hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn đòi hỏi quy trình được chuẩn hóa và đội ngũ có đủ năng lực vận hành.

(2) Chuẩn hóa thực thi và quản trị tri thức trong tổ chức. TS. Rahima Abdul Kabir đề xuất Sổ tay cấp phép y tế nhằm hỗ trợ khắc phục áp lực nhân sự và sự thiếu nhất quán trong thực thi chính sách ở tuyến đầu. Trong khi đó, TS. Bevaola Kusumasari và GS. Sajida nhấn mạnh quản trị tri thức cần được tích hợp vào cơ chế tổ chức và thể chế, thay vì chỉ được xem là vấn đề của hạ tầng công nghệ.

(3) Xây dựng khung quản trị AI gắn với trách nhiệm giải trình. Nghiên cứu của TS. Alder Deloro về khung quản trị AI gồm 6 chiều kích phục vụ trách nhiệm giải trình khí hậu nhấn mạnh các yêu cầu về minh bạch, giám sát của con người và bảo đảm công bằng xã hội trong quá trình ứng dụng AI.

Các tham luận tại Phiên 2 cho thấy, chuyển đổi số trong khu vực công không đơn thuần là đưa công nghệ vào các quy trình hiện có, mà đòi hỏi đồng thời đổi mới quy trình, phát triển năng lực tổ chức và hoàn thiện cơ chế quản trị.

Phiên 7 do TS. Alder Delloro, Trường Hành chính và Quản trị công, Đại học Philippines và PGS.TS. Nguyễn Nghị Thanh, Học viện Hành chính và Quản trị công điều phối.

Phiên 7 do TS. Alder Delloro, Trường Hành chính và Quản trị công, Đại học Philippines và PGS.TS. Nguyễn Nghị Thanh, Học viện Hành chính và Quản trị công điều phối; các diễn giả gồm: TS. Go Nakagawa, Đại học Quốc tế Okinawa (Nhật Bản); bà Rima Ranintya Yusuf và bà Keisha Solihati, Trường Quản trị NIPA Jakarta (Indonesia); TS. Aaron Funa, Đại học Bang Sorsogon (Philippines); bà Adeline Intervalo, Đại học Philippines Diliman (Philippines); ông Nicanor De Vera Germono, Jr, Trường Cao đẳng Bách khoa Pangasinan (Philippines).

Nếu Phiên 2 tập trung nhiều hơn vào nền tảng tổ chức và quy trình, Phiên 7 mở rộng thảo luận sang năng lực con người, an toàn số, tính bao trùm và sự tham gia của công dân.

Nghiên cứu của TS. Go Nakagawa về áp dụng EBPM tại Nhật Bản và ông Nicanor De Vera Germono, Jr về sử dụng Generative AI của cán bộ quản lý cấp trung cho thấy năng lực số cần được phát triển song hành với năng lực diễn giải và sử dụng bằng chứng. Khoảng cách giữa nhận thức tích cực về AI và năng lực sử dụng thực tế đặt ra yêu cầu xây dựng các chương trình đào tạo có chiến lược, dựa trên bằng chứng và phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Ở phương diện bảo đảm tính bao trùm và an toàn, nghiên cứu của TS. Aaron Funa về trải nghiệm an ninh mạng của giảng viên và nghiên cứu của bà Rima Ranintya Yusuf cùng bà Keisha Solihati về sự hòa nhập của lao động lớn tuổi tại Indonesia cho thấy chuyển đổi số cần tính đến khả năng tiếp cận và mức độ an toàn của các nhóm khác nhau, tránh tạo thêm những khoảng cách mới trong quá trình số hóa.

Trong khi đó, nghiên cứu của bà Adeline Intervalo về Cổng thông tin ngân sách nhân dân tại Thành phố Naga (Philippines) cho thấy công nghệ công dân, nếu được kết hợp với cơ chế pháp lý địa phương, công nghệ mã nguồn mở và sự tham gia của xã hội dân sự, có thể góp phần tăng cường quyền năng của người dân và bảo vệ giá trị công trước những tác động của chu kỳ chính trị.

Phiên 10 do PGS.TS. Juvy Lizette Gervacio, Đại học Mở Philippines và TS. Nguyễn Tuấn Hưng, Học viện Hành chính và Quản trị công điều phối.

Phiên 10 do PGS.TS. Juvy Lizette Gervacio, Đại học Mở Philippines và TS. Nguyễn Tuấn Hưng, Học viện Hành chính và Quản trị công điều phối; các diễn giả gồm: TS. Hyung Jun Park, Đại học Sungkyunkwan (Hàn Quốc); ông Juan Moshe M. Duyan, Đại học công lập Kalinga (Philippines); bà Keisha Dinya Solihati, Politeknik STIA LAN Jakarta (Indonesia); TS. Glenne Lagura, Davao del Norte State College (Philippines); bà Maureen Chan, Hiệp hội Hành chính công Hồng Kông (Trung Quốc).

Trên nền tảng các vấn đề về số hóa quy trình và năng lực con người được thảo luận tại hai phiên trước, Phiên 10 đi sâu hơn vào hệ sinh thái công nghệ, hạ tầng số và cơ chế điều tiết AI, qua đó làm rõ yêu cầu chuyển từ ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang xây dựng mô hình quản trị số có tính liên thông.

(1) Xây dựng hệ sinh thái AI và tạo dựng giá trị công. Nghiên cứu của TS. Hyung Jun Park về mô hình tiếp nhận AI tại 71 cơ quan nhà nước Hàn Quốc và TS. Glenne Lagura về tích hợp nền tảng ICT trong quản trị giáo dục đại học cho thấy, đầu tư công nghệ hoặc xây dựng khung AI chưa đủ để bảo đảm kết quả quản trị. Yếu tố quyết định là khả năng hình thành hệ sinh thái quản trị kết nối, liên thông và phù hợp với chức năng của từng tổ chức.

(2) Phát triển hạ tầng số bao trùm và năng lực của đội ngũ công chức. Báo cáo của ông Juan Moshe M. Duyan về kết nối số và mức độ trưởng thành GovTech tại 162 nền kinh tế, cùng nghiên cứu của bà Keisha Dinya Solihati về chiến lược chính phủ số sẵn sàng cho tương lai tại Indonesia, nhấn mạnh yêu cầu phát triển hạ tầng số đồng thời với nâng cao năng lực con người. Quá trình chuyển từ các dịch vụ trực tuyến phân mảnh sang mô hình quản trị liên thông cần được hỗ trợ bằng các chính sách về năng lực số, đạo đức công vụ và khả năng tiếp cận.

(3) Hoàn thiện cơ chế điều tiết và trách nhiệm giải trình đối với AI tạo sinh. Bà Maureen Chan phân tích vấn đề điều tiết AI tạo sinh trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng tại Hồng Kông, qua đó nhấn mạnh yêu cầu giám sát chủ động, bảo đảm an toàn vận hành, tuân thủ quy định và duy trì niềm tin của công chúng.

Nhìn chung, các tham luận tại Phiên 2, 7 và 10 cho thấy, quá trình chuyển đổi số của khu vực công đang chuyển từ ứng dụng công nghệ trong từng hoạt động riêng lẻ sang tái cấu trúc phương thức quản trị trên nền tảng dữ liệu, AI và các hệ thống liên thông. Để quá trình này tạo ra giá trị công bền vững, cần đồng thời đổi mới quy trình, phát triển năng lực con người, bảo đảm tính bao trùm và an toàn, xây dựng hệ sinh thái công nghệ kết nối và hoàn thiện các cơ chế điều tiết, giám sát và trách nhiệm giải trình.

Chính phủ sẵn sàng trước tương lai và quản trị thích ứng

Phiên 3 do ông Lesther Balmatero, Trường Hành chính công và Quản trị quốc gia, Đại học Philippines (UP-NCPAG) và NCS. Lê Thị Thanh Tuyền, Học viện Hành chính và Quản trị công (APAG) điều phối.

Phiên 3 do ông Lesther Balmatero, Trường Hành chính công và Quản trị quốc gia, Đại học Philippines (UP-NCPAG) và NCS. Lê Thị Thanh Tuyền, Học viện Hành chính và Quản trị công (APAG) điều phối; với sự tham gia của các diễn giả: bà Angelika Nicole P. Alberto, Trường Cao đẳng Bách khoa Pangasinan (Philippines); bà Mary Anne M. Polestina, Đại học Bang Mindanao – Zamboanga Sibugay (Philippines); bà Samantha Grace E. Moscoso, Cục Dịch vụ Mua sắm – Bộ Ngân sách và Quản lý (Philippines); ông Carlos Bryan G. Nolido, Đại học Khoa học và Công nghệ Nueva Ecija (Philippines); bà Maria Fe C. Abanes, Trường Hành chính công và Quản trị quốc gia, Đại học Philippines – Diliman; ông Ralph Darren S. Santillan, Đại học Bang Mindanao – Maguindanao (Philippines).

Các tham luận tập trung làm rõ những yếu tố quyết định khả năng dự báo, chuẩn bị, thích ứng và học hỏi của khu vực công trước các biến động ngày càng phức tạp. Nội dung thảo luận có thể khái quát qua ba nhóm vấn đề chính.

(1) Tăng cường năng lực dự báo và học hỏi dựa trên dữ liệu. Nghiên cứu của bà Angelika Nicole P. Alberto cho thấy, một tổ chức công sẵn sàng trước tương lai không chỉ dừng lại ở việc thu thập và lưu trữ dữ liệu mà cần có khả năng khai thác dữ liệu để nhận diện điểm nghẽn, điều chỉnh chính sách và rút kinh nghiệm từ thực tiễn. Điều này đòi hỏi xây dựng văn hóa học hỏi liên tục và nâng cao năng lực sử dụng thông tin trong quá trình ra quyết định.

(2) Nâng cao khả năng chuẩn bị và thích ứng trước rủi ro. Nghiên cứu của bà Mary Anne M. Polestina chỉ ra mối liên hệ giữa nhận thức rủi ro và mức độ sẵn sàng của cộng đồng. Theo đó, truyền thông rủi ro, diễn tập, lập kế hoạch ứng phó và sự tham gia của người dân cần được xem là những bộ phận gắn kết trong quản trị rủi ro, thay vì chỉ được triển khai khi xảy ra khủng hoảng.

(3) Xây dựng năng lực thể chế và nguồn nhân lực thích ứng. Trong lĩnh vực mua sắm công, nghiên cứu của bà Samantha Grace E. Moscoso và ông Carlos Bryan G. Nolido cho thấy, số hóa chỉ tạo ra thay đổi thực chất khi đi cùng năng lực thể chế, kỹ năng số, hệ thống dữ liệu liên thông và quá trình thiết kế lại quy trình. Ở góc độ nguồn nhân lực, bà Maria Fe C. Abanes đề xuất cách tiếp cận “trí tuệ chiến lược về lực lượng lao động”, kết nối dữ liệu nhân sự, năng lực, tri thức tổ chức và các tín hiệu từ môi trường để nhận diện sớm nhu cầu về nhân lực và năng lực của khu vực công.

Khía cạnh thích ứng cũng được mở rộng từ tổ chức công sang cộng đồng. Nghiên cứu của ông Ralph Darren S. Santillan cùng các cộng sự về cộng đồng bản địa Tëduray cho thấy, quản trị thích ứng cần bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin, nguồn lực và đất đai; đồng thời, tạo điều kiện để cộng đồng tham gia thực chất vào quá trình ra quyết định.

Nhìn chung, các tham luận tại Phiên 3 cho thấy, một chính phủ sẵn sàng trước tương lai không chỉ được đánh giá bằng mức độ ứng dụng công nghệ mà còn bằng khả năng dự báo, học hỏi và điều chỉnh chính sách; chuẩn bị nguồn nhân lực và năng lực thể chế; đồng thời, huy động sự tham gia và tri thức của cộng đồng. Đây là những yếu tố nền tảng giúp khu vực công chuyển từ phản ứng trước biến động sang chủ động chuẩn bị và thích ứng với những thay đổi trong tương lai.

Lãnh đạo, năng lực khu vực công và các thách thức mới nổi

Phiên 4 do TS. Gary Ador Dionisio, Trường Ngoại giao và Quản trị, De La Salle – College of Saint Benilde và TS. Nguyễn Thị Mai, Học viện Hành chính và Quản trị công điều phối.

Phiên 4 do TS. Gary Ador Dionisio, Trường Ngoại giao và Quản trị, De La Salle – College of Saint Benilde và TS. Nguyễn Thị Mai, Học viện Hành chính và Quản trị công điều phối; với sự tham gia của các diễn giả: TS. Fairodz Taalim, Học viện Phát triển Bangsamoro; TS. Catherine De Castro, Đại học Bang Sorsogon; TS. Nuryusnita Yusoff, Cục Công vụ Malaysia; TS. Sushmita Acharya, Đại học Tribhuvan.

Các tham luận tập trung vào những yếu tố nền tảng đối với năng lực quản trị của khu vực công, gồm phát triển nguồn nhân lực, đổi mới quản lý nhân tài, tăng cường sự tham gia của công dân và nâng cao năng lực lãnh đạo trong bối cảnh nhiều biến động.

(1) Chuyển từ quản lý nhân sự sang quản trị nhân tài dựa trên năng lực. Nghiên cứu của TS. Fairodz Taalim về phát triển vốn con người tại Bangsamoro và nghiên cứu của TS. Nuryusnita Yusoff về cải cách ngạch PTD gắn với Hệ thống Tiền lương SSPA tại Malaysia cho thấy, phát triển năng lực khu vực công cần vượt qua cách tiếp cận dựa chủ yếu vào thâm niên. Thay vào đó, việc tuyển dụng, phát triển và sử dụng nhân lực cần được gắn với năng lực chuyên môn, kết quả thực hiện nhiệm vụ và yêu cầu phát triển của tổ chức.

(2) Phát huy vai trò của công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, trong quản trị và phát triển. Báo cáo của TS. Catherine De Castro về những vấn đề nổi bật của thanh niên tại Bicol và nghiên cứu của TS. Sushmita Acharya về nhận thức công dân và năng lực chính trị tại Nepal cho thấy, sự tham gia của người dân không chỉ là một yêu cầu về dân chủ mà còn là nguồn lực quan trọng để nhận diện và giải quyết các vấn đề xã hội. Đặc biệt, việc tạo điều kiện để thanh niên tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách có ý nghĩa trong thúc đẩy đổi mới và phát triển bền vững.

(3) Nâng cao năng lực lãnh đạo và khả năng thích ứng của khu vực công. Từ góc độ lãnh đạo, TS. Gary Ador Dionisio cho rằng, khu vực công đang phải hoạt động trong một môi trường ngày càng bất định và phức tạp, chịu tác động đồng thời của AI, biến đổi khí hậu và sự suy giảm niềm tin. Trong bối cảnh đó, năng lực nhà nước cần được củng cố trên các phương diện tư duy chiến lược, phối hợp chính sách, năng lực phân tích và khả năng thực thi; đồng thời phải bảo đảm sự cân bằng giữa đổi mới với minh bạch, tính bao trùm và trách nhiệm giải trình.

Nhìn chung, các tham luận tại Phiên 4 cho thấy, nâng cao năng lực khu vực công cần được tiếp cận một cách toàn diện, từ phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, đổi mới năng lực lãnh đạo đến mở rộng sự tham gia của công dân. Đây là những điều kiện quan trọng để khu vực công vừa nâng cao hiệu quả hoạt động, vừa tăng khả năng thích ứng và củng cố niềm tin xã hội trong bối cảnh mới.

Chuyển đổi hệ thống và cải cách thể chế

Phiên 5 do TS. Nguyễn Thị Thu Cúc điều phối.

Phiên 5 do TS. Nguyễn Thị Thu Cúc điều phối, với sự tham gia của các diễn giả: ông Roel V. Rafer, Đại học Camarines Norte (Philippines); bà Nelin Dulpina, Trường Cao học Hành chính công và Quản trị, Đại học Philippines; ông Menard Nava, Trường Bách khoa Pangasinan (Philippines).

Các tham luận tập trung làm rõ mối quan hệ giữa con người, phương thức vận hành và giá trị công trong quá trình chuyển đổi hệ thống và cải cách thể chế.

(1) Phát triển con người và năng lực thích ứng của khu vực công. Nghiên cứu của ông Roel V. Rafer cho thấy, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực hành chính công chịu tác động đáng kể từ yếu tố con người và môi trường hỗ trợ. Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới đào tạo theo hướng không chỉ trang bị kiến thức chuyên môn mà còn phát triển tư duy thích ứng, khả năng học hỏi và năng lực xử lý những thay đổi trong thực tiễn quản trị.

(2) Đổi mới phương thức vận hành phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực. Nghiên cứu của ông Menard Nava về hiện đại hóa dịch vụ công tại địa phương cho thấy, chuyển đổi hệ thống không thể được triển khai theo một mô hình đồng nhất cho mọi lĩnh vực. Hiệu quả cải cách phụ thuộc vào đặc điểm công việc, điều kiện tổ chức và mức độ sẵn sàng của từng ngành, từng địa phương. Vì vậy, đổi mới cần được thiết kế linh hoạt, phù hợp với bối cảnh và khả năng thực thi.

(3) Cải cách thể chế gắn với bảo đảm giá trị công và công bằng xã hội. Qua phân tích quá trình tái cấu trúc Bộ Nông nghiệp Philippines, bà Nelin Dulpina nhấn mạnh cải cách thể chế không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và kinh tế mà còn phải bảo đảm công bằng xã hội, khả năng tiếp cận nguồn lực và lợi ích phát triển của các nhóm yếu thế.

Nhìn chung, Phiên 5 cho thấy, chuyển đổi hệ thống chỉ có thể tạo ra kết quả bền vững khi phát triển con người, đổi mới phương thức vận hành và thiết kế tổ chức hướng tới giá trị công được kết nối trong một chỉnh thể thống nhất.

Phiên 8 do TS. Eminel Jane M. Alvior, Giám đốc Ateneo Resource Center for Local Governance và PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Trưởng khoa Khoa học liên ngành – Ngoại ngữ – Tin học, Học viện Hành chính và Quản trị công (APAG) điều phối.

Phiên 8 do TS. Eminel Jane M. Alvior, Giám đốc Ateneo Resource Center for Local Governance và PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Trưởng khoa Khoa học liên ngành – Ngoại ngữ – Tin học, Học viện Hành chính và Quản trị công (APAG) điều phối; với sự tham gia của các diễn giả: Shuvra Chowdhury, Sajib Kumar Roy và Md. Sabiruzzaman (Bangladesh); Crisdem Marie M. Manalang, MPA và Luật sư Hannah Keziah P. Dela Cerna, Ủy ban Công vụ Philippines; Alimodin M. Hassan, Đại học Bang Mindanao – Maguindanao (Philippines); Vermont Khan L. Juvahib, DPA, CESE, Chính quyền thành phố Escalante/Đại học Bang Northern Negros (Philippines); Emil O. Tadiarca và Lher Verell S. Palabay, Đại học Bang Don Mariano Marcos Memorial (Philippines).

Tiếp nối nội dung về chuyển đổi hệ thống và cải cách thể chế, Phiên 8 đi sâu vào trách nhiệm giải trình, chuyên nghiệp hóa bộ máy, tính bao trùm, ra quyết định dựa trên bằng chứng và chất lượng thực thi.

(1) Tăng cường trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân. Nghiên cứu của Shuvra Chowdhury, Sajib Kumar Roy và Md. Sabiruzzaman về Hệ thống giải quyết khiếu nại (GRS) tại Bangladesh cho thấy, cơ chế tiếp nhận và xử lý phản ánh không chỉ là một công cụ hành chính mà còn có thể trở thành thiết chế thúc đẩy quản trị dân chủ. Hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc vào tính minh bạch, mức độ tin cậy của người dân đối với cơ quan công quyền và khả năng tiếp cận thông tin của cộng đồng.

(2) Chuyên nghiệp hóa bộ máy và xây dựng nền công vụ bao trùm. Nghiên cứu của Crisdem Marie M. Manalang và Luật sư Hannah Keziah P. Dela Cerna nhấn mạnh rằng, phân quyền địa phương cần được hỗ trợ bởi một nền công vụ có đủ năng lực và tính chuyên nghiệp. Việc nâng cao năng lực của các cơ quan quản trị nhân lực góp phần chuẩn hóa tuyển dụng, phát triển đội ngũ và duy trì tính liên tục của tổ chức. Trong khi đó, khảo sát 411 công chức tại Khu tự trị Bangsamoro của Alimodin M. Hassan cho thấy, sự khác biệt văn hóa và định kiến có thể ảnh hưởng đến tính bao trùm trong tổ chức. Do đó, cải cách thể chế cần chú trọng năng lực văn hóa, cơ chế cố vấn và chính sách quản trị sự đa dạng.

(3) Đưa bằng chứng và nhu cầu của cộng đồng vào quá trình ra quyết định. Vermont Khan L. Juvahib đề xuất mô hình LIBERTAD, kết nối đánh giá nhu cầu cộng đồng với tham vấn, lập kế hoạch và giám sát liên tục, qua đó, tăng cường vai trò của bằng chứng và sự tham gia của người dân trong chu trình chính sách. Ở lĩnh vực cung ứng dịch vụ xã hội, nghiên cứu của Emil O. Tadiarca và Lher Verell S. Palabay về dịch vụ phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em (VAWC) tại thành phố San Fernando cho thấy, khoảng cách giữa khung pháp lý và thực tiễn vẫn có thể xuất hiện do hạn chế về nhân lực và các yếu tố văn hóa. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao năng lực thực thi và bảo đảm dịch vụ công đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực tế của người dân.

Phiên 8 cho thấy, cải cách thể chế không dừng lại ở việc ban hành quy định hoặc tái cấu trúc bộ máy, mà phải được chuyển hóa thành năng lực thực thi, nền công vụ chuyên nghiệp và bao trùm, cơ chế trách nhiệm giải trình và khả năng sử dụng bằng chứng để cải thiện chất lượng phục vụ người dân.

Qua các phiên thảo luận trong buổi sáng tại Diễn đàn quốc tế thường niên về quản trị công năm 2026 cho thấy, khu vực công đang đứng trước những yêu cầu đổi mới sâu rộng cả về thể chế, phương thức quản trị, năng lực thực thi và quan hệ với người dân. Những thay đổi về công nghệ, AI, biến đổi khí hậu, môi trường kinh tế – xã hội và các vấn đề mới nổi đang đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý truyền thống sang quản trị linh hoạt, chủ động và có khả năng thích ứng.

Các kinh nghiệm và nghiên cứu được chia sẻ tại Diễn đàn cho thấy, công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi được đặt trong một hệ thống thể chế phù hợp; cải cách chỉ mang lại kết quả khi gắn với năng lực con người và khả năng thực thi; còn quản trị hiệu quả và bền vững cần sự tham gia của nhiều chủ thể, đặc biệt là người dân và cộng đồng. Vì vậy, đổi mới khu vực công cần được tiếp cận theo hướng đồng bộ, kết nối giữa thể chế, nguồn lực, công nghệ, dữ liệu, con người và các cơ chế phối hợp.

Từ đó, Diễn đàn nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khu vực công có năng lực dự báo và thích ứng, dựa trên bằng chứng và dữ liệu, ứng dụng công nghệ một cách có trách nhiệm, bảo đảm tính bao trùm và trách nhiệm giải trình. Đây không chỉ là yêu cầu đối với từng cơ quan, tổ chức mà còn đòi hỏi tăng cường hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối giữa các quốc gia, các cấp chính quyền, khu vực tư nhân, giới học thuật và cộng đồng.

Những trao đổi tại Diễn đàn góp phần mở rộng nhận thức về các xu hướng mới trong quản trị công, đồng thời cung cấp những kinh nghiệm và gợi mở thực tiễn cho quá trình cải cách khu vực công theo hướng hiệu quả, linh hoạt, bao trùm, có trách nhiệm và hướng tới phát triển bền vững.

Nhóm phóng viên