Improving the quality of leadership in Party inspection work among commune-level Party Committees in Ho Chi Minh City
ThS. Phạm Thái Ngọc
Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương, Bộ Nội vụ
Email: thaingocq7@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bảo đảm sự lãnh đạo của đảng ủy cấp xã đối với công tác kiểm tra cần gắn định hướng chính trị, tổ chức thực hiện với trách nhiệm giải trình. Thông qua phân tích văn bản của Đảng và tài liệu công khai của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, bài viết nhận diện những yêu cầu về phân định trách nhiệm, bảo đảm thông tin và tổ chức khắc phục sau kiểm tra. Từ đó, đề xuất cơ chế lãnh đạo, gồm: xác định nhiệm vụ, bảo đảm điều kiện, theo dõi thực hiện và kiểm chứng kết quả; đồng thời, làm rõ giới hạn giữa lãnh đạo đúng chức năng với sự can thiệp không đúng quy định vào việc đánh giá chứng cứ. Các kiến nghị tập trung hoàn thiện quy chế làm việc, cơ chế phối hợp, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.
Từ khóa: Cấp ủy xã; công tác kiểm tra đảng; trách nhiệm giải trình; phương thức lãnh đạo; Thành phố Hồ Chí Minh.
Abstract: Commune-level Party committees’ leadership of inspection work should connect political direction with implementation and accountability. By analyzing Party documents and publicly available materials from the Ho Chi Minh City Party Committee, this article identifies requirements for allocating responsibilities, ensuring access to information, and organizing corrective action. It proposes a leadership mechanism comprising task identification, provision of necessary conditions, implementation monitoring, and verification of results. The article also clarifies the distinction between legitimate leadership and interference in the assessment of evidence. Recommendations focus on working regulations, coordination, staff capacity, and the responsibilities of committee leaders. This documentary study does not provide a representative empirical assessment of every commune-level inspection commission; its contribution lies in a framework that can be tested through subsequent local research.
Keywords: Commune Party committees; Party inspection; accountability; Ho Chi Minh City; leadership methods.
1. Đặt vấn đề
Công tác kiểm tra của Ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp xã có mối quan hệ trực tiếp với năng lực tự chỉnh đốn, tự đổi mới của tổ chức đảng và chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Tuy nhiên, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan kiểm tra không chỉ phụ thuộc vào sự nỗ lực của từng cán bộ kiểm tra, mà còn chịu tác động sâu sắc bởi phương thức cấp ủy giao nhiệm vụ, tổ chức cơ chế phối hợp, bảo đảm thông tin và theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra. Nghiên cứu phương thức lãnh đạo của đảng ủy cấp xã đối với công tác kiểm tra vì thế cần làm rõ các điều kiện tổ chức mà cấp ủy phải tạo lập cũng như những trách nhiệm trọng tâm mà cấp ủy phải thực hiện.
TP. Hồ Chí Minh – đô thị đặc biệt với quy mô quản lý lớn, khối lượng công việc công vụ và áp lực thực tiễn rất cao, việc nghiên cứu vấn đề này càng mang tính cấp thiết, cần đặt trong tổng thể mô hình tổ chức cấp xã và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới. Cấp xã trong bài viết được hiểu bao gồm xã, phường (và các đơn vị hành chính tương đương theo mô hình chính quyền đô thị); đảng ủy cấp xã được xem xét theo mô hình tổ chức hiện hành, không mặc định đồng nhất với đảng ủy cơ sở trước khi sắp xếp đơn vị hành chính. Bài viết tập trung vào sự lãnh đạo đối với công tác kiểm tra do Ủy ban kiểm tra cấp xã thực hiện; các nội dung về giám sát và kỷ luật đảng chỉ được xem xét khi có mối quan hệ trực tiếp với việc lựa chọn nhiệm vụ trọng tâm, cơ chế phối hợp hoặc tổ chức khắc phục vi phạm.
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích nội dung văn bản, đối chiếu trách nhiệm chủ thể và xây dựng khung kiến nghị. Nguồn tài liệu thực tiễn dựa trên thông tin công khai của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh; không sử dụng dữ liệu điều tra đại diện hoặc toàn bộ báo cáo nội bộ của các địa phương. Do đó, những vấn đề được nêu ra là những yêu cầu và nguy cơ về mặt tổ chức cần tiếp tục kiểm chứng, không hàm ý kết luận rằng các hạn chế ấy đã xảy ra phổ biến trên toàn bàn Thành phố.
2. Cơ sở lý luận và yêu cầu đối với sự lãnh đạo của đảng ủy cấp xã
2.1. Lãnh đạo công tác kiểm tra là một khâu trọng yếu của trách nhiệm tổ chức thực hiện
Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định, kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng; tổ chức đảng các cấp phải tiến hành và chấp hành nghiêm túc việc kiểm tra, giám sát của cấp có thẩm quyền (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026a). Điều này đặt trách nhiệm công tác kiểm tra vào vị trí trung tâm trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng, không giới hạn ở một bộ phận chuyên trách. Đối với đảng ủy cấp xã, việc thành lập Ủy ban kiểm tra không làm giảm đi vai trò, trách nhiệm trực tiếp và toàn diện của cấp ủy trong định hướng, tổ chức và bảo đảm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra.
Từ góc độ tiếp cận hệ thống, sự lãnh đạo của đảng ủy cần được nhận diện qua ba nhóm hành vi: (1) Xác định đúng vấn đề trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trên cơ sở nhiệm vụ chính trị và thông tin thực tiễn; (2) Tạo lập các điều kiện tổ chức thuận lợi để nhiệm vụ được triển khai đúng quy định (bao gồm biên chế cán bộ, nguồn thông tin, cơ chế phối hợp và phương tiện làm việc); (3) Sử dụng triệt để kết quả kiểm tra để chấn chỉnh khuyết điểm, sửa đổi quy chế và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Thiếu một trong các nhóm hành vi này sẽ làm đứt gãy tính liên tục của quá trình lãnh đạo.
Đảng ủy cần phân định rõ ranh giới giữa nhiệm vụ kiểm tra thuộc thẩm quyền trực tiếp của cấp ủy với nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của ủy ban kiểm tra. Khi ban hành chương trình, kế hoạch công tác, quy chế làm việc phải thể hiện rõ chủ thể quyết định, chủ thể thực hiện và chủ thể theo dõi, giám sát. Tuyệt đối không xem Ủy ban kiểm tra chỉ là “cánh tay nối dài” làm thay mọi phần việc kiểm tra của cấp ủy, đồng thời, cơ quan kiểm tra cũng không được lấy lý do “chờ ý kiến chỉ đạo” để trì hoãn những phần việc thuộc thẩm quyền chủ động đã được quy định.
2.2. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy gắn liền với tôn trọng nguyên tắc, chức năng và thẩm quyền của cơ quan tham mưu
Sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của cấp ủy phải được thể hiện thông qua nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc và các quyết định đúng thẩm quyền. Cần phân định rõ giữa lãnh đạo về chủ trương, nhiệm vụ, điều kiện bảo đảm với hành vi chi phối nhận định, can thiệp vào kết luận mang tính định kiến cá nhân. Cấp ủy hoàn toàn có quyền yêu cầu ủy ban kiểm tra báo cáo căn cứ pháp lý, làm rõ các thông tin còn mâu thuẫn và tuân thủ chặt chẽ quy trình nghiệp vụ. Song, những yêu cầu đó phải nhằm mục đích nâng cao chất lượng xem xét, khách quan hóa sự thật, chứ không nhằm áp đặt trước kết quả khi quá trình xác minh chưa hoàn tất.
Cơ chế lãnh đạo đạt chất lượng cao phải tạo lập được môi trường sinh hoạt chính trị minh bạch, nơi cán bộ kiểm tra có quyền và điều kiện báo cáo trung thực cả về kết quả đạt được lẫn những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Khi nhận được báo cáo vượt thẩm quyền, cấp ủy phải chịu trách nhiệm xem xét, phản hồi rõ thời hạn giải quyết. Nếu báo cáo chỉ được lưu hồ sơ mà không có ý kiến chỉ đạo tháo gỡ, ủy ban kiểm tra sẽ rơi vào thế bị động, dễ phát sinh rủi ro sai sót trong quá trình thực thi công vụ.
Đối với những vụ việc liên quan trực tiếp đến cấp ủy viên hoặc cán bộ có quan hệ công tác gần gũi, yêu cầu khách quan, công tâm càng phải được quán triệt sâu sắc. Mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng; thâm niên công tác, chức vụ hay thành tích đóng góp không thể thay thế cho các căn cứ chứng minh sự việc vi phạm. Ngược lại, việc được tiến hành kiểm tra chưa đồng nghĩa với việc kết luận cá nhân đó có khuyết điểm hay vi phạm. Cả hai chiều cạnh này bảo đảm cho sự nghiêm minh, công tâm của kỷ luật Đảng.
2.3. Mối quan hệ biện chứng giữa kiểm tra của Đảng và chất lượng quản trị địa phương
Công tác kiểm tra của Đảng có tác động trực tiếp đến chất lượng quản trị và điều hành ở địa phương. Khi kiểm tra trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên gắn với việc thực thi công vụ, kết quả kiểm tra sẽ chỉ rõ nguyên nhân của sự trì trệ, điểm nghẽn trong phối hợp liên ngành hoặc biểu hiện đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.
Tuy nhiên, cần nhận thức rõ: kiểm tra của Đảng có đối tượng, thẩm quyền, phương thức và quy trình đặc thù, tuyệt đối không làm thay nhiệm vụ thanh tra nhà nước, giải quyết khiếu nại, tố cáo hay các hoạt động điều tra tố tụng theo pháp luật hành chính, tư pháp. Giá trị quản trị của kiểm tra Đảng nằm ở khả năng chuyển hóa các kết luận thành những điều chỉnh về quy trình, chuẩn mực đạo đức công vụ và trách nhiệm nêu gương trong phạm vi tổ chức đảng.
3. Yêu cầu thực tiễn từ TP. Hồ Chí Minh
3.1. Định hướng chiến lược của Trung ương về đổi mới công tác kiểm tra
Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong tình hình mới (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026b). Đối với đảng ủy cấp xã, thách thức lớn nhất là chuyển hóa những định hướng mang tính vĩ mô đó thành các nhiệm vụ cụ thể, sát hợp với đặc thù địa bàn cơ sở. Các chương trình, nghị quyết hành động tại địa phương không được dừng lại ở việc sao chép chung chung các nguyên tắc cấp trên đã định, mà phải chỉ rõ trọng tâm, nguồn lực bảo đảm và cơ chế kiểm tra tiến độ.
Định hướng chiến lược của Trung ương về đổi mới công tác kiểm tra không đơn thuần là sự điều chỉnh về mặt kỹ thuật hay phương pháp nghiệp vụ, mà là:
(1) Sự chuyển dịch sâu sắc về tư duy lý luận, phương thức quản trị nội bộ và cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng. Điều đó cho thấy, bước chuyển dịch mạnh mẽ tư duy lý luận từ “phản ứng, xử lý vi phạm” sang “chủ động phòng ngừa, cảnh báo từ sớm, từ xa”; lấy “giám sát mở rộng” làm nền tảng để phát hiện sớm các nguy cơ, lệch chuẩn; lấy “kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm” làm công cụ chốt chặn nhằm xử lý nghiêm minh các vi phạm.
(2) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực gắn liền với thể chế hóa kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nước, nhằm “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế”. Đổi mới công tác kiểm tra phải gắn kết chặt chẽ, đồng bộ giữa kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán của Nhà nước và giám sát của Nhân dân. Vi phạm kỷ luật đều bị phát hiện và xử lý nghiêm minh, không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”.
(3) Hiện đại hóa phương thức kiểm tra dựa trên chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra. Định hướng chiến lược của Đảng đòi hỏi công tác kiểm tra phải chuyển đổi phương thức quản lý từ thủ công, định tính sang ứng dụng khoa học dữ liệu, quản trị rủi ro số và tối ưu hóa quy trình hậu kiểm. Xây dựng hạ tầng dữ liệu kiểm tra “đúng, đủ, sạch, sống” đi đôi với việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ kiểm tra có bản lĩnh chính trị vững vàng, liêm chính, tinh thông nghiệp vụ và am hiểu thực tiễn.
3.2. Chỉ đạo kiểm tra trên nền tảng dữ liệu số: Yêu cầu cấp thiết về kỷ luật thông tin
Hội nghị ngày 09/7/2026 của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh nêu rõ Thường trực Thành ủy đã chỉ đạo đẩy mạnh kiểm tra, giám sát trên nền tảng dữ liệu số; đặc biệt lưu ý các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, như: đất đai, trật tự xây dựng, đầu tư công, quản lý tài sản công và công tác cán bộ (Cổng thông tin điện tử Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (09/7/2026). Nhiều Ủy ban kiểm tra cấp phường, xã tại Thành phố đã bắt đầu triển khai các bước số hóa dữ liệu quản lý.Tuy nhiên, chuyển đổi số trong công tác kiểm tra không đơn thuần là việc mua sắm trang thiết bị hay số hóa văn bản, mà đòi hỏi cấp ủy phải lãnh đạo việc thiết lập kỷ luật dữ liệu. Nếu không chuẩn hóa từ khâu người tạo lập, thời gian cập nhật, quyền truy cập cho đến phương thức bảo mật, dữ liệu số sẽ tồn tại rời rạc, khó khai thác và tiềm ẩn rủi ro pháp lý. Lãnh đạo dựa trên dữ liệu đòi hỏi đội ngũ cấp ủy viên và cán bộ kiểm tra phải có năng lực tư duy phân tích, biết đặt câu hỏi đúng đối với hệ thống cảnh báo tự động, tuyệt đối không phó mặc hoàn toàn phán quyết chính trị cho công nghệ.
3.3. Quy trình giải quyết thông tin phản ánh và cơ chế phối hợp liên thông
Việc Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Quy định số 1312-QĐ/TU ngày 22/8/2026 về quy trình giải quyết thông tin phản ánh liên quan đến các tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và vi phạm kỷ luật tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ cho các cấp ủy trực thuộc (Ban Thường vụ Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2026). Từ góc độ đảng ủy cấp xã, vấn đề cốt lõi là thiết lập được đầu mối tiếp nhận, phân loại, xử lý thông tin phản ánh một cách khoa học, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các bộ phận tham mưu hoặc làm thất lạc thông tin trong quá trình luân chuyển.
Xây dựng quy trình giải quyết thông tin phản ánh gắn với cơ chế phối hợp liên thông là mắt xích vận hành quan trọng nhằm hiện đại hóa phương thức kiểm tra, giám sát của cấp ủy, đưa công tác phòng ngừa vi phạm đi vào thực chất. Trong bối cảnh quản trị hiện đại, thông tin phản ánh từ các kênh báo chí, dư luận xã hội, đơn thư và giám sát của Nhân dân chính là “nguồn tín hiệu đầu vào” có giá trị quan trọng giúp cấp ủy, Ủy ban kiểm tra phát hiện sớm các nguy cơ, rủi ro. Điều đó đòi hỏi (1) Chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, phân loại và thẩm tra thông tin phản ánh theo hướng định lượng và minh bạch; làm rõ trách nhiệm của từng nấc thẩm định, bảo đảm mọi phản ánh chính đáng của Nhân dân đều được tiếp nhận, xử lý kịp thời, đúng thẩm quyền. (2) Thiết lập cơ chế phối hợp liên thông đa chiều giữa Ủy ban kiểm tra với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.
Sự liên thông giữa kiểm tra Đảng với thanh tra, kiểm toán Nhà nước, điều tra, tư pháp và Mặt trận Tổ quốc giúp xóa bỏ “vùng cấm thông tin” và hiện tượng “cát cứ dữ liệu”; cơ chế phối hợp liên thông chặt chẽ chính là “mạng lưới bảo vệ nhiều lớp”, giúp các cấp ủy chủ động phát hiện vi phạm từ sớm, từ xa
4. Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với công tác kiểm tra
Một là, xây dựng chương trình kiểm tra gắn kết thực chất với nhiệm vụ chính trị trọng tâm.
Nguy cơ phổ biến ở cấp cơ sở là chương trình kiểm tra hàng năm được xây dựng theo hình mẫu chung, ít gắn kết với những điểm nóng hoặc khâu yếu, mặt yếu của địa phương. Để khắc phục, cấp ủy phải đối chiếu chương trình kiểm tra với nghị quyết đại hội đảng bộ, các kết luận chỉ đạo của cấp trên và các đơn thư phản ánh nổi cộm.
Việc xây dựng chương trình không chạy theo số lượng các cuộc kiểm tra, mà phải phân định rõ nội dung nào cần theo dõi thường xuyên, nội dung nào yêu cầu tự kiểm tra và nội dung nào cần tiến hành kiểm tra theo thẩm quyền. Cấp ủy cần yêu cầu cơ quan tham mưu giải trình rõ căn cứ thực tiễn của từng trọng tâm kiểm tra thay vì chỉ trình bày danh sách đối tượng và mốc thời gian một cách hình thức.
Hai là, gắn kết chặt chẽ cơ chế phối hợp giữa các lực lượng tham mưu trong hệ thống chính trị cơ sở.
Công tác kiểm tra ở cấp xã không thể tách rời sự phối hợp nhịp nhàng giữa ủy ban kiểm tra với khối vận, công an xã, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội. Việc trao đổi thông tin phải minh bạch về nội dung, rõ ràng về loại tài liệu, phạm vi sử dụng và bảo đảm tính bảo mật. Cấp ủy đóng vai trò chủ trì tháo gỡ các điểm nghẽn về phối hợp, nhưng không làm thay chức năng thẩm định chứng cứ của cơ quan kiểm tra. Gắn kết chặt chẽ cơ chế phối hợp giữa các lực lượng tham mưu khối Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể là yếu tố then chốt bảo đảm sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị cơ sở. Cấp cơ sở là nơi trực tiếp diễn ra các mối quan hệ xã hội phong phú và phức tạp; do đó, sự chia sẻ thông tin, đồng bộ về dữ liệu và nhịp nhàng trong phối hợp giữa các lực lượng tham mưu sẽ triệt tiêu tình trạng “cát cứ”, “mạnh ai nấy làm” hay đùn đẩy trách nhiệm.
Cơ chế phối hợp chặt chẽ giúp chuyển hóa các thông tin phản ánh, kết quả giám sát của Nhân dân thành nguồn đầu vào quan trọng để cấp ủy nhận diện chính xác “điểm nóng”, phát hiện sớm các nguy cơ vi phạm từ gốc. Đây chính là bệ đỡ vận hành nâng cao năng lực dự báo, bảo đảm các chủ trương, quyết định của Đảng được ban hành đúng, trúng và thực thi hiệu quả ngay tại địa bàn cơ sở.
Ba là, nâng cao chất lượng kết luận kiểm tra và hiệu lực tổ chức thực hiện sau kiểm tra
Một kết luận kiểm tra chỉ thực sự có giá trị khi chỉ rõ đúng người, đúng việc, đúng khuyết điểm và đưa ra kiến nghị khắc phục khả thi. Sau khi có kết luận, đảng ủy phải kiên quyết phân loại rõ ràng: việc nào thuộc trách nhiệm cá nhân, việc nào thuộc trách nhiệm tập thể, việc nào phải kiến nghị cấp trên tháo gỡ. Kỷ luật nghiêm minh đối với cá nhân vi phạm phải đi đôi với việc kiến nghị sửa đổi, bịt kín những lỗ hổng về cơ chế, chính sách, quy trình quản lý nhà nước tại địa phương. Kết luận kiểm tra và công tác tổ chức thực hiện sau kiểm tra là hai mặt cấu thành một thể thống nhất, quyết định trực tiếp đến giá trị thực tiễn và tính uy nghiêm của kỷ luật đảng. Một chương trình kiểm tra chỉ thực sự hoàn thành mục tiêu khi chỉ ra đúng bản chất vi phạm và bảo đảm các kiến nghị được thi hành nghiêm túc, triệt để trên thực tế.
Nâng cao chất lượng kết luận kiểm tra là tiền đề mang tính quyết định. Chất lượng kết luận chính là thước đo bản lĩnh, trình độ nghiệp vụ của chủ thể kiểm tra; đồng thời là căn cứ pháp lý – chính trị vững chắc để tổ chức đảng và đảng viên vi phạm nhận thức rõ khuyết điểm, tâm phục khẩu phục và tự giác chấp hành. Nâng cao hiệu lực tổ chức thực hiện sau kiểm tra là khâu chốt chặn bảo đảm tính nghiêm minh. Kiểm tra mà không theo dõi, đôn đốc khắc phục thì kiểm tra sẽ rơi vào hình thức, làm giảm hiệu lực lãnh đạo của Đảng.
5. Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của đảng ủy cấp xã
Thứ nhất, hoàn thiện quy chế làm việc và phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Rà soát, cụ thể hóa mối quan hệ giữa đảng ủy, ban thường vụ, bí thư cấp ủy và ủy ban kiểm tra. Lập các bảng đối chiếu trách nhiệm để minh bạch hóa quy trình đề xuất, quyết định, thực thi và theo dõi kết quả. Để hoàn thiện quy chế làm việc và phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, cấp ủy cần triển khai đồng bộ việc chuẩn hóa thẩm quyền, làm rõ ranh giới trách nhiệm giữa Đảng ủy, Ban Thường vụ, Bí thư và Ủy ban Kiểm tra phải được cụ thể hóa, triệt tiêu tình trạng “bao biện, làm thay” hoặc “buông lỏng lãnh đạo”. Siết chặt kiểm soát quyền lực, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực thi quy chế.
Thứ hai, đổi mới phương thức xây dựng và triển khai chương trình kiểm tra. Lấy hiệu quả giải quyết các vấn đề bức xúc ở cơ sở làm thước đo chất lượng chương trình kiểm tra; chuyển từ quản lý theo số lượng sang quản lý theo chất lượng sản phẩm và mức độ chuyển biến thực tế. Để đổi mới phương thức xây dựng và triển khai chương trình kiểm tra, cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp cần thực hiện chuyển dịch: xây dựng chương trình dựa trên “dự báo rủi ro”; chủ động thu thập dữ liệu từ đơn thư, báo chí, dư luận Nhân dân để đưa các “điểm nóng”, vấn đề bức xúc ở cơ sở vào trọng tâm kiểm tra. Chuyển từ quản lý “số lượng cuộc kiểm tra” sang “chất lượng đầu ra”, đánh giá hiệu quả dựa trên tính đúng đắn của kết luận, sự nghiêm minh trong xử lý và mức độ chuyển biến thực tế sau kiểm tra. Siết chặt giám sát việc khắc phục sai phạm, gắn hiệu quả giải quyết vấn đề với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy và người đứng đầu.
Thứ ba, bảo đảm hạ tầng thông tin, kiểm soát an toàn và chất lượng dữ liệu số. Xây dựng quy chế quản lý, cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu số phục vụ kiểm tra; phân quyền minh bạch, ghi nhận lịch sử truy cập để bảo đảm tính bảo mật, liên tục và chính xác của nguồn tài liệu. Để bảo đảm hạ tầng thông tin, kiểm soát an toàn và chất lượng dữ liệu số, cấp ủy và cơ quan kiểm tra các cấp cần tập trung triển khai đồng bộ các biện pháp trọng tâm. Chuẩn hóa thể chế và tiêu chuẩn dữ liệu trên cơ sở ban hành Quy chế quản lý, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu kiểm tra; thiết lập bộ tiêu chuẩn dữ liệu đầu vào theo tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống” nhằm bảo đảm tính chính xác, liên tục và không bị gián đoạn của nguồn tài liệu. Triển khai cấu trúc bảo mật và phân quyền minh bạch, gắn với vị trí công tác và cơ chế xác thực đa yếu tố. Giới hạn phạm vi truy cập đúng thẩm quyền, triệt tiêu nguy cơ rò rỉ hoặc can thiệp dữ liệu trái phép. Tự động hóa giám sát và lưu vết, tích hợp công nghệ ghi nhận lịch sử thao tác bất biến đối với mọi hành vi truy cập, chỉnh sửa, trích xuất dữ liệu.
Thứ tư, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ kiểm tra cấp xã đủ phẩm chất, năng lực và uy tín. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng “cầm tay chỉ việc”, gắn huấn luyện với xử lý các tình huống giả định dựa trên hồ sơ thực tế; đồng thời có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì công việc chung.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp liên ngành tại địa bàn cơ sở. Thiết lập chế độ giao ban định kỳ, quy chế trao đổi thông tin giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan khối chính quyền và các đoàn thể, kịp thời phát hiện từ sớm, từ xa các dấu hiệu vi phạm. Để nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp liên ngành tại địa bàn cơ sở, cấp ủy cần tập trung thực hiện một số nội dung: Ban hành quy chế làm việc đồng bộ giữa Ủy ban Kiểm tra với UBND, Công an và Mặt trận Tổ quốc; quy định rõ ràng trách nhiệm, thẩm quyền và thời hạn chia sẻ, xử lý thông tin. Thiết lập kênh giao ban và phản ứng nhanh, trong đó duy trì chế độ giao ban định kỳ (tháng, quý) và xây dựng luồng thông tin ưu tiên để tiếp nhận, thẩm tra ngay khi các vụ việc có dấu hiệu bất thường hoặc phát sinh từ cơ sở. Phát huy vai trò giám sát nhân dân và gắn kết công tác kiểm tra của Đảng với giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận và các đoàn thể, chủ động phát hiện sớm vi phạm từ gốc.
Thứ sáu, siết chặt kỷ luật tổ chức trong thực hiện kết luận và kiến nghị sau kiểm tra. Xây dựng hệ thống theo dõi, đếm lùi thời hạn khắc phục khuyết điểm; kiên quyết xử lý dứt điểm tình trạng “kiểm tra xong để đấy” hoặc khắc phục kiểu đối phó. Để siết chặt kỷ luật tổ chức trong thực hiện kết luận và kiến nghị sau kiểm tra, cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp cần tập trung thực hiện. Số hóa và công khai mốc thời gian khắc phục bằng việc ban hành Kế hoạch khắc phục gắn với mốc thời gian cụ thể cho từng cá nhân, tổ chức; ứng dụng công cụ đếm lùi và cảnh báo tự động khi đến hạn để triệt tiêu tư duy “trì hoãn, đối phó”. Chuẩn hóa chế độ hậu kiểm và tái kiểm tra, cần định kỳ từ 3 – 6 tháng tổ chức kiểm tra lại; kiên quyết thành lập Đoàn tái kiểm tra chuyên đề đối với những nơi chậm chuyển biến hoặc có biểu hiện “kiểm tra xong để đấy”. Gắn kết quả hậu kiểm với công tác cán bộ bằng phương án đưa việc chấp hành kết luận kiểm tra thành tiêu chí bắt buộc trong đánh giá, xếp loại và quy hoạch, bổ nhiệm; xử lý nghiêm người đứng đầu nếu né tránh trách nhiệm.
Các giải pháp trên cần được triển khai theo lộ trình phù hợp với năng lực thực tế của từng loại hình địa phương (xã nông thôn mới, phường đô thị hay khu vực đặc thù). Cấp ủy cần bắt đầu từ việc tự rà soát quy chế làm việc và các kết luận còn tồn đọng để đúc rút kinh nghiệm. Nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực tế tại các mô hình điểm ở TP. Hồ Chí Minh để kiểm chứng tính hiệu quả của khung phân tích này, từ đó tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng ở cấp cơ sở trong giai đoạn phát triển mới.
6. Kết luận
Tăng cường sự lãnh đạo của đảng ủy cấp xã đối với công tác kiểm tra của Ủy ban kiểm tra là nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh. Tại TP. Hồ Chí Minh, trong bối cảnh thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ và xây dựng chính quyền đô thị, yêu cầu này càng đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa đổi mới phương thức lãnh đạo, kỷ luật dữ liệu nghiêm ngặt và đề cao trách nhiệm giải trình của người đứng đầu. Khi cơ quan kiểm tra được tạo đầy đủ điều kiện hoạt động đúng thẩm quyền và khi kết quả kiểm tra thực sự làm chuyển biến đời sống kinh tế – xã hội ở cơ sở, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức đảng sẽ được nâng lên một tầm cao mới.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026a). Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026b). Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Ban Thường vụ Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2026). Quy định số 1312-QĐ/TU ngày 22/8/2026 về quy trình giải quyết thông tin phản ánh liên quan đến các tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Cổng thông tin điện tử Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (09/7/2026). TP. Hồ Chí Minh chuyển đổi số toàn diện trong ngành kiểm tra Đảng. https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/tphcm-chuyen-doi-so-toan-dien-trong-nganh-kiem-tra-dang-1491944368.



