Quản trị nhà nước đối với quá trình chính thức hóa hộ kinh doanh ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

State governance of the formalization process of household businesses in Vietnam: The current situation and solutions

ThS. Huỳnh Thị Kim Dung
Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: dunghtk@tdmu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Chính thức hóa hộ kinh doanh là yêu cầu tất yếu của hiện đại hóa quản trị kinh tế, song mức độ tham gia vào thiết chế chính thức ở Việt Nam còn hạn chế. Bằng phương pháp định tính kết hợp phân tích tài liệu, chính sách và pháp luật, bài viết làm rõ thực trạng và vai trò của quản trị nhà nước đối với quá trình chính thức hóa hộ kinh doanh trong bối cảnh cải cách thuế và đẩy mạnh số hóa quản lý, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao hiệu quả quản trị số và thúc đẩy chính thức hóa theo hướng thực chất, tự nguyện và bền vững.

Từ khóa: Quản trị nhà nước; chính thức hóa hộ kinh doanh; kinh tế tư nhân; chi phí tuân thủ; niềm tin thể chế; quản trị số.

Abstract: Formalizing household businesses is an essential requirement for the modernization of economic governance; however, the level of participation in formal institutions in Vietnam remains limited. Using a qualitative approach combined with an analysis of relevant documents, policies, and laws, this article examines the current situation and role of state governance in the formalization of household businesses amid tax reform and the acceleration of digitalization in public administration. On this basis, the article proposes solutions to simplify administrative procedures, reduce compliance costs, enhance the effectiveness of digital governance, and promote substantive, voluntary, and sustainable formalization of household businesses.

Keywords: State governance; household business formalization; private economy; compliance costs; institutional trust; digital governance.

1. Đặt vấn đề

Chính thức hóa hộ kinh doanh là một nội dung quan trọng trong hiện đại hóa quản trị kinh tế và phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, mức độ tham gia của hộ kinh doanh vào khu vực chính thức ở Việt Nam còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn lực, mở rộng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế, cùng với yêu cầu xóa bỏ thuế khoán, tăng cường minh bạch và đẩy mạnh số hóa quản lý, vấn đề chính thức hóa hộ kinh doanh ngày càng được đặt ra rõ nét (Bộ Chính trị, 2025).

Chính thức hóa không đồng nhất với việc chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp mà là quá trình hộ kinh doanh từng bước tham gia đầy đủ hơn vào các thiết chế chính thức, thực hiện nghĩa vụ và tiếp cận các quyền, dịch vụ của Nhà nước. Từ góc độ quản trị nhà nước, bài viết sử dụng phương pháp định tính, kết hợp phân tích tài liệu, chính sách, pháp luật và đối chiếu một số kinh nghiệm quốc tế nhằm làm rõ thực trạng, các yếu tố tác động đến quá trình chính thức hóa hộ kinh doanh, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp thúc đẩy chính thức hóa.

2. Cơ sở lý luận về quản trị nhà nước đối với quá trình chính thức hóa hộ kinh doanh

Chính thức hóa khu vực kinh doanh phi chính thức ngày càng được tiếp cận như một quá trình thể chế, trong đó quyết định tham gia của các chủ thể kinh doanh chịu tác động của chi phí tuân thủ, lợi ích kỳ vọng và chất lượng quản trị. Theo cách tiếp cận này, ranh giới giữa khu vực kinh doanh chính thức và phi chính thức không nên được nhìn nhận theo cách phân chia nhị nguyên, tức chỉ gồm hai trạng thái tách biệt. Trên thực tế, một hộ kinh doanh có thể thực hiện một số nghĩa vụ chính thức nhưng chưa tham gia đầy đủ vào các thiết chế chính thức khác. Vì vậy, chính thức hóa cần được xem xét như một quá trình với các mức độ tham gia khác nhau vào hệ thống thể chế chính thức (Gallien & van der Boogaard, 2023). Quá trình này cũng mang tính động, khi các chủ thể kinh doanh có thể dịch chuyển giữa những mức độ chính thức và phi chính thức khác nhau tùy thuộc vào động cơ, điều kiện kinh doanh và khả năng đạt được tính chính danh (Salvi & cộng sự, 2023).

Từ góc độ quản trị nhà nước, chất lượng thể chế có vai trò quan trọng trong việc định hình quyết định chính thức hóa của các chủ thể kinh doanh. Hệ thống quy định rõ ràng, minh bạch, ổn định và phù hợp với thực tiễn kinh doanh có thể làm giảm tính bất định trong quá trình thực hiện nghĩa vụ pháp lý, giảm chi phí tuân thủ và củng cố động cơ tham gia vào khu vực chính thức (Shahid & cộng sự, 2022; Galdino & cộng sự, 2023). Kinh nghiệm tại các nền kinh tế mới nổi cũng cho thấy, đơn giản hóa thủ tục, thực hiện cơ chế một cửa và cải thiện khả năng tiếp cận tài chính có thể tạo thêm động lực cho quá trình chính thức hóa (Mehjabeen & Khan, 2024). Tại Việt Nam, chất lượng quản trị kinh tế địa phương, khả năng tiếp cận các thiết chế và điều kiện hoạt động kinh doanh cũng có mối liên hệ với mức độ chính thức hóa (Pham & Srivastava, 2024).

Tuy nhiên, chính thức hóa không chỉ là kết quả của việc gia tăng yêu cầu quản lý hay nghĩa vụ tuân thủ. Quyết định tham gia vào khu vực chính thức phụ thuộc vào sự cân đối giữa chi phí và lợi ích mà chủ thể kinh doanh nhận thức được. Các biện pháp giảm chi phí tuân thủ, cung cấp thông tin và mở rộng quyền lợi có thể thúc đẩy chính thức hóa, song hiệu quả phụ thuộc đáng kể vào thiết kế và cách thức thực thi chính sách (Jessen & Kluve, 2021; Campos & cộng sự., 2023). Mặc dù chính thức hóa có thể tạo điều kiện cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đầu tư và nâng cao năng suất, quá trình này cũng làm phát sinh các chi phí hành chính và nghĩa vụ tuân thủ mới. Trong bối cảnh đó, số hóa quản lý và cung cấp dịch vụ công có thể góp phần giảm chi phí giao dịch, nâng cao tính thuận tiện và mở rộng những lợi ích của trạng thái chính thức (Phan & Nguyen, 2025; Tien & cộng sự, 2025).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã từng bước chuyển từ mô tả đặc điểm của hộ kinh doanh sang phân tích các yếu tố liên quan đến quá trình chính thức hóa và yêu cầu hoàn thiện cơ chế quản lý. Quy mô, mức độ minh bạch doanh thu và đặc điểm hoạt động của hộ kinh doanh được xác định có mối liên hệ với mức độ tham gia vào khu vực chính thức (Hoàng Thị Thu Huyền, 2021, 2023). Bên cạnh đó, hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực quản lý và chất lượng thực thi chính sách được xem là những điều kiện quan trọng nhằm cải thiện môi trường hoạt động và thúc đẩy quá trình chính thức hóa (Lê Thị Hằng, 2024; ILO, 2024; Phùng Thị Quỳnh Trang & Trần Quang Tiến, 2025; Hoàng Thị Thu Huyền, 2024).

Tổng quan trên cho thấy, khoảng trống nghiên cứu không chỉ nằm ở việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chính thức hóa mà còn ở việc lý giải cơ chế tác động của quản trị nhà nước đối với quyết định của hộ kinh doanh. Theo đó, nghiên cứu cần làm rõ: Một là, chính thức hóa không nên được đồng nhất với việc đăng ký kinh doanh hoặc chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp. Hai là, tác động của quản trị nhà nước cần được xem xét thông qua cả thiết kế và tổ chức thực thi thể chế. Ba là, cần phân tích quá trình chính sách tác động đến chi phí, lợi ích, niềm tin và quyết định tuân thủ của hộ kinh doanh. Bốn là, việc nghiên cứu cần đặt trong bối cảnh cải cách mới về phát triển kinh tế tư nhân, xóa bỏ thuế khoán, áp dụng hóa đơn điện tử và đẩy mạnh quản trị số. Trên cơ sở đó, tiếp cận chính thức hóa hộ kinh doanh như một kết quả của chất lượng quản trị và tương tác giữa Nhà nước với chủ thể kinh doanh, thay vì đơn thuần là kết quả của các yêu cầu hành chính.

3. Thực trạng chính thức hóa hộ kinh doanh ở Việt Nam

3.1. Những kết quả đạt được

Một là, tư duy quản trị hộ kinh doanh từng bước chuyển từ kiểm soát sang kiến tạo điều kiện chính thức hóa. Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế; đồng thời, đặt yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, thu hẹp khoảng cách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp, đẩy mạnh số hóa, minh bạch hóa và hỗ trợ kinh doanh (Bộ Chính trị, 2025). Với khoảng 5,2 triệu hộ kinh doanh, việc chính thức hóa không chỉ nhằm mở rộng phạm vi quản lý mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để các chủ thể này tham gia đầy đủ hơn vào các thiết chế chính thức (OECD, 2025). Theo đó, chính thức hóa cần được tiếp cận như một quá trình nhiều cấp độ, gắn với khả năng tiếp cận vốn, thị trường, công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ, thay vì chỉ giới hạn ở đăng ký pháp lý (Gallien & van der Boogaard, 2023). Thực tế quốc tế cho thấy, chính thức hóa có thể góp phần nâng cao đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất của doanh nghiệp siêu nhỏ (Gutierrez & Rodriguez-Lesmes, 2023).

Hai là, cải cách thể chế và chuyển đổi số từng bước thu hẹp khoảng cách giao dịch giữa Nhà nước và hộ kinh doanh. Nghị quyết số 68-NQ/TW yêu cầu đẩy mạnh số hóa, minh bạch hóa và đơn giản hóa các quy định về kế toán, thuế, bảo hiểm; đồng thời, hỗ trợ cung cấp nền tảng số và phần mềm kế toán dùng chung (Bộ Chính trị, 2025). Đây là chuyển biến quan trọng trong phương thức quản lý, từ tương tác hành chính trực tiếp sang cung cấp dịch vụ và thực hiện nghĩa vụ trên môi trường số. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hóa đơn điện tử có thể nâng cao tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhỏ, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào khả năng thích ứng và mức độ thuận tiện của hệ thống (Bellon & cộng sự, 2022). Tại Việt Nam, số hóa có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận dịch vụ công, song tỷ lệ hộ kinh doanh tham gia đầy đủ vào khu vực chính thức vẫn còn thấp; năm 2022, chỉ khoảng 25% hộ kinh doanh được xác định là đăng ký chính thức (Tien & cộng sự, 2025). Điều này cho thấy, số hóa chưa tự động dẫn đến chính thức hóa; cần giảm yêu cầu kỹ thuật và hỗ trợ năng lực số cho hộ kinh doanh.

Ba là, cải cách quản lý thuế tạo nền tảng cho chính thức hóa gắn với minh bạch hóa hoạt động kinh doanh. Việc xóa bỏ cơ chế thuế khoán từ năm 2026 và chuyển sang phương thức quản lý dựa nhiều hơn vào doanh thu, hóa đơn và dữ liệu là một thay đổi quan trọng trong quản lý hộ kinh doanh. Nghị định số 68/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; Nghị định số 141/2026/NĐ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan. Về dài hạn, minh bạch hóa doanh thu và giao dịch có thể tạo điều kiện để hộ kinh doanh tham gia sâu hơn vào khu vực chính thức và cạnh tranh bình đẳng hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, chính thức hóa có thể làm tăng đầu tư, vốn và năng suất lao động; đồng thời, phát sinh thêm thời gian xử lý thủ tục và các chi phí không chính thức trong quan hệ với cơ quan công quyền (Phan & Nguyen, 2025). Vì vậy, hiệu quả cải cách thuế cần được đánh giá không chỉ ở khả năng quản lý và thu ngân sách mà còn ở mức độ giảm chi phí tuân thủ và tạo động lực chính thức hóa tự nguyện.

Bốn là, lợi ích của chính thức hóa từng bước được mở rộng từ thực hiện nghĩa vụ sang hỗ trợ phát triển kinh doanh. Nghị quyết số 68-NQ/TW và các chính sách triển khai sau đó đã chú trọng hỗ trợ hộ kinh doanh về nền tảng số, phần mềm kế toán, tư vấn, đào tạo và tiếp cận các nguồn lực phát triển. Đây là hướng tiếp cận cần thiết, bởi đăng ký đơn thuần chưa chắc tạo ra cải thiện đáng kể đối với hoạt động kinh doanh; trong khi kết hợp đăng ký với hỗ trợ tiếp cận tài chính có thể tạo tác động rõ hơn đến doanh thu và lợi nhuận (Campos & cộng sự, 2023). Tổng hợp từ 38 nghiên cứu cũng cho thấy, ưu đãi thuế và cung cấp thông tin có thể thúc đẩy chính thức hóa, trong khi các chính sách kết hợp nhiều công cụ thường đạt hiệu quả cao hơn các biện pháp đơn lẻ (Jessen & Kluve, 2021). Do đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là nâng cao khả năng tiếp cận thực tế của hộ kinh doanh đối với các chính sách hỗ trợ, thay vì chỉ mở rộng quyền lợi trên văn bản.

Năm là, chính thức hóa ngày càng gắn với chất lượng quản trị nhà nước. Chính thức hóa không chỉ phụ thuộc vào mức độ chặt chẽ của quy định mà còn chịu tác động của tính minh bạch, khả năng dự đoán, hiệu quả thực thi và chất lượng môi trường kinh doanh. Các nghiên cứu cho thấy, chất lượng thể chế và quản trị kinh tế địa phương có mối liên hệ với khả năng chính thức hóa, thông qua hiệu quả pháp lý, chi phí gia nhập và điều kiện kinh doanh (Galdino & cộng sự, 2023; Pham & Srivastava, 2024). Với khoảng 5,2 triệu hộ kinh doanh, yêu cầu này càng trở nên rõ nét trong quá trình cải cách thuế, số hóa và minh bạch hóa hoạt động kinh doanh (OECD, 2025). Vì vậy, thước đo quan trọng của quản trị nhà nước không chỉ là số lượng quy định được ban hành mà còn là mức độ dễ hiểu, dễ thực hiện, khả năng dự đoán và lợi ích thực tế mà chính sách đem lại cho hộ kinh doanh.

3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Thứ nhất, khoảng cách giữa yêu cầu chính thức hóa và năng lực thực thi còn đáng kể. Việc chuyển từ thuế khoán sang kê khai, hóa đơn và quản lý dựa trên dữ liệu từ năm 2026 góp phần tăng tính minh bạch nhưng cũng làm gia tăng yêu cầu tuân thủ đối với hộ kinh doanh (Quốc hội, 2025; Chính phủ, 2026b). Trong khi đó, chi phí và khả năng đáp ứng không giống nhau giữa các nhóm hộ, đặc biệt đối với hộ quy mô nhỏ, phụ thuộc vào lao động gia đình, thiếu nhân lực kế toán và hạn chế về năng lực số. Tỷ lệ việc làm phi chính thức ở Việt Nam vẫn ở mức cao, khoảng 68,5% cho thấy, mức độ tích hợp vào khu vực chính thức còn hạn chế (OECD, 2025). Nguyên nhân không chỉ nằm ở năng lực của hộ mà còn ở mức độ hỗ trợ và năng lực thực thi chưa đồng đều. Do đó, cần thiết kế nghĩa vụ tuân thủ phù hợp với quy mô và năng lực của từng nhóm hộ, đồng thời tăng cường hỗ trợ trong quá trình chuyển đổi.

Thứ hai, lợi ích của chính thức hóa chưa đủ rõ và đồng đều để tạo động lực tự nguyện. Mặc dù chính thức hóa có thể góp phần mở rộng khả năng tiếp cận vốn, thị trường và công nghệ, không phải hộ kinh doanh nào cũng tiếp cận được các lợi ích này. Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, chính thức hóa có thể làm tăng đầu tư, vốn và năng suất lao động, nhưng phát sinh thêm thời gian và chi phí tuân thủ (Phan & Nguyen, 2025). Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, lợi ích kinh tế, đặc biệt là khả năng gia tăng thu nhập có thể trở thành động lực quan trọng thúc đẩy chính thức hóa (Kabubo-Mariara & cộng sự, 2023). Vì vậy, nếu chính sách chủ yếu làm tăng nghĩa vụ mà chưa tạo ra lợi ích thiết thực, động lực chính thức hóa khó bền vững. Trọng tâm quản trị cần hướng tới tăng lợi ích ròng của chính thức hóa, nhất là khả năng tiếp cận tài chính, thị trường, công nghệ và dịch vụ hỗ trợ.

Thứ ba, chính thức hóa vẫn có nguy cơ bị đồng nhất với chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp. Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp là một định hướng quan trọng nhằm phát triển kinh tế tư nhân (Bộ Chính trị, 2025). Tuy nhiên, chuyển đổi pháp lý chỉ là một cấp độ của chính thức hóa; hộ kinh doanh chưa chuyển thành doanh nghiệp vẫn có thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế, hóa đơn, lao động và bảo hiểm. Ngược lại, việc đăng ký doanh nghiệp cũng không mặc nhiên bảo đảm tuân thủ thực chất. Vì vậy, cách tiếp cận nhị phân giữa chính thức và phi chính thức có thể bỏ qua những mức độ tham gia khác nhau vào các thiết chế chính thức (Gallien & van der Boogaard, 2023). Nguyên nhân là hệ thống đánh giá còn thiên về số lượng hộ đăng ký hoặc chuyển đổi, chưa phản ánh đầy đủ chiều sâu tuân thủ. Do đó, cần xây dựng tiêu chí đánh giá chính thức hóa dựa trên mức độ tham gia thực chất vào các thiết chế về thuế, kế toán, hóa đơn, lao động, bảo hiểm, tài chính và thị trường.

Thứ tư, năng lực thực thi và phối hợp chính sách chưa theo kịp yêu cầu quản trị số. Quá trình chính thức hóa liên quan đến đăng ký kinh doanh, thuế, hóa đơn, kế toán, lao động và bảo hiểm, trong khi dữ liệu và quy trình quản lý giữa các cơ quan chưa hoàn toàn đồng bộ. Điều này có thể làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí tuân thủ của hộ kinh doanh. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, số hóa chỉ nâng cao hiệu quả quản lý khi gắn với khả năng tích hợp dữ liệu và giảm chi phí thích ứng cho người nộp thuế (Bellon & cộng sự, 2022). Theo Bộ Tài chính (2025), cơ sở dữ liệu quản lý hộ kinh doanh và năng lực phân tích rủi ro còn cần được hoàn thiện; việc nâng tỷ lệ thực hiện thủ tục thuế điện tử và giảm thời gian, chi phí tuân thủ là những mục tiêu quan trọng của cải cách quản lý thuế. Nguyên nhân chủ yếu là quản trị còn phân tán, chuẩn dữ liệu chưa đồng bộ và năng lực thực thi giữa các địa phương chưa đồng đều. Vì vậy, cần chuyển từ quản lý phân tán sang quản trị tích hợp, lấy hộ kinh doanh làm trung tâm của quá trình cung cấp dịch vụ và thực hiện nghĩa vụ.

Thứ năm, niềm tin thể chế và cảm nhận về tính công bằng chưa được coi trọng đầy đủ trong thiết kế chính sách. Quyết định chính thức hóa không chỉ phụ thuộc vào mức độ nghiêm ngặt của quy định mà còn chịu tác động của cảm nhận về tính minh bạch, công bằng, nhất quán và khả năng dự đoán trong thực thi. Nghiên cứu cho thấy, chất lượng thể chế có quan hệ tích cực với chính thức hóa, trong khi sự không tương thích giữa quy định và thực tiễn có thể làm suy giảm động lực tuân thủ (Galdino & cộng sự, 2023). Tại Việt Nam, những hạn chế về khung pháp lý và động lực đăng ký vẫn là vấn đề cần tiếp tục giải quyết (ILO, 2024). Nguyên nhân sâu xa là khoảng cách giữa nghĩa vụ mà hộ kinh doanh phải thực hiện và lợi ích mà họ nhận được từ việc tham gia khu vực chính thức. Do đó, chính sách cần được thiết kế theo hướng tăng tính minh bạch, bảo đảm quyền lợi và nâng cao chất lượng dịch vụ công, qua đó, củng cố niềm tin và thúc đẩy tuân thủ tự nguyện.

4. Một số giải pháp

Một là, thiết kế cơ chế tuân thủ phù hợp với năng lực và mức độ rủi ro của hộ kinh doanh. Cần phân loại hộ kinh doanh theo quy mô, doanh thu, lao động và mức độ rủi ro để xác định nghĩa vụ tương ứng, tránh áp dụng cùng một yêu cầu cho các nhóm có năng lực khác nhau. Đối với hộ siêu nhỏ, cần có lộ trình chuyển tiếp, hướng dẫn, tư vấn và hỗ trợ kế toán, công nghệ trong quá trình thực hiện nghĩa vụ kê khai, hóa đơn và quản lý dữ liệu. Cơ quan quản lý cần đánh giá tác động và chi phí tuân thủ trước khi mở rộng hoặc thay đổi nghĩa vụ. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm tính tương xứng giữa yêu cầu quản lý và khả năng đáp ứng của hộ kinh doanh.

Hai là, tạo lợi ích kinh tế rõ ràng và thiết thực từ chính thức hóa. Chính thức hóa cần được chuyển từ trạng thái chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ sang tạo ra lợi thế cho hoạt động kinh doanh. Nhà nước có thể thiết kế các gói hỗ trợ có điều kiện, gắn việc tuân thủ với khả năng tiếp cận tín dụng, bảo lãnh, đào tạo, xúc tiến thương mại và công nghệ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, cung cấp thông tin về lợi ích của đăng ký và giảm chi phí gia nhập có thể thúc đẩy chính thức hóa, nhất là đối với các chủ thể có năng lực hạn chế (Moyo, 2022). Vì vậy, cần công khai tiêu chí hưởng lợi, đơn giản hóa hồ sơ và bố trí đầu mối hỗ trợ để hộ kinh doanh dễ tiếp cận. Hiệu quả chính sách nên được đánh giá không chỉ bằng số hộ đăng ký mà cả tỷ lệ hộ thực tế tiếp cận và sử dụng các quyền lợi sau chính thức hóa.

Ba là, xây dựng hệ thống đánh giá chính thức hóa theo hướng đa chiều. Không nên sử dụng số hộ đăng ký hoặc chuyển đổi thành doanh nghiệp làm chỉ tiêu duy nhất. Cần xây dựng bộ chỉ số phản ánh mức độ tham gia thực chất vào khu vực chính thức, bao gồm: đăng ký, thuế, hóa đơn, kế toán, lao động, bảo hiểm, tín dụng, thị trường và dịch vụ số. Cách tiếp cận này phù hợp với quan niệm chính thức hóa là một quá trình nhiều cấp độ, trong đó mức độ tham gia vào các thiết chế chính thức có thể khác nhau giữa các chủ thể (Gallien & van der Boogaard, 2023). Bộ chỉ số cần được sử dụng thống nhất trong theo dõi, đánh giá và báo cáo định kỳ, qua đó chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng chính thức hóa.

Bốn là, thiết lập cơ chế quản trị liên ngành và liên thông dữ liệu. Chính thức hóa liên quan đến nhiều lĩnh vực, như: đăng ký kinh doanh, thuế, hóa đơn, bảo hiểm và lao động, do đó cần chuyển từ quản lý phân tán sang phối hợp liên ngành. Nhà nước cần xác định rõ cơ quan đầu mối, xây dựng chuẩn dữ liệu dùng chung và quy định trách nhiệm cập nhật, chia sẻ, bảo mật thông tin. Các cơ quan liên quan cần từng bước thực hiện nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”, giảm yêu cầu hộ kinh doanh cung cấp lại cùng một thông tin. Hiệu quả quản trị cần được đo lường thông qua số lần kê khai lại, thời gian xử lý và chi phí tuân thủ, thay vì chỉ dựa vào số lượng thủ tục được số hóa.

Năm là, củng cố niềm tin thể chế và thúc đẩy tuân thủ tự nguyện. Niềm tin cần được xem là một yếu tố của chất lượng quản trị và được phản ánh trong quá trình thiết kế, thực thi và đánh giá chính sách. Nhà nước cần định kỳ khảo sát mức độ tin cậy của hộ kinh doanh đối với tính minh bạch, công bằng, nhất quán và khả năng bảo vệ quyền lợi; đồng thời, tăng cường tham vấn trước khi ban hành chính sách, cung cấp thông tin và hướng dẫn thống nhất, xử lý khiếu nại và nâng cao trách nhiệm giải trình. Các quy định mới cần làm rõ đồng thời nghĩa vụ, quyền lợi và cơ chế bảo vệ của hộ kinh doanh. Khi chính thức hóa tạo ra lợi ích có thể nhận diện và được thực thi minh bạch, động lực tuân thủ tự nguyện sẽ được củng cố và quá trình chính thức hóa có cơ sở bền vững hơn.

5. Kết luận

Chính thức hóa hộ kinh doanh là một nội dung quan trọng trong quá trình hiện đại hóa quản trị kinh tế và phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Nghiên cứu cho thấy, Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực khi tư duy quản lý từng bước chuyển sang kiến tạo môi trường kinh doanh, đồng thời đẩy mạnh cải cách thể chế, số hóa quản lý và mở rộng các lợi ích của chính thức hóa. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với những điểm nghẽn về năng lực tuân thủ, lợi ích chưa đủ rõ, cách thức đánh giá còn thiên về đăng ký và chuyển đổi thành doanh nghiệp, quản trị liên ngành và liên thông dữ liệu chưa đồng bộ, trong khi niềm tin thể chế chưa được phát huy đầy đủ.

Do đó, hoàn thiện quản trị nhà nước cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên gia tăng yêu cầu tuân thủ sang cân bằng giữa nghĩa vụ, chi phí và lợi ích của chính thức hóa. Trọng tâm là phân tầng nghĩa vụ theo năng lực và rủi ro; mở rộng lợi ích thực chất; xây dựng hệ thống đánh giá chính thức hóa đa chiều; tăng cường quản trị liên ngành, liên thông dữ liệu và củng cố niềm tin thể chế. Khi chi phí tuân thủ được kiểm soát, lợi ích được bảo đảm và quá trình thực hiện minh bạch, thuận tiện, chính thức hóa sẽ không chỉ là kết quả của yêu cầu quản lý hành chính mà còn trở thành lựa chọn có lợi, tạo điều kiện để hộ kinh doanh phát triển bền vững và tham gia sâu hơn vào nền kinh tế chính thức.

Tài liệu tham khảo:
Bellon, M., Dabla-Norris, E., Khalid, S., & Lima, F. (2022). Digitalization to improve tax compliance: Evidence from VAT e-invoicing in Peru. Journal of Public Economics, 210, 104661. https://doi.org/10.1016/j.jpubeco.2022.104661
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Tài chính (2025). Đề án chuyển đổi mô hình và phương pháp quản lý thuế đối với hộ kinh doanh khi xóa bỏ thuế khoán.
Campos, F., Goldstein, M., & McKenzie, D (2023). How should the government bring small firms into the formal system? Experimental evidence from Malawi. Journal of Development Economics, 161, 103045. https://doi.org/10.1016/j.jdeveco.2022.103045
Chính phủ (2026). Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2026). Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026 quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Chính phủ (2026). Nghị định số 141/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Galdino, K. M., Molina-Sieiro, G., Lamont, B. T., & Holmes, R. M., Jr. (2023). Factor markets, institutional quality and firm formalisation: The contingent effect of economic conditions at the founding stage. International Small Business Journal: Researching Entrepreneurship, 41(4), 385 – 408. https://doi.org/10.1177/02662426221101021
Gallien, M., & van der Boogaard, V. (2023). Formalization and its discontents: Conceptual fallacies and ways forward. Development and Change, 54(3), 490 – 513. https://doi.org/10.1111/dech.12768
Gutierrez, L. H., & Rodriguez-Lesmes, P. (2023). Productivity gaps at formal and informal microfirms. World Development, 165, 106205. https://doi.org/10.1016/j.worlddev.2023.106205
Hoàng Thị Thu Huyền (2023). Hộ kinh doanh ở Thành phố Hồ Chí Minh trong định hướng “chính thức hóa”: Tổng quan nghiên cứu. Tạp chí Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, 9(277), 45 – 62. https://tapchikhxhhcm.org.vn/index.php/tapchikhxh/article/view/280
Hoàng Thị Thu Huyền (25/12/2022). Formality of household businesses in Ho Chi Minh City: Approached from the logit model. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, 13(6), 80 – 92. https://doi.org/10.52932/jfm.vi72.293
Hoàng Thị Thu Huyền (2024). Khuyến nghị chính sách “chính thức hóa” hộ kinh doanh ở Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (1)(548), 35 – 46.
ILO (2024). Defining legal status for household businesses in Viet Nam: Key to formalization. International Labour Office. https://www.ilo.org/publications/defining-legal-status-household-businesses-viet-nam-key-formalization
Jessen, J., & Kluve, J. (2021). The effectiveness of interventions to reduce informality in low- and middle-income countries. World Development, 138, 105256. https://doi.org/10.1016/j.worlddev.2020.105256
Kabubo-Mariara, J., Machio, P. M., Njoroge, M. M., & Chemengich, M. (2023). Links between firm registration and performance: Does it pay to register? World Development, 169, 106314. https://doi.org/10.1016/j.worlddev.2023.106314
Lê Thị Hằng (19/10/2024). Nâng cao năng lực quản lý hộ kinh doanh tại Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/10/29/nang-cao-nang-luc-quan-ly-ho-kinh-doanh-tai-viet-nam/
Mehjabeen, M., & Khan, S. N. (2024). Motivating factors affecting formalization of small informal enterprises: Evidence from an emerging economy. Business Strategy & Development, 7(3), e426. https://doi.org/10.1002/bsd2.426
Moyo, B (2022). Factors affecting the probability of formalizing informal sector activities in Sub-Saharan Africa: Evidence from World Bank enterprise surveys. African Journal of Economic and Management Studies, 13(3), 480 – 507. https://doi.org/10.1108/AJEMS-06-2021-0304
OECD (2025). OECD economic surveys: Viet Nam 2025. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/fb37254b-en
Pham, M.-A. T., & Srivastava, P. P. (2024). Local economic governance and formalisation of micro and small firms: A gender perspective. Regional Studies, Regional Science, 11(1), 761 – 776. https://doi.org/10.1080/21681376.2024.2427197
Phan, L., & Nguyen, H. T. (2025). Formalization, productivity, and hidden costs: Evidence from Vietnam. Economic Systems, 49(3), 101311. https://doi.org/10.1016/j.ecosys.2025.101311
Phùng Thị Quỳnh Trang & Trần Quang Tiến (2025). Chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp ở Việt Nam – Từ chính sách đến thực tiễn. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, 290, 50 – 53. https://doi.org/10.71374/jfarv.v25.i290.11
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Salvi, E., Belz, F.-M., & Bacq, S. (2023). Informal entrepreneurship: An integrative review and future research agenda. Entrepreneurship Theory and Practice, 47(2), 265 – 303. https://doi.org/10.1177/10422587221115365
Shahid, M., Rodgers, P., Vershinina, N., Zehra, M. E., & Williams, C. C. (2022). Advancing the institutional perspective on informal entrepreneurship: A study of formalisation intentions among street entrepreneurs. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 28(8), 2103 – 2131. https://doi.org/10.1108/IJEBR-02-2022-0151
Tien, T. Q., Diu, T. T. P., Trang, P. T. Q., & Cuong, N. H. (2025). The benefits of formalization for household business in Vietnam: The moderating role of the owner’s gender. Finance Research Letters, 86, 108905. https://doi.org/10.1016/j.frl.2025.108905