Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục đại học công lập ở Việt Nam

Improving the institutional framework for state management of quality accreditation in public higher education in Vietnam

ThS. Đoàn Kim Huy
Trường Đại học Phương Đông
Email: huy.dk@phuongdong.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Hệ thống cơ sở giáo dục đại học công lập giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Để đảm bảo hiệu quả đào tạo thực chất, đòi hỏi phải có cơ chế kiểm định chất lượng đáng tin cậy. Tuy nhiên, hiệu quả kiểm định không chỉ phụ thuộc vào tiêu chuẩn đánh giá mà còn vào thể chế quản lý nhà nước điều chỉnh đối với hoạt động này. Trên cơ sở phân tích thể chế, chính sách và thực tiễn tổ chức triển khai quy định về kiểm định chất lượng giáo dục đại học công lập ở Việt Nam, bài viết đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, phân định thẩm quyền, trách nhiệm, bảo đảm tính độc lập và khách quan của hoạt động kiểm định. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy cải tiến chất lượng giáo dục đại học công lập ở Việt Nam một cách thực chất.

Từ khóa: Thể chế quản lý nhà nước; kiểm định chất lượng giáo dục; giáo dục đại học công lập; tự chủ đại học; trách nhiệm giải trình.

Abstract: The public higher education system plays a vital role in training high-quality human resources for the country. To ensure the actual effectiveness of education, a reliable quality assurance mechanism is required. However, the effectiveness of quality assurance depends not only on evaluation standards but also on the state management framework governing these activities. Based on an analysis of the institutional framework, policies, and practical implementation of regulations governing the quality assurance of public higher education in Vietnam, this article assesses the current situation and proposes several solutions to improve the legal framework, clarify authority and responsibilities, and ensure the independence and objectivity of quality assurance activities. In doing so, it contributes to enhancing the effectiveness of state management and promoting substantive improvements in the quality of public higher education in Vietnam.

Keywords: State management institutions; education quality assurance; public higher education; university autonomy; accountability.

1. Chủ trương, chính sách và khuôn khổ pháp lý về quản lý nhà nước đối với kiểm định chất lượng giáo dục đại học công lập

Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục đại học công lập là yêu cầu gắn liền với quá trình đổi mới quản lý giáo dục theo hướng tăng cường tự chủ, trách nhiệm giải trình và nâng cao chất lượng đào tạo. Ngay từ khi Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ra đời, nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống kiểm định, thực hiện kiểm định định kỳ, công khai kết quả và xây dựng hệ thống kiểm định độc lập đã được xác định. Định hướng này đã thể hiện sự chuyển đổi tư duy từ quản lý chủ yếu thông qua điều kiện đầu vào sang chú trọng tiêu chuẩn chất lượng và cơ chế đánh giá bên ngoài. Theo đó, kiểm định không chỉ là hoạt động chuyên môn mà còn là công cụ hỗ trợ Nhà nước trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý chất lượng giáo dục.

Định hướng đổi mới tiếp tục được phát triển tại Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đổi mới thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị và phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu mới. Từ góc độ quản lý nhà nước, chủ trương này đang đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện mối quan hệ giữa quyền tự chủ của cơ sở đào tạo với trách nhiệm bảo đảm chất lượng và giải trình trước xã hội. Đối với giáo dục đại học công lập, kiểm định cần được đặt trong cơ chế quản trị mà Nhà nước xác lập tiêu chuẩn, giám sát việc thực hiện, đồng thời tôn trọng quyền tự chủ và trách nhiệm của các chủ thể tham gia đánh giá.

Ở phương diện pháp lý, Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) đã tạo cơ sở cho việc hình thành, phát triển hệ thống kiểm định chất lượng và gắn hoạt động này với tự chủ, trách nhiệm giải trình. Đặc biệt, ngày 10/12/2025 Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 được thông qua (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026). Luật dành riêng Chương VI quy định về “Bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học”, qua đó xác lập mối liên hệ giữa hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, đánh giá chất lượng và kiểm định bên ngoài. Xét về bản chất thể chế, cách tiếp cận này đòi hỏi chất lượng phải được quản lý thông qua trách nhiệm thường xuyên của cơ sở đào tạo, không chỉ bằng việc công nhận đạt tiêu chuẩn theo chu kỳ.

Đáng chú ý, Điều 34, 35, 36 của Luật Giáo dục đại học năm 2025 cũng quy định riêng về các tiêu chuẩn đánh giá, kiểm định chất lượng và đánh giá chất lượng. Theo đó, cơ sở giáo dục đại học thuộc đối tượng kiểm định định kỳ; một số nhóm chương trình đào tạo phải thực hiện kiểm định theo quy định. Cơ sở đào tạo được lựa chọn tổ chức kiểm định được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép hoặc công nhận hoạt động tại Việt Nam. Tổ chức kiểm định phải bảo đảm tính độc lập về chuyên môn, tổ chức và tài chính theo pháp luật. Những quy định này tạo cơ sở phân định trách nhiệm giữa Nhà nước, tổ chức kiểm định và cơ sở đào tạo, đồng thời đặt ra yêu cầu kết hợp quyền đánh giá độc lập với trách nhiệm giải trình.

Để cụ thể hóa Luật, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT ngày 17/02/2025 (có hiệu lực thi hành từ ngày 04/4/2025), quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. Thông tư điều chỉnh tiêu chuẩn đánh giá, quy trình tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận chất lượng, đồng thời quy định trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Đặc biệt, quy định chuyển tiếp cũng cho phép những trường hợp đã thực hiện tự đánh giá, đánh giá ngoài trước thời điểm thông tư có hiệu lực tiếp tục hoàn thành quy trình theo văn bản trước đó trong thời hạn xác định. Điều này thể hiện yêu cầu bảo đảm tính liên tục và ổn định pháp lý khi đổi mới tiêu chuẩn kiểm định. 

Đối với kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học, Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT ngày 31/3/2026, (có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2026), thay thế Thông tư số 12/2017/TT-BGDĐT đã thiết lập khuôn khổ mới về tiêu chuẩn và quy trình kiểm định. Việc điều chỉnh các quy định ở cấp cơ sở và chương trình đào tạo đã góp phần xác lập hai cấp độ đánh giá có quan hệ bổ trợ: đánh giá năng lực bảo đảm chất lượng của toàn cơ sở và đánh giá việc đáp ứng yêu cầu chất lượng của từng chương trình đào tạo. Về phương diện quản lý nhà nước, sự phân định này tạo điều kiện thực hiện giám sát theo những đối tượng và tiêu chí phù hợp.

Bên cạnh các quy định về tiêu chuẩn và quy trình, thể chế kiểm định còn được thiết lập thông qua cơ chế giám sát hoạt động của tổ chức kiểm định. Trước đó, ngày 26/6/2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 13/2023/TT-BGDĐT (có hiệu lực thi hành từ ngày 11/8/2023) quy định việc giám sát, đánh giá tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm. Các tiêu chuẩn đánh giá bao gồm: tổ chức và quản lý, cơ chế bảo đảm hoạt động độc lập, khách quan, trung thực, phòng ngừa xung đột lợi ích và trách nhiệm giải quyết phản ánh, kiến nghị. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phân biệt quyền tự chủ chuyên môn của tổ chức kiểm định với trách nhiệm chịu sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền, qua đó góp phần bảo vệ độ tin cậy của kết quả đánh giá.

Nhìn chung, hệ thống chủ trương và pháp luật về kiểm định chất lượng giáo dục đại học cơ bản đã hình thành khuôn khổ điều chỉnh tương đối rõ về tiêu chuẩn, quy trình, thẩm quyền và cơ chế giám sát. Đặc biệt, đã có sự phân định giữa trách nhiệm quản lý của Nhà nước, quyền đánh giá chuyên môn của tổ chức kiểm định và nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục đại học công lập.

2. Thực trạng xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát thể chế kiểm định chất lượng giáo dục đại học công lập ở Việt Nam

2.1. Những kết quả đạt được

Quá trình đổi mới quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong việc từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tổ chức hoạt động đánh giá và hình thành cơ chế giám sát. Đặc biệt, việc triển khai Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm giai đoạn 2022 – 2030 theo Quyết định số 78/QĐ-TTg ngày 14/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo cơ sở để kết nối các nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn, phát triển tổ chức kiểm định và nâng cao năng lực bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở đào tạo.

Kết quả sơ kết được tổ chức vào tháng 10/2025 cho thấy, công tác kiểm định đã được triển khai trên nhiều phương diện, không chỉ giới hạn ở việc công nhận đạt tiêu chuẩn. Hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học đã có nhiều chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động. Khảo sát tại 177 cơ sở giáo dục đại học cho thấy, 170 cơ sở (96,3%) đã thành lập được đơn vị chuyên trách bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu quan trọng của Quyết định 78, đồng thời tạo nền tảng xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong (IQA) – trụ cột của quản trị đại học hiện đại theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW (Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025).

Trên phương diện xây dựng thể chế, việc ban hành các quy định mới về kiểm định chương trình đào tạo và cơ sở giáo dục đại học liên tiếp trong hai năm 2025 – 2026 đã tiếp tục chuẩn hóa khuôn khổ đánh giá. Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT được xây dựng trên cơ sở tham khảo phiên bản 4.0 của bộ tiêu chuẩn AUN-QA và điều kiện thực tiễn Việt Nam; trong khi Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT điều chỉnh hoạt động kiểm định ở cấp cơ sở giáo dục. Sự phân định này tạo căn cứ để đánh giá chất lượng ở hai cấp độ, đồng thời xác lập trách nhiệm thực hiện theo tiêu chuẩn thống nhất (Trung tâm Truyền thông và Sự kiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025).

Hệ thống tổ chức kiểm định bên ngoài cũng đã hình thành năng lực triển khai hoạt động đánh giá trên phạm vi quốc gia. Các tổ chức này bao gồm những trung tâm thuộc đại học, trường đại học, hiệp hội và tổ chức kiểm định khác được phép hoạt động. Theo Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, “tất cả các tổ chức kiểm định đến hạn đều đã được đánh giá định kỳ theo Thông tư 13/2023/TT-BGDĐT và trên 60% đã tham gia các mạng lưới bảo đảm chất lượng quốc tế hoặc hợp tác song phương, thể hiện bước tiến rõ nét trong hội nhập quốc tế” (Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Sự tham gia của nhiều tổ chức đánh giá tạo điều kiện phân công hoạt động kiểm định ngoài cơ quan quản lý nhà nước, qua đó hình thành cấu trúc quản lý có sự phân biệt giữa chủ thể ban hành quy định và chủ thể đánh giá chuyên môn.

Về mức độ triển khai kiểm định, báo cáo của Cục Quản lý chất lượng tại hội nghị Sơ kết Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học (tháng 10/2025) ghi nhận 2.637 chương trình đào tạo đã được kiểm định, gồm 1.941 chương trình theo tiêu chuẩn trong nước và 696 chương trình theo tiêu chuẩn quốc tế; tương đương 52,1% tổng số 5.007 lượt ngành đào tạo. Các con số này được đánh giá là vượt xa mục tiêu trung hạn (35%, trong đó 10% đạt chuẩn quốc tế), đồng thời là cơ sở quan trọng để triển khai Nghị quyết 281/NQ-CP về phân tầng và xếp hạng cơ sở giáo dục đại học (Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Đến ngày 31/10/2025, Cục công bố toàn quốc có 204 cơ sở giáo dục đại học đạt kiểm định, trong đó 129 cơ sở đạt kiểm định chu kỳ 2; số chương trình được kiểm định đạt 2.844, gồm 2.141 chương trình theo tiêu chuẩn trong nước và 703 chương trình theo tiêu chuẩn nước ngoài. Đáng lưu ý, nhiều trường đại học Việt Nam đã xuất hiện trong các bảng xếp hạng uy tín như QS, THE (Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Các số liệu này cho thấy phạm vi triển khai kiểm định tiếp tục được mở rộng, đồng thời đã có nhu cầu đánh giá lại sau chu kỳ đầu.

Công tác thống kê, công bố thông tin kiểm định đã được duy trì và cập nhật theo từng thời điểm, chẳng hạn: Mới đây, ngày 06/10/2026, Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố danh sách cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng, với dữ liệu cập nhật đến ngày 30/9/2026 (Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026). Việc công bố định kỳ giúp cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và các bên liên quan có căn cứ tra cứu tình trạng công nhận.

Ngoài ra, cơ chế giám sát tổ chức kiểm định cũng đã được triển khai thông qua hoạt động đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước. Trong năm 2025, thực hiện Kế hoạch số 151/KH-BGDĐT ngày 20/02/2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành đánh giá 05 tổ chức kiểm định trong nước, gồm các trung tâm thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Vinh và Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam. Hoạt động này được tiến hành theo Thông tư số 13/2023/TT-BGDĐT quy định việc giám sát, đánh giá tổ chức KĐCLGD đại học và cao đẳng sư phạm, qua đó thể hiện việc vận hành cơ chế giám sát đối với chủ thể thực hiện đánh giá độc lập (Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026). Hoạt động giám sát cũng tiếp tục được thực hiện trong năm 2026, theo đó Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức đánh giá Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Thăng Long và Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Sài Gòn theo Kế hoạch số 389/KH-BGDĐT ngày 12/3/2026 (Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026). Việc đánh giá các trung tâm thường xuyên qua từng năm liên tiếp cho thấy cơ chế giám sát đã được tổ chức thực hiện nghiêm túc.

Đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập, hoạt động bảo đảm chất lượng bên trong cũng từng bước được thể chế hóa trong quản trị nhà trường. Theo thống kê khảo sát tại 177 cơ sở giáo dục đại học được công bố tháng 10/2025 cho thấy, 170 cơ sở, tương đương 96,3%, đã thành lập đơn vị chuyên trách bảo đảm chất lượng. Ở cấp cơ sở, nhiều trường đại học công lập trong nước đã công khai kế hoạch và kết quả cải tiến sau đánh giá ngoài và công bố kế hoạch cải tiến đối với các chương trình đào tạo (Trung tâm Đảm bảo chất lượng giáo dục, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2026).

2.2. Một số hạn chế, tồn tại

Mặc dù khuôn khổ pháp lý và hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đại học đã và đang từng bước được hoàn thiện, song thực tiễn cho thấy, sự phát triển về quy mô kiểm định chưa đồng nghĩa với hiệu quả vận hành của thể chế. Vẫn còn tình trạng một số cơ sở chưa gắn hoạt động bảo đảm chất lượng với cải tiến chương trình đào tạo và quản trị nhà trường. Văn hóa chất lượng chưa thực sự được hình thành sâu rộng, kiểm định còn được nhìn nhận như một thủ tục hành chính (Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Điều này phản ánh việc đáp ứng yêu cầu đánh giá bên ngoài với năng lực chuyển hóa kết quả kiểm định thành hoạt động quản trị thường xuyên vẫn còn hạn chế nhất định. Đối với các trường đại học công lập, những hạn chế đó cũng đặt ra yêu cầu cần xem xét đồng thời trách nhiệm quản lý của Nhà nước và trách nhiệm cải tiến chất lượng của từng cơ sở giáo dục đại học.

Một vấn đề đáng chú ý nữa là yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ và ổn định trong quá trình chuyển đổi khuôn khổ pháp lý về kiểm định. Trước khi các quy định mới được ban hành, Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định nhiệm vụ rà soát, sửa đổi những văn bản liên quan đến kiểm định chương trình đào tạo, cơ sở giáo dục đại học và các ngành đào tạo đặc thù nhằm khắc phục bất cập phát sinh trong thực tiễn (Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Việc Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT và Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT lần lượt thay thế các quy định trước đây đặt ra yêu cầu trước mắt cần có sự hướng dẫn thống nhất, xử lý hồ sơ chuyển tiếp và điều chỉnh hệ thống bảo đảm chất lượng tại cơ sở đào tạo.

Bên cạnh yêu cầu đồng bộ các quy định pháp lý, cơ chế gắn kết kiểm định với các công cụ quản lý nhà nước vẫn cần được tiếp tục làm rõ, trong đó có yêu cầu về rà soát quy định để tăng cường liên hệ giữa bảo đảm chất lượng với mở ngành, đầu tư, xếp hạng và tự chủ đại học. Nhu cầu hoàn thiện cơ chế sử dụng kết quả kiểm định trong quản lý hệ thống, thay vì chỉ phục vụ công nhận đạt tiêu chuẩn cũng là vấn đề được đặt ra, cần xác định rõ những trường hợp kết quả kiểm định được sử dụng làm căn cứ quản lý, giới hạn giá trị của kết quả và trách nhiệm giải trình của cơ quan ra quyết định.

Ngoài ra, hiệu quả sử dụng kết quả kiểm định để cải tiến chất lượng cũng chưa đồng đều giữa các cơ sở đào tạo. Một số trường còn thực hiện bảo đảm chất lượng mang tính hình thức, trong khi hoạt động kiểm định ở trình độ sau đại học còn hạn chế. Tình trạng đội ngũ cán bộ bảo đảm chất lượng tại một số cơ sở chưa được đào tạo bài bản, cần tăng thêm số lượng kiểm định viên có năng lực đảm nhiệm vị trí trưởng đoàn và bảo đảm chuyên môn phù hợp với các nhóm ngành. Khi chưa đáp ứng đồng bộ các điều kiện này, chất lượng tự đánh giá và tính nhất quán của đánh giá ngoài cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Về quản trị dữ liệu, cơ sở dữ liệu và hạ tầng phục vụ bảo đảm chất lượng còn những hạn chế. Vấn đề thể chế đặt ra ở đây không đơn thuần là đầu tư hạ tầng công nghệ mà còn là chuẩn hóa thông tin, phân định trách nhiệm cập nhật và xác lập cơ chế khai thác dữ liệu giữa cơ quan quản lý, tổ chức kiểm định và cơ sở đào tạo. Thiếu những điều kiện này sẽ có thể làm giảm khả năng đối chiếu kết quả kiểm định, theo dõi hiệu lực công nhận và giám sát cải tiến chất lượng.

3. Giải pháp hoàn thiện

Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của thể chế về kiểm định chất lượng giáo dục đại học.

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cần bắt đầu từ việc bảo đảm tính thống nhất và khả năng thực thi của các quy định hiện hành, thay vì ưu tiên ban hành thêm văn bản. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tổ chức rà soát việc áp dụng Luật Giáo dục đại học năm 2025, Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT và Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT, tập trung vào quan hệ giữa kiểm định cấp cơ sở và chương trình đào tạo, điều kiện hoạt động của tổ chức kiểm định, công nhận kết quả và trách nhiệm cải tiến chất lượng. Việc rà soát cần dựa trên hồ sơ thực thi, phản ánh của các cơ sở giáo dục đại học công lập và tổ chức kiểm định, qua đó phân biệt vướng mắc do quy định chưa rõ với khó khăn do năng lực áp dụng. Chỉ kiến nghị sửa đổi khi xác định được bất cập thuộc thẩm quyền của cơ quan ban hành; những vấn đề nghiệp vụ cần được giải quyết bằng hướng dẫn thống nhất.

Đồng thời, cần thiết lập cơ chế theo dõi tác động của các quy định mới trong giai đoạn chuyển tiếp, xác định rõ đầu mối tiếp nhận vướng mắc, trách nhiệm giải đáp và cách thức công bố hướng dẫn. Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể tổng hợp định kỳ những trường hợp áp dụng chưa thống nhất để hoàn thiện quy trình, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động kiểm định hợp pháp. Việc đánh giá cần dựa trên mức độ thống nhất trong áp dụng, thời gian xử lý vướng mắc và chi phí tuân thủ của cơ sở đào tạo. Cách tiếp cận này sẽ phù hợp với định hướng phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng đến năm 2030, đồng thời hạn chế được nguy cơ thay đổi chính sách khi chưa đủ bằng chứng thực tiễn. 

Hai là, hoàn thiện quy định về phân định thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục đại học.

Hiệu quả thể chế phụ thuộc vào việc xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức kiểm định và cơ sở giáo dục đại học công lập. Do đó, trên cơ sở pháp luật hiện hành, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tiếp tục chuẩn hóa cơ chế phối hợp trong hướng dẫn, giám sát, tiếp nhận thông tin và xử lý vấn đề phát sinh. Tổ chức kiểm định chịu trách nhiệm về chất lượng đánh giá chuyên môn, tính khách quan của kết luận và việc giải trình theo quy định; trong khi trường đại học công lập chịu trách nhiệm cung cấp minh chứng trung thực, thực hiện tự đánh giá, công khai thông tin và tổ chức cải tiến. Sự phân định này phải bảo đảm cơ quan quản lý thực hiện đúng chức năng giám sát mà không can thiệp trái thẩm quyền vào kết luận chuyên môn của tổ chức kiểm định.

Về tổ chức thực hiện, cần phân công rõ đơn vị đầu mối ở từng chủ thể và thiết lập quy trình trao đổi thông tin thống nhất đối với những vấn đề liên quan đến tình trạng công nhận, phản ánh về hoạt động đánh giá và thực hiện khuyến nghị sau kiểm định. Cơ sở giáo dục đại học công lập cần gắn trách nhiệm bảo đảm chất lượng với trách nhiệm của người đứng đầu và các đơn vị chuyên môn, thay vì tập trung toàn bộ nhiệm vụ tại bộ phận kiểm định. Cơ chế phối hợp phải tận dụng hệ thống báo cáo hiện có, tránh hình thành thêm tầng nấc hành chính. Kết quả thực hiện cần được đánh giá thông qua tính kịp thời của phản hồi, mức độ hoàn thành trách nhiệm và khả năng xử lý những vấn đề phát sinh giữa các chủ thể.

Ba là, hoàn thiện cơ chế bảo đảm tính độc lập, khách quan, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học.

Tính độc lập của tổ chức kiểm định chỉ phát huy giá trị khi đi đôi với cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Vì vậy, cần ưu tiên nâng cao hiệu quả thực hiện những quy định hiện hành về giám sát, đánh giá tổ chức kiểm định, đặc biệt trong lựa chọn kiểm định viên, tổ chức đoàn đánh giá, bảo đảm tính khách quan và tiếp nhận phản ánh. Các tổ chức kiểm định cần chuẩn hóa quy trình xác định, kê khai và xử lý tình huống có nguy cơ xung đột lợi ích theo pháp luật, đồng thời lưu giữ hồ sơ để phục vụ giám sát.

Cùng với đó, cần tăng trách nhiệm công khai và giải trình về tiêu chí, quy trình, phương pháp đánh giá, kết quả thuộc diện công bố và việc giải quyết kiến nghị. Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện giám sát thông qua tiêu chuẩn và thủ tục pháp luật quy định; tổ chức kiểm định chịu trách nhiệm giải thích căn cứ chuyên môn của kết luận. Kết quả đánh giá các trung tâm kiểm định trong năm 2025 – 2026 cho thấy, cơ chế giám sát đã được vận hành. Do đó, bước tiếp theo cần chú trọng theo dõi việc thực hiện kiến nghị sau đánh giá và công khai thông tin trong phạm vi được phép. Hiệu quả giải pháp này nên được đo bằng mức độ thực hiện yêu cầu khắc phục và chất lượng giải quyết phản ánh, thay vì chỉ thống kê số cuộc đánh giá đơn thuần.

Bốn là, đổi mới cơ chế giám sát, đánh giá và sử dụng kết quả kiểm định gắn với tự chủ đại học và cải tiến chất lượng thực chất.

Đổi mới cơ chế giám sát cần hướng đến đánh giá chất lượng thực thi và trách nhiệm cải tiến, thay vì chỉ kiểm tra việc hoàn thành quy trình hoặc có chứng nhận kiểm định. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tiếp tục duy trì triển khai giám sát tổ chức kiểm định theo quy định hiện hành, đồng thời chú trọng đánh giá việc thực hiện kết luận, khuyến nghị và những thay đổi sau giám sát. Đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập, kết quả kiểm định cần được chuyển thành kế hoạch cải tiến gắn với mục tiêu, nhiệm vụ, đơn vị chịu trách nhiệm, nguồn lực và thời hạn hoàn thành.

Để đảm bảo hiệu quả thực chất, cần phát huy trách nhiệm của hội đồng trường, người đứng đầu và các đơn vị chuyên môn trong theo dõi cải tiến chất lượng. Cơ sở đào tạo cần công khai kết quả thực hiện khuyến nghị theo quy định và sử dụng thông tin kiểm định để điều chỉnh chương trình, hoạt động giảng dạy và quản trị nội bộ. Cơ quan quản lý nhà nước có thể khai thác các báo cáo đã được công bố để giám sát theo mức độ rủi ro, tránh gia tăng yêu cầu báo cáo trùng lặp. Việc sử dụng kết quả kiểm định trong quyết định quản lý phải tuân thủ căn cứ pháp luật tương ứng, không tự động đồng nhất chứng nhận đạt tiêu chuẩn với hiệu quả đào tạo. Các chỉ báo đánh giá nên chú trọng tỷ lệ khuyến nghị được thực hiện có minh chứng, chất lượng công khai và mức độ cải thiện có thể xác định, qua đó gắn tự chủ với trách nhiệm giải trình.

Năm là, nâng cao năng lực thực thi thể chế, phát triển đội ngũ kiểm định viên và đẩy mạnh chuyển đổi số, quản trị dữ liệu kiểm định chất lượng giáo dục đại học.

Thể chế chỉ phát huy hiệu quả khi được bảo đảm bằng năng lực thực thi của đội ngũ nhân sự có chuyên môn và đủ phẩm chất, năng lực. Do đó, trước yêu cầu phát triển đội ngũ kiểm định viên và khắc phục tình trạng cán bộ bảo đảm chất lượng tại một số cơ sở chưa được đào tạo bài bản, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần rà soát nhu cầu nhân lực theo lĩnh vực đào tạo, tăng cường bồi dưỡng về tiêu chuẩn, phương pháp đánh giá, kỹ năng phân tích minh chứng và đạo đức nghề nghiệp. Các tổ chức kiểm định chịu trách nhiệm phát triển đội ngũ chuyên gia, đặc biệt là năng lực trưởng đoàn và chuyên gia theo nhóm ngành. Còn các trường đại học công lập cần bảo đảm nhân sự chuyên trách và tổ chức bồi dưỡng thường xuyên. Hiệu quả phải được đánh giá bằng năng lực thực hiện nhiệm vụ và chất lượng đánh giá, không chỉ bằng số chứng nhận bồi dưỡng.

Ngoài ra, đối với chuyển đổi số, cần ưu tiên hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu kiểm định trên cơ sở hạ tầng hiện có. Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể chủ trì chuẩn hóa các trường thông tin về cơ sở đào tạo, chương trình, tổ chức kiểm định, kiểm định viên, kết quả công nhận, thời hạn hiệu lực và tình trạng thực hiện khuyến nghị. Đồng thời, xác định trách nhiệm cập nhật, xác thực, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu. Việc kết nối với các hệ thống dữ liệu giáo dục đại học cần được triển khai theo lộ trình, có đánh giá khả năng tương thích và nguồn lực thực hiện.

4. Kết luận

Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục đại học công lập là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình đổi mới tư duy, cách thức quản lý giáo dục đại học ở Việt Nam, đặc biệt là khi quyền tự chủ ngày càng gắn chặt với trách nhiệm giải trình và yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo. Mặc dù khuôn khổ pháp lý và hệ thống kiểm định đã và đang từng bước được hình thành một cách bài bản, song vẫn còn những hạn chế nhất định cần hoàn thiện, trong đó có việc bổ sung các quy định về phân định thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục đại học cũng như trong tổ chức thực thi, giám sát và sử dụng kết quả kiểm định.

Vì vậy, việc hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục đại học công lập trong thời gian tới cần được tiếp cận một cách toàn diện, đồng bộ, không chỉ ở việc hoàn thiện quy định pháp luật mà còn ở phân định thẩm quyền, trách nhiệm, bảo đảm tính độc lập, khách quan của tổ chức kiểm định, nâng cao hiệu quả giám sát và năng lực thực thi. Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế quản lý minh bạch, có trách nhiệm giải trình, gắn kết quả kiểm định với cải tiến chất lượng liên tục. Đây mới là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học công lập nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo:
Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo (07/10/2025). Sơ kết Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học. https://vqa.moet.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/so-ket-chuong-trinh-phat-trien-he-thong-bao-dam-va-kiem-dinh-chat-luong-giao-duc-dai-hoc-227.html.
Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo (28/11/2025). Sát hạch kiểm định viên giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm năm 2025. https://vqa.moet.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/sat-hach-kiem-dinh-vien-giao-duc-dai-hoc-va-cao-dang-su-pham-nam-2025-237.html.
Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo (30/9/2026). Danh sách các cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục (cập nhật đến ngày 30/9/2026). https://vqa.moet.gov.vn/vi/thong-bao-quan-ly-bao-dam/thong-bao/danh-sach-cac-co-so-giao-duc-chuong-trinh-dao-tao-giao-duc-dai-hoc-va-cao-dang-su-pham-duoc-cong-nhan-dat-tieu-chuan-chat-luong-giao-duc-cap-nhat-den-ngay-30-9-2026-95.html.
Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026b). Thông báo số 112/TB-QLCL ngày 22/01/2026 về kết quả đánh giá các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục trong nước năm 2025.
Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026c). Thông báo số 1412/TB-QLCL ngày 14/7/2026 về kết quả đánh giá các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục trong nước năm 2026.
Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo (06/02/2025). Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng: Sẽ có nhiều bứt phá về công tác kiểm định trong năm 2025. https://vqa.moet.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/cuc-truong-cuc-quan-ly-chat-luong-se-co-nhieu-but-pha-ve-cong-tac-kiem-dinh-trong-nam-2025-174.html.
Trung tâm Truyền thông và Sự kiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo (20/02/2025). Ban hành quy định mới về kiểm định chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. https://vqa.moet.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/ban-hanh-quy-dinh-moi-ve-kiem-dinh-chuong-trinh-dao-tao-trinh-do-dai-hoc-175.html.
Trung tâm Đảm bảo chất lượng giáo dục, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (15/9/2026). Kế hoạch và kết quả thực hiện cải tiến chất lượng sau đánh giá ngoài. https://ueb.edu.vn/Gioi-Thieu/UEB/ke-hoach-va-ket-qua-thuc-hien-cai-tien-chat-luong-sau-danh-gia-ngoai/1841/2201/0/45398.