Tính bao trùm số trong cung ứng dịch vụ hành chính công tại các xã miền núi của thành phố Hà Nội

Digital inclusion in the provision of public administrative services in the mountainous communes of Hanoi City

ThS. Phùng Thị Thùy Linh
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: Linhptt@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang định hình lại cung ứng dịch vụ hành chính công, song số hóa không đương nhiên bảo đảm tiếp cận bình đẳng. Dựa trên cách tiếp cận tính bao trùm số và lý thuyết khoảng cách số, bài viết đánh giá thực trạng tại các xã miền núi Hà Nội sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, với trường hợp điển hình xã Ba Vì. Kết quả cho thấy, năng lực cung ứng dịch vụ số của chính quyền cơ sở tăng nhanh, trong khi khả năng tiếp cận và sử dụng của người dân vẫn phân hóa theo hạ tầng, khoảng cách địa lý, độ tuổi, kỹ năng số và thành phần dân tộc. Bài viết đề xuất chuyển trọng tâm chính sách từ “số hóa dịch vụ” sang “bảo đảm người dân được tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng dịch vụ số”.

Từ khóa: Tính bao trùm số; chuyển đổi số; dịch vụ hành chính công; khoảng cách số; xã miền núi; thành phố Hà Nội; xã Ba Vì.

Abstract: Digital transformation is reshaping the provision of public administrative services; however, the mere digitalization of services does not automatically ensure equitable access. Drawing on the digital inclusion approach and digital divide theory, this article examines the current state of public administrative service delivery in the mountainous communes of Hanoi City following the implementation of the two-tier local government model, with Ba Vi commune as a typical case. The findings indicate that the capacity of grassroots authorities to deliver digital services has increased rapidly, while citizens’ access to and use of these services remain differentiated according to infrastructure, geographic distance, age, digital skills, and ethnicity. The article proposes a policy shift from “service digitalization” toward “ensuring that citizens can access, use, and benefit from digital services.”

Keywords: Digital inclusion; digital transformation; public administrative services; digital divide; mountainous communes; Hanoi City; Ba Vi commune.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số đã trở thành phương thức chủ đạo trong hiện đại hóa nền hành chính nhà nước, làm thay đổi căn bản cách thức chính quyền cung ứng dịch vụ hành chính công cho người dân – từ mô hình giao dịch trực tiếp tại trụ sở sang mô hình dựa trên dữ liệu và nền tảng số. Định hướng chính sách của Việt Nam không dừng ở việc “đưa thủ tục lên mạng” mà hướng tới dịch vụ công trực tuyến toàn trình, thuận tiện, minh bạch, cắt giảm thời gian và chi phí, lấy trải nghiệm người dùng làm trung tâm.

Tuy nhiên, số hóa dịch vụ và bao trùm số là hai vấn đề khác nhau. Một dịch vụ được cung cấp trực tuyến, nhanh, hiện đại và liên thông vẫn có thể tạo ra rào cản mới nếu người dân thiếu hạ tầng kết nối, thiết bị, kỹ năng số, khả năng định danh điện tử hoặc điều kiện để tự thực hiện thủ tục. Khi đó, chính công nghệ được kỳ vọng mở rộng cơ hội tiếp cận lại có thể trở thành một tầng rào cản đối với các nhóm yếu thế, làm phát sinh bất bình đẳng ngay trong khu vực dịch vụ công.

Vấn đề này đặc biệt đáng chú ý ở các xã miền núi, nơi hội tụ nhiều yếu tố bất lợi: hạ tầng viễn thông chưa đồng đều, khoảng cách địa lý lớn, dân cư phân tán, tỷ lệ người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số cao, mặt bằng kỹ năng số còn thấp. Ở những địa bàn này, nguy cơ một bộ phận dân cư bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số là hiện hữu và có thể tạo thêm khoảng cách phát triển giữa miền núi với đô thị.

Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp càng làm nổi bật yêu cầu bảo đảm tính bao trùm số, bởi cấp xã trực tiếp đảm nhận phần lớn việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Trong bối cảnh đó, câu hỏi trọng tâm không còn là “có bao nhiêu dịch vụ được cung cấp trực tuyến” mà là “ai có thể tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ các dịch vụ đó”.

2. Khái quát về cung ứng dịch vụ hành chính công và chuyển đổi số

2.1. Cung ứng dịch vụ hành chính công và chuyển đổi số

Dịch vụ hành chính công là một trong ba loại hình của dịch vụ công, do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nhằm phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân, dựa trên thẩm quyền hành chính – pháp lý của Nhà nước. Đặc trưng của loại dịch vụ này là gắn với hoạt động quản lý nhà nước và thường mang tính bắt buộc đối với người dân khi thực hiện các thủ tục, như: đăng ký, cấp phép, chứng thực, do đó, khả năng tiếp cận thuận lợi hay không có ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo đảm quyền của công dân.

Chuyển đổi số trong cung ứng dịch vụ hành chính công là quá trình ứng dụng công nghệ số để thay đổi căn bản phương thức vận hành, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ và nâng cao chất lượng phục vụ, thay vì chỉ “tin học hóa” các thao tác thủ công như giai đoạn trước. Quá trình này bao gồm: số hóa dữ liệu và hồ sơ, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống, định danh và xác thực điện tử, đơn giản hóa và tự động hóa quy trình, hướng tới nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng” nhằm giảm tối đa giấy tờ, thời gian và chi phí cho người dân.

Khung pháp lý cho chuyển đổi số trong khu vực công ngày càng hoàn thiện, từ Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, Chiến lược phát triển chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (Quốc hội, 2025a) và Luật Chuyển đổi số năm 2025 (Quốc hội, 2025b). Đây là cơ sở để cấp xã với vai trò được đề cao trong mô hình chính quyền hai cấp trở thành đầu mối trực tiếp cung ứng dịch vụ công số cho người dân.

2.2. Tính bao trùm số và khoảng cách số

Tính bao trùm số cần được phân biệt với mức độ số hóa. Nếu số hóa phản ánh việc dịch vụ được đưa lên môi trường số, thì tính bao trùm số trả lời câu hỏi ai thực sự tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng được dịch vụ đó. Cách đặt vấn đề này gắn với lý thuyết về khoảng cách số. Các nghiên cứu về khoảng cách số cho thấy, bất bình đẳng trong môi trường số không chỉ nằm ở cấp độ thứ nhất: khả năng tiếp cận thiết bị và kết nối, mà còn ở cấp độ thứ hai: sự chênh lệch về kỹ năng và mức độ sử dụng, và cấp độ thứ ba: sự khác biệt về kết quả, lợi ích mà mỗi nhóm thu được từ việc sử dụng công nghệ. Theo đó, thu hẹp khoảng cách tiếp cận vật lý là điều kiện cần nhưng chưa đủ, nếu không nâng cao năng lực và bảo đảm lợi ích thực chất, chuyển đổi số có thể tái tạo, thậm chí khuếch đại các bất bình đẳng xã hội sẵn có.

Từ góc độ này, một dịch vụ hành chính được cung cấp trực tuyến chưa hẳn đã có tính bao trùm nếu vẫn tồn tại rào cản về hạ tầng, thiết bị, kỹ năng số, định danh và xác thực điện tử hoặc điều kiện kinh tế của các nhóm dân cư. Vì các điều kiện tiếp cận số khác biệt rõ rệt giữa đô thị và miền núi, tính bao trùm số không thể được đánh giá đồng nhất cho mọi địa bàn mà phải xét đến đặc điểm không gian, hạ tầng và cơ cấu dân cư của từng địa phương.

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính bao trùm số

Tiếp cận từ cả phía cung và phía cầu, có thể xác định sáu yếu tố cơ bản chi phối tính bao trùm số.

Một là, khả năng tiếp cận số: điều kiện nền tảng về thiết bị, kết nối Internet, nền tảng cung cấp dịch vụ và điểm hỗ trợ tại cơ sở; ở miền núi, chất lượng hạ tầng viễn thông và khả năng trang bị thiết bị là rào cản đầu tiên.

Hai là, năng lực số của người dân: khả năng sử dụng thiết bị, tìm kiếm thông tin, kê khai và nộp hồ sơ, sử dụng định danh và xác thực điện tử, vốn chênh lệch lớn theo độ tuổi, trình độ và kinh nghiệm công nghệ.

Ba là, khả năng sử dụng dịch vụ: mức độ dễ hiểu, dễ thao tác và dễ theo dõi kết quả của quy trình; một dịch vụ có giao diện phức tạp, nhiều bước hoặc liên tục đòi hỏi dữ liệu cơ quan nhà nước đã có vẫn tạo ra rào cản.

Bốn là, khả năng hỗ trợ của chính quyền: vai trò cầu nối của công chức, tổ công nghệ số cộng đồng và các hình thức hướng dẫn, hỗ trợ trực tiếp.

Năm là, tính công bằng và không loại trừ: yêu cầu duy trì cơ hội tiếp cận tương đối bình đẳng cho người cao tuổi, người yếu thế và người ở xa trung tâm.

Sáu là, niềm tin vào chính quyền số: yếu tố quyết định việc người dân có lựa chọn phương thức trực tuyến hay không, gắn với an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu cá nhân và tính minh bạch trong xử lý.

Sáu yếu tố trên bổ trợ và tác động qua lại với nhau: hạ tầng và năng lực số tạo điều kiện đầu vào; thiết kế dịch vụ và sự hỗ trợ của chính quyền quyết định khả năng hoàn thành thủ tục; công bằng và niềm tin bảo đảm lợi ích được phân bổ rộng và bền vững. Trong điều kiện các xã miền núi, ba yếu tố có tính ràng buộc lớn nhất thường là khả năng tiếp cận số, năng lực số của người dân và khả năng hỗ trợ trực tiếp của chính quyền, đây cũng là những điểm cần được ưu tiên can thiệp chính sách. Do vậy, tính bao trùm số không thể đo bằng số lượng dịch vụ trực tuyến mà bằng khả năng các nhóm dân cư khác nhau thực sự tiếp cận, sử dụng và tin tưởng dịch vụ.

3. Thực trạng tính bao trùm số trong cung ứng dịch vụ hành chính công tại các xã miền núi của thành phố Hà Nội

Những năm gần đây, Hà Nội đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan nhà nước, từng bước chuyển từ phương thức truyền thống sang cung cấp dịch vụ trên môi trường số; đồng thời, ban hành Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số đối với các cơ quan nhà nước, trong đó có Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã.

Theo Quyết định 201/QĐ-UBND ngày 15/01/2026 của UBND thành phố Hà Nội phê duyệt danh sách thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển (khu vực I) của thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 – 2030, Hà Nội có 5 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030, gồm: Ba Vì, Suối Hai, Yên Bài, Yên Xuân và Mỹ Đức, với 97 thôn thuộc diện này (UBND thành phố Hà Nội, 2026). Đây là những địa bàn có điều kiện tiếp cận số và đặc điểm dân cư khác biệt đáng kể so với khu vực đô thị nên kết quả chuyển đổi số cần được đánh giá rộng hơn tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến. Thực trạng tại xã Ba Vì cho thấy:

Về năng lực cung ứng. Xã Ba Vì được thành lập trên cơ sở hợp nhất Ba Vì, Khánh Thượng và phần lớn Minh Quang, rộng 81,27 km² với 26.651 dân, phần lớn diện tích nằm trong vùng đồi núi và vùng đệm, vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Vì. Từ ngày 01/7/2025, xã đã tiếp nhận 3.093 hồ sơ và giải quyết 3.081 hồ sơ, đạt 99,61%; trên 75% thủ tục hành chính đủ điều kiện thuộc thẩm quyền được cung cấp trực tuyến toàn trình; toàn bộ quy trình được công khai, số hóa bằng mã QR để người dân tra cứu và thực hiện (Nguyễn Thắng, 29/12/2025). Những con số này cho thấy, khả năng cung ứng dịch vụ số của chính quyền cơ sở đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, năng lực cung ứng không đồng nghĩa với tiếp cận bình đẳng, trên địa bàn xã vẫn còn điểm lõm sóng, hạ tầng viễn thông tại một số khu vực chưa ổn định và dự kiến phải bổ sung 12 vị trí lắp đặt trạm thu, phát sóng. Với người dân ở khu vực trung tâm, việc tiếp cận Internet và nền tảng dịch vụ công tương đối thuận lợi, nhưng với người dân ở các thôn xa hoặc nơi kết nối chưa ổn định, một thủ tục trực tuyến có thể phát sinh thêm chi phí về thời gian, thiết bị và công sức. Như vậy, tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn ở mức cao phản ánh hiệu quả của phía cung, nhưng chưa thể hiện mức độ đồng đều của khả năng tiếp cận ở phía cầu.

Năng lực số của người dân là điểm nghẽn rõ nhất. Thôn Dy (xã Ba Vì) có 98% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số và còn nhiều khó khăn trong tiếp cận công nghệ; khoảng cách giữa “dịch vụ đã số hóa” và “người dân biết sử dụng dịch vụ” buộc chính quyền phải chủ động đưa dịch vụ đến dân. Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội đã triển khai mô hình “Dịch vụ công lưu động” tới tận thôn, trong năm 2026, tiếp tục đưa dịch vụ đến tại nhà ở các xã Yên Bài, Suối Hai và Ba Vì. Đây là những mô hình có ý nghĩa quan trọng cho thấy, chính quyền đang chuyển từ “người dân tìm đến cơ quan” sang “chính quyền chủ động phục vụ” – một biểu hiện tích cực của tính bao trùm số (Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội, 2025).

Song, chính sự cần thiết của các mô hình lưu động và hỗ trợ tại nhà cũng cho thấy, dịch vụ công số hiện chưa thể tự vận hành nếu thiếu hỗ trợ trực tiếp. Việc phải mang dịch vụ đến tận thôn, tận nhà là giải pháp bù đắp cho khoảng trống về năng lực số và hạ tầng chứ chưa phải là trạng thái người dân tự tiếp cận dịch vụ số một cách độc lập. Bên cạnh đó, một hạn chế khác là dữ liệu giữa các lĩnh vực chưa hoàn toàn đồng bộ, ảnh hưởng đến việc cập nhật, khai thác dữ liệu và cung cấp dịch vụ theo nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”.

Tuy nhiên, mô hình hỗ trợ trực tiếp cũng đặt ra vấn đề về tính bền vững của quá trình chuyển đổi số. Nếu người dân thường xuyên phải dựa vào cán bộ để thực hiện các thao tác từ tạo tài khoản, xác thực, kê khai, tải hồ sơ đến theo dõi kết quả thì mức độ “tự chủ số” của người sử dụng vẫn còn hạn chế. Vì vậy, cần phân biệt giữa hai kết quả: (1) Người dân được hỗ trợ để hoàn thành một giao dịch số và (2) Người dân có khả năng tự mình thực hiện giao dịch số trong những lần tiếp theo. Đối với tính bao trùm số, kết quả thứ hai có ý nghĩa quan trọng hơn, bởi nó phản ánh mức độ hình thành năng lực số thực chất của người dân

Yêu cầu công bằng và không loại trừ vẫn nổi cộm. Xã Ba Vì có 26 thôn, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 58% dân số. Với cơ cấu dân cư như vậy, một dịch vụ có thể đạt tỷ lệ sử dụng trực tuyến cao ở nhóm dân cư trẻ, có trình độ, sinh sống ở trung tâm, nhưng lại ít được sử dụng bởi người cao tuổi, người kỹ năng số thấp hay người ở các thôn xa. Vì vậy, tính bao trùm số phải được đánh giá theo từng nhóm dân cư và từng địa bàn chứ không chỉ bằng số liệu bình quân của toàn xã.

Đáng lưu ý, khoảng cách số không chỉ tồn tại giữa khu vực đô thị và miền núi mà còn có tính chất “nội vùng”, tức là có thể xuất hiện ngay giữa các thôn trong cùng một xã. Sự khác biệt về khoảng cách đến trung tâm, chất lượng kết nối, điều kiện thiết bị, độ tuổi, trình độ và kỹ năng số tạo ra những mức độ tiếp cận khác nhau. Nếu các chính sách hỗ trợ được thiết kế đồng nhất cho toàn xã mà không tính đến sự khác biệt này, nguồn lực có thể chưa được tập trung đúng vào những nhóm đang gặp nhiều rào cản nhất.

Cách đo lường kết quả chuyển đổi số hiện nay chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu đầu vào và kết quả cung ứng như số lượng dịch vụ trực tuyến, số hồ sơ tiếp nhận và tỷ lệ giải quyết đúng hạn. Các chỉ tiêu này quan trọng nhưng chưa phản ánh được ai đang thực sự sử dụng dịch vụ, ai chưa tiếp cận được và vì sao. Khi thiếu những chỉ tiêu về mức độ bao trùm, chính quyền khó nhận diện chính xác nhóm dân cư đang bị bỏ lại phía sau để có biện pháp hỗ trợ phù hợp.

Từ thực trạng trên có thể nhận thấy, năng lực cung ứng dịch vụ công số của chính quyền cơ sở đang tăng nhanh, trong khi khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ của người dân vẫn còn phân hóa. Đây chính là khoảng cách giữa “chuyển đổi số của chính quyền” và “tính bao trùm của chuyển đổi số đối với người dân” – vấn đề cốt lõi cần được nhận diện khi đánh giá kết quả chuyển đổi số ở các xã miền núi.

Có thể khái quát năm hạn chế chủ yếu: (1) Hạ tầng viễn thông chưa đồng đều, vẫn còn điểm lõm sóng, khiến một bộ phận dân cư khó thực hiện thủ tục trực tuyến ngay cả khi có nhu cầu. (2) Năng lực số của người dân chênh lệch lớn, nhất là ở người cao tuổi, người có kỹ năng số thấp và một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số. (3) Khoảng cách địa lý giữa các thôn và trung tâm hành chính làm gia tăng chi phí tiếp cận dịch vụ. (4) Dữ liệu giữa các lĩnh vực chưa hoàn toàn đồng bộ, ảnh hưởng đến khả năng liên thông và tái sử dụng dữ liệu. (5) Việc đo lường tính bao trùm số còn thiên về đầu vào và kết quả cung ứng, thiếu các chỉ tiêu phản ánh trực tiếp mức độ tiếp cận và sử dụng của các nhóm dân cư.

4. Một số giải pháp

Một là, thiết kế dịch vụ lấy người dùng làm trung tâm. Dịch vụ công trực tuyến cần xuất phát từ đặc điểm, nhu cầu và khả năng sử dụng thực tế của các nhóm dân cư, thay vì chỉ dựa trên yêu cầu quản lý của cơ quan nhà nước. Đối với miền núi, cần đơn giản hóa giao diện, ngôn ngữ và quy trình thao tác, tăng khả năng tự động điền thông tin, tra cứu và theo dõi tình trạng hồ sơ; đồng thời, ưu tiên trải nghiệm của người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và người sinh sống ở khu vực xa trung tâm.

UBND xã cần định kỳ rà soát những thủ tục được người dân sử dụng nhiều và xác định các bước mà người dân thường gặp khó khăn để điều chỉnh hướng dẫn. Có thể sử dụng video ngắn, hình ảnh minh họa, mã QR, tờ hướng dẫn từng bước và các mẫu kê khai đơn giản. Việc đánh giá chất lượng dịch vụ cần dựa cả vào phản hồi của người dân, không chỉ dựa vào tỷ lệ hồ sơ được giải quyết đúng hạn

Hai là, bảo đảm cung cấp dịch vụ công số không dẫn đến loại trừ số. Việc mở rộng dịch vụ trực tuyến không nên đồng nghĩa với thu hẹp hoặc loại bỏ các hình thức hỗ trợ trực tiếp. Với người chưa có thiết bị, đường truyền, tài khoản định danh hoặc kỹ năng số cần thiết, UBND xã phải duy trì các kênh hỗ trợ phù hợp, như hướng dẫn tại bộ phận một cửa, hỗ trợ tại cộng đồng, hỗ trợ lưu động hoặc tại nơi cư trú, để chuyển đổi số trở thành công cụ mở rộng chứ không thu hẹp khả năng tiếp cận dịch vụ công.

Ba là, phát triển mạng lưới các điểm hỗ trợ dịch vụ công số tại cộng đồng. Bên cạnh bộ phận một cửa của UBND xã, cần phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng, nhà văn hóa thôn, điểm sinh hoạt cộng đồng và các mô hình dịch vụ công lưu động để đưa hỗ trợ số đến gần người dân hơn. Các điểm hỗ trợ này cần tập trung vào những nhóm có nguy cơ bị hạn chế tiếp cận như người cao tuổi, người có kỹ năng số thấp, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và người ở xa trung tâm xã.

Bốn là, nâng cao năng lực số của đội ngũ công chức cấp xã. Trong mô hình chính quyền hai cấp, công chức cấp xã không chỉ tiếp nhận và giải quyết hồ sơ mà còn là người hướng dẫn, hỗ trợ và kết nối người dân với chính quyền số. Do đó, cần tăng cường đào tạo kỹ năng sử dụng hệ thống thông tin, khai thác và chia sẻ dữ liệu, xác thực điện tử, xử lý hồ sơ trực tuyến và kỹ năng hướng dẫn người dân; nội dung đào tạo cần gắn với tình huống thực tế tại địa phương và khả năng hỗ trợ các nhóm dân cư có mức độ thành thạo công nghệ khác nhau.

Năm là, đổi mới cách đo lường kết quả chuyển đổi số, từ đo “mức độ số hóa” sang đo “mức độ bao trùm số”. Ngoài các chỉ tiêu về số lượng dịch vụ và tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, cần bổ sung các chỉ tiêu phản ánh khả năng tiếp cận và sử dụng của các nhóm dân cư, như: tỷ lệ người dân tự thực hiện được hồ sơ trực tuyến, tỷ lệ người cần hỗ trợ, mức độ tiếp cận của người cao tuổi và người kỹ năng số thấp, khoảng cách tiếp cận giữa khu vực trung tâm và vùng xa, cùng mức độ tin tưởng của người dân đối với chính quyền số. Việc đo lường theo hướng này giúp chính quyền trả lời được câu hỏi ai đang sử dụng được dịch vụ, ai đang bị bỏ lại phía sau và cần hỗ trợ như thế nào.

5. Kết luận

Chuyển đổi số trong cung ứng dịch vụ hành chính công chỉ thực sự tạo ra giá trị công khi quá trình số hóa không làm gia tăng khoảng cách tiếp cận giữa các nhóm dân cư. Thực tiễn tại các xã miền núi của Hà Nội, qua trường hợp xã Ba Vì cho thấy, năng lực cung ứng dịch vụ số của chính quyền cơ sở đang được cải thiện nhanh, nhưng khả năng tiếp cận và sử dụng của người dân vẫn phân hóa theo hạ tầng, độ tuổi, kỹ năng số và thành phần dân tộc. Vì vậy, đối với các xã miền núi, tính bao trùm số cần được coi là một tiêu chí của chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công, bên cạnh các tiêu chí truyền thống, như: thời gian, chi phí, tính minh bạch và sự hài lòng. Chỉ khi lấy tính bao trùm làm thước đo, chuyển đổi số ở cơ sở mới đi vào thực chất và phục vụ được mọi người dân.

Tài liệu tham khảo:
Quốc hội (2025a). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Nguyễn Thắng (29/12/2025). Xã Ba Vì đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số. https://caicachhanhchinh.hanoi.gov.vn/tin-tuc-tu-xa-phuong/xa-ba-vi-day-manh-cai-cach-hanh-chinh-gan-voi-chuyen-doi-so-2658251218093651994.htm
Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội (2025). Kế hoạch số 73/KH-TTPVHCC ngày 09/10/2025 về việc triển khai thí điểm “Mô hình dịch vụ công lưu động”.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2026). Quyết định 201/QĐ-UBND ngày 15/01/2026 phê duyệt danh sách thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển (khu vực I) của thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 – 2030.