Vai trò của nhà nước trong quản trị tài chính phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam

The role of the state in the financial governance of cultural industry development in Vietnam

ThS. Phùng Thị Lan Hương
Công ty TNHH KCT Company
Email: phungthilanhuong.ptlh@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Công nghiệp văn hóa cần vốn ở nhiều khâu, trong khi tài sản của ngành chủ yếu là quyền tác giả, thương hiệu và nội dung sáng tạo, vốn khó đáp ứng yêu cầu bảo đảm của bên cho vay. Một số hoạt động như bảo tồn hay giáo dục nghệ thuật mang lại lợi ích cộng đồng lớn nhưng khó tự trang trải. Dựa trên phân tích tài liệu khoa học, văn bản chính sách và thông tin chính thức công bố đến ngày 26/9/2026, bài viết làm rõ năm vai trò của Nhà nước trong quản trị tài chính phát triển công nghiệp văn hóa, như: xây dựng quy định; kết nối, huy động vốn; phân bổ kinh phí; điều phối giữa các cơ quan; kiểm tra, công khai và giải trình. Khung chính sách của Việt Nam đã liên tục được bổ sung trong giai đoạn 2024-2026, song dữ liệu về khả năng tiếp cận vốn, vốn tăng thêm và kết quả sử dụng kinh phí vẫn còn thiếu. Bài viết đề xuất lựa chọn hình thức hỗ trợ theo mục đích và đặc điểm của dự án, gắn kinh phí với kết quả, kiểm soát rủi ro và công khai nguồn lực. Việc đánh giá cần xét đồng thời phần vốn tăng thêm, giá trị văn hóa được tạo ra và cơ hội hưởng thụ văn hóa của người dân.

Từ khóa: Nhà nước; quản trị tài chính; công nghiệp văn hóa; nguồn lực tài chính; lợi ích cộng đồng.

Abstract: Cultural industries require finance at several stages, yet their assets consist mainly of copyrights, brands and creative content, which rarely meet lenders’ collateral requirements. Some activities, such as heritage preservation and arts education, generate substantial public value but cannot cover their own costs. Drawing on academic literature, policy documents and official information published up to 26 September 2026, this article identifies five roles of the State in the financial governance of cultural industry development: setting rules; connecting and mobilising finance; allocating funds; coordinating across agencies; and monitoring, disclosure and accountability. Vietnam’s policy framework was expanded repeatedly between 2024 and 2026, but data on access to finance, additional capital and the results of public spending remain limited. The article recommends matching support instruments to the purpose and characteristics of each project, linking funding to results, controlling risk and disclosing resource use. Evaluation should consider additional capital, cultural value and citizens’ opportunities to enjoy culture together.

Keywords: State; financial governance; cultural industries; financial resources; public benefit.

1. Đặt vấn đề

Một sản phẩm văn hóa cần vốn ở nhiều khâu, như: hình thành ý tưởng, làm thử, sản xuất, phát hành và đưa đến công chúng. Khả năng thu hồi vốn giữa các loại sản phẩm lại chênh lệch lớn. Các hoạt động bảo tồn hay giáo dục nghệ thuật thường khó tự trang trải, dù giá trị chúng mang lại cho cộng đồng là rõ ràng. Phát triển công nghiệp văn hóa vì thế đòi hỏi kết hợp nguồn thu thị trường với các giá trị mà cộng đồng được hưởng. Trong bối cảnh đó, Nhà nước có trách nhiệm huy động vốn và bảo đảm vốn được sử dụng đúng mục đích. Các công cụ chủ yếu là quy định pháp luật, điều kiện vay vốn, việc lựa chọn đối tượng hỗ trợ và cơ chế kiểm tra. Số kinh phí đã cấp chỉ phản ánh đầu vào. Kết quả của vai trò nhà nước cần được nhìn qua những cơ hội sáng tạo được mở ra và lợi ích mà người dân thực sự nhận được.

Bài viết tìm câu trả lời cho hai câu hỏi. Thứ nhất, Nhà nước cần đảm nhận những vai trò nào trong quản trị tài chính phát triển công nghiệp văn hóa? Thứ hai, Việt Nam đã thực hiện các vai trò đó đến đâu và cần thêm những thông tin gì để đánh giá được kết quả? Phương pháp sử dụng là phân tích, đối chiếu văn bản chính sách, công trình khoa học và thông tin chính thức công bố đến ngày 26/9/2026, có minh họa bằng trường hợp Hà Nội. Trên cơ sở phân tích, bài viết đề xuất một số tiêu chí đánh giá và giải pháp.

2. Cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước trong quản trị tài chính phát triển công nghiệp văn hóa

2.1. Công nghiệp văn hóa và những yêu cầu riêng về vốn

Khoản 4 và khoản 5 Điều 4 Công ước UNESCO năm 2005 về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa xác định công nghiệp văn hóa là các ngành sản xuất và phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ văn hóa; những hàng hóa, dịch vụ này mang ý nghĩa văn hóa bên cạnh giá trị thương mại. Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu kép cho chính sách. Hoạt động kinh doanh phải đi cùng với việc truyền tải tri thức và bản sắc, gìn giữ sự đa dạng văn hóa.

Nhu cầu vốn của ngành trải qua các khâu nghiên cứu, làm thử, sản xuất và phân phối. Khâu cuối hay bị xem nhẹ. Một tác phẩm có chất lượng vẫn có thể ít người biết đến nếu thiếu kinh phí quảng bá, phát hành hoặc tổ chức biểu diễn vì vậy, chính sách hỗ trợ cần tính đến khả năng tiếp cận công chúng ngoài chi phí sáng tác và sản xuất.

Tài sản sáng tạo chủ yếu là quyền tác giả, thương hiệu, nội dung và các tài sản vô hình khác. OECD (2022) nhận định nhiều doanh nghiệp văn hóa, sáng tạo thiếu tài sản hữu hình để bảo đảm khoản vay. Nhà nước có thể hỗ trợ làm rõ chủ thể quyền, nguồn thu dự kiến và khả năng chuyển giao quyền, giúp bên cho vay có căn cứ thẩm định.

Một ý tưởng đang thử nghiệm, một bộ phim mới, một chương trình biểu diễn đã bán vé trước và một dự án thiết kế đã có hợp đồng đặt hàng không thể được nhìn nhận như nhau. Các hình thức tài trợ, cho vay, góp vốn hay đặt hàng cần được lựa chọn theo trở ngại cụ thể và khả năng thu hồi vốn của từng dự án; áp dụng đồng loạt một công cụ sẽ làm sai lệch việc phân bổ.

2.2. Cách hiểu về quản trị tài chính phát triển công nghiệp văn hóa

Quản trị tài chính phát triển công nghiệp văn hóa là quá trình Nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện các quy định về huy động, phân bổ, sử dụng và giám sát nguồn vốn cho hoạt động công nghiệp văn hóa nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và xác định rõ trách nhiệm giữa các bên. Các bên ở đây gồm cơ quan nhà nước, bên cấp vốn, chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp và người hưởng lợi.

Vai trò của Nhà nước được thực hiện theo hai cách. Cách trực tiếp là đầu tư, đặt hàng hoặc hỗ trợ bằng ngân sách. Cách gián tiếp là tạo điều kiện để các nguồn vốn khác tham gia thông qua bảo hộ tài sản trí tuệ, cung cấp thông tin và ban hành chính sách khuyến khích. Dù theo cách nào, sự can thiệp cũng phải có cơ sở pháp lý, và Nhà nước không quyết định thay ngân hàng hay doanh nghiệp trong những giao dịch thuộc quyền tự chủ của họ.

Cần phân biệt quản trị tài chính với quản lý tài chính. Quản trị xác lập quy tắc, cách lựa chọn và trách nhiệm của các bên; quản lý tài chính tổ chức việc thu, chi theo các quy tắc đó. Kiểm tra hóa đơn, chứng từ thuộc phạm vi quản lý. Những câu hỏi như hỗ trợ cho ai, ai có thẩm quyền quyết định và kết quả đạt được ra sao thuộc phạm vi quản trị. Một khoản chi có chứng từ hợp lệ vẫn có thể kém hiệu quả nếu việc lựa chọn thiếu căn cứ hoặc lợi ích mang lại thấp.

Tương tự, giải ngân hết kế hoạch chưa có nghĩa là vốn được sử dụng hiệu quả. Một thư viện số hay một không gian nghệ thuật công cộng có thể cần nhiều năm mới phát huy tác dụng. Đánh giá vì vậy cần xét trước hết tính hợp pháp và cơ sở của quyết định chi, sau đó mới là kết quả thực tế. Với các khoản đầu tư có rủi ro, mức rủi ro chấp nhận được phải được xác định từ trước và do cấp có thẩm quyền quyết định.

2.3. Cơ sở sự tham gia của Nhà nước

Thứ nhất, lợi ích xã hội của một số hoạt động văn hóa có thể lớn hơn lợi ích mà nhà đầu tư thu về. Nghệ thuật truyền thống giúp duy trì nghề và truyền tải lịch sử, nhưng thường khó tự trang trải chi phí. Khi hỗ trợ các hoạt động này, Nhà nước cần chỉ rõ giá trị bảo tồn, nhóm người hưởng lợi và hạn chế của thị trường trong từng trường hợp.

Thứ hai, thiếu hụt thông tin cản trở dòng vốn. Người sáng tạo có thể yếu về lập dự toán, còn ngân hàng thiếu hiểu biết về đặc thù của sản phẩm văn hóa. WIPO (2023) nhấn mạnh vai trò của định giá và thông tin đối với tài chính sở hữu trí tuệ. Trước khi mở rộng cấp vốn, Nhà nước nên hỗ trợ việc chuẩn bị hồ sơ về quyền, hợp đồng khai thác và kế hoạch thu hồi vốn.

Thứ ba, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cơ hội sáng tạo và hưởng thụ văn hóa cho người mới vào nghề, các nhóm sáng tạo nhỏ và những địa bàn có sức mua thấp. Điểm d khoản 2 Điều 6 Công ước UNESCO năm 2005 ghi nhận hỗ trợ tài chính công là một trong các biện pháp chính sách mà quốc gia thành viên có thể áp dụng. Đối tượng, mục đích và giới hạn hỗ trợ cần được xác định rõ. Công bằng trong trường hợp này được hiểu là căn cứ vào nhu cầu và điều kiện của đối tượng cũng như lợi ích mà khoản hỗ trợ tạo ra, tránh cách chia đều.

Thứ tư, nhiều dự án đồng thời liên quan đến văn hóa, tài chính, đất đai và bản quyền nên đòi hỏi sự phối hợp liên ngành. Ansell và Gash (2008) nhấn mạnh các yếu tố thiết kế thể chế, nguồn lực, động cơ tham gia của các bên và sự tin cậy trong quản trị cộng tác. Áp dụng vào quản trị tài chính, cơ chế phối hợp phải xác định được ai có quyền quyết định, cơ quan nào cung cấp thông tin và vướng mắc được chuyển đến đâu để giải quyết. Tăng số cuộc họp liên ngành không trả lời được những câu hỏi đó.

2.4. Các vai trò chủ yếu và tiêu chí đánh giá

Nhà nước trong quản trị tài chính phát triển công nghiệp văn hóa có 5 vai trò chủ yếu: (1) Xây dựng quy định về mục tiêu, điều kiện hỗ trợ và quyền của các bên. (2) Kết nối và huy động nguồn vốn phù hợp với từng loại hoạt động. (3) Phân bổ kinh phí theo thứ tự ưu tiên có căn cứ. (4) Điều phối giữa các cơ quan để tránh chồng chéo hoặc bỏ sót. (4) Kiểm tra, công khai và giải trình về việc sử dụng nguồn lực.

Để đánh giá việc thực hiện các vai trò này, cần các tiêu chí, như: điều kiện hỗ trợ có dễ hiểu hay không; khả năng tiếp cận vốn của các nhóm đối tượng; sản phẩm được tạo ra; lợi ích mà người dân nhận được; mức độ kịp thời trong giải quyết vướng mắc; trách nhiệm khi không đạt kết quả. Đây là các tiêu chí đề xuất cần được kiểm nghiệm bằng dữ liệu của từng chương trình cụ thể.

3. Thực trạng thực hiện vai trò của Nhà nước tại Việt Nam

3.1. Chính sách từng bước được bổ sung và cụ thể hóa

Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đặt nền tảng chiến lược cho lĩnh vực này. Gần mười năm sau, Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Các định hướng dài hạn tạo căn cứ để xác định ưu tiên. Tính khả thi của chiến lược lại phụ thuộc vào chương trình triển khai cụ thể, nguồn lực bố trí và việc phân định trách nhiệm.

Nghị quyết số 162/2024/QH15 ngày 27/11/2024 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, với tổng vốn giai đoạn 2025 – 2030 tối thiểu 122.250 tỷ đồng. Con số này cần được đọc đúng phạm vi. Đây là vốn dự kiến cho toàn lĩnh vực văn hóa. Nó chưa cho biết lượng vốn đã giải ngân, phần dành riêng cho công nghiệp văn hóa hay phần vốn thực sự đến được doanh nghiệp.

Năm 2026 có thêm hai văn bản quan trọng là Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm nguồn lực cho phát triển văn hóa. Tiếp đó, Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội quy định chi cho văn hóa tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Quy định này yêu cầu về phân bổ và chưa chứng minh mức thực chi. Bên cạnh đó, chi cho văn hóa bao gồm nhiều nhiệm vụ nằm ngoài công nghiệp văn hóa.

Nghị quyết số 28/2026/QH16 còn đưa ra hai cơ chế đáng chú ý. Điều 8 quy định việc đặt hàng và khoán chi đối với hoạt động sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước; Điều 11 cho phép thí điểm Quỹ văn hóa, nghệ thuật. Nghị định số 282/2026/NĐ-CP ngày 14/7/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết. Do các cơ chế này mới có hiệu lực từ giữa năm 2026, cách thức vận hành và giám sát cần tiếp tục được nghiên cứu.

3.2. Kết quả phát triển và những lưu ý khi đánh giá

Tại Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam tháng 12/2023, công nghiệp văn hóa được công bố đóng góp 3,92% GDP năm 2021 và 4,04% GDP năm 2022. Các số liệu này cho thấy vị trí kinh tế của ngành. Tuy nhiên, chưa thể xác định phần tăng trưởng do hỗ trợ của Nhà nước tạo ra, vì kết quả còn chịu ảnh hưởng của sức mua, vốn tư nhân, công nghệ và sự phục hồi của thị trường.

Khi đánh giá, cần tách bạch mục tiêu, kinh phí được giao và kết quả đạt được. Tỷ trọng đóng góp vào GDP không phản ánh mức chi ngân sách cũng như tổng vốn của một chương trình chưa cho biết vốn được phân bổ cho ai. Riêng về mức tăng doanh thu, nếu thiếu dữ liệu trước khi hỗ trợ và nhóm so sánh thì khó được coi là bằng chứng về tác động của chính sách. UNCTAD (2024) lưu ý cần cập nhật cách phân loại và đo lường khi công nghệ làm thay đổi sản phẩm sáng tạo. Mọi phép so sánh số liệu giữa các năm hoặc giữa các quốc gia đòi hỏi thống nhất phạm vi ngành, phương pháp tính và thời điểm.

3.3. Những vấn đề trong huy động và phân bổ nguồn lực

Hội nghị tháng 12/2023 đánh giá đầu tư cho công nghiệp văn hóa chưa tương xứng, còn dàn trải và việc huy động nguồn lực ngoài nhà nước chưa đạt yêu cầu. Bài viết sử dụng đánh giá này làm điểm xuất phát để theo dõi. Các hạn chế đó không mặc nhiên được coi là vẫn giữ nguyên sau những thay đổi pháp lý năm 2026; điều này cần được kiểm chứng bằng dữ liệu mới. Từ góc độ quản trị tài chính, có thể nhận diện bốn vấn đề.

Thứ nhất là khả năng tiếp cận vốn. Một dự án có giá trị vẫn có thể thiếu kế hoạch tài chính hoặc thiếu hồ sơ chứng minh quyền. Thủ tục phức tạp gây bất lợi cho các nhóm sáng tạo nhỏ và có thể vô tình ưu tiên những người giỏi làm hồ sơ. Để nhận diện mức độ của vấn đề, cần theo dõi số hồ sơ nộp, số hồ sơ bị loại cùng lý do loại và số dự án được hỗ trợ.

Thứ hai là tiêu chí xét duyệt. Mỗi giai đoạn của dự án cần tiêu chí riêng. Giai đoạn làm thử đòi hỏi xét tính sáng tạo, giai đoạn phát hành đòi hỏi xét thị trường, còn với công trình thì khả năng vận hành và duy trì là yếu tố quyết định. Cơ chế khoán chi tạo dư địa cho đổi mới, nhưng sản phẩm đầu ra phải được xác định rõ và có cách kiểm tra chất lượng. Một bộ tiêu chí chung cho mọi loại dự án sẽ không phân biệt được các tình huống này.

Thứ ba là vốn tăng thêm. Toàn bộ vốn doanh nghiệp bỏ ra chưa chắc là vốn được huy động thêm nhờ hỗ trợ của Nhà nước; một phần có thể đã nằm trong kế hoạch từ trước hoặc được chuyển từ dự án khác sang. Muốn xác định vốn tăng thêm, cơ quan quản lý cần lưu giữ kế hoạch ban đầu của dự án và ghi nhận những thay đổi sau khi hỗ trợ. Với tài liệu hiện có, bài viết chưa thể tính riêng phần vốn tăng thêm ở Việt Nam.

Thứ tư là cách đo lường kết quả. Đánh giá một dự án giữ nghề truyền thống không thể chỉ dựa vào tiền bán vé. Ở chiều ngược lại, dự án mở rộng kinh doanh phải chứng minh được thị trường và nguồn thu. Nếu chỉ xét doanh thu, giá trị bảo tồn dễ bị bỏ qua; nếu chỉ xét nội dung, chi phí và hiệu quả phục vụ lại không được quan tâm đúng mức.

Về hình thức hợp tác công tư, Hoàng Ngọc Hải (2026) đề xuất điều chỉnh mô hình này theo đặc điểm của công nghiệp văn hóa thay vì áp dụng nguyên mô hình dùng cho hạ tầng. Theo hướng đó, hợp đồng hợp tác cần làm rõ chi phí sáng tạo, quyền khai thác và cách chia sẻ lợi ích. Đề xuất này mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo, còn hiệu quả của mô hình trên diện rộng chưa được chứng minh.

3.4. Phối hợp thực hiện và thông tin phục vụ quản lý

Tháng 10/2025, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 5287/QĐ-UBND phê duyệt đề cương Đề án Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố; theo kế hoạch, bộ chỉ tiêu được thí điểm năm 2026 và áp dụng từ năm 2027. Đây là bước chuẩn bị nền tảng thông tin. Việc phê duyệt đề cương và tiến độ dự kiến chưa đồng nghĩa với việc bộ chỉ tiêu đã được triển khai đầy đủ.

Ngay cả khi hoàn thiện, thống kê ngành vẫn chưa trả lời được các câu hỏi của quản trị tài chính: ai nhận hỗ trợ, nhận bao nhiêu, thực hiện nhiệm vụ gì và đạt kết quả ra sao. Các chương trình hỗ trợ cần thu thập loại dữ liệu này, kết nối được với hệ thống thống kê chung nhưng vẫn bảo vệ bí mật kinh doanh. Hà Nội có thể cân nhắc tích hợp nhóm chỉ tiêu về hỗ trợ tài chính vào bộ chỉ tiêu đang xây dựng.

Một vấn đề khác là đầu mối xử lý hồ sơ. Hồ sơ của một dự án văn hóa thường liên quan đồng thời đến ngân sách, chuyên môn nghệ thuật, bản quyền và địa điểm. Khi thiếu đầu mối theo dõi, hồ sơ dễ bị chuyển vòng giữa các cơ quan và người nộp không biết liên hệ ở đâu. Hiệu quả phối hợp có thể được đánh giá qua thời gian xử lý, số lần phải bổ sung hồ sơ và cơ quan cuối cùng giải quyết vướng mắc.

4. Giải pháp phát huy vai trò của Nhà nước trong quản trị tài chính phát triển công nghiệp văn hóa

Thứ nhất, quy định rõ trách nhiệm và cách thức thực hiện chính sách. Mỗi hình thức hỗ trợ cần có kế hoạch triển khai nêu rõ cơ quan chủ trì, đối tượng, nguồn lực, thời hạn và sản phẩm đầu ra. Khoản 3 Điều 12 Nghị quyết số 28/2026/QH16 xác định Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là đầu mối quản lý công nghiệp văn hóa. Trên cơ sở đó, cơ quan văn hóa và cơ quan tài chính cần thống nhất hướng dẫn. Địa phương cụ thể hóa trong phạm vi thẩm quyền và tránh tạo thêm tầng xét duyệt. Đầu mối ở địa phương có nhiệm vụ theo dõi, tiếp nhận vướng mắc và không thay thế thẩm quyền của các cơ quan chuyên môn. Quy trình cần ấn định thời hạn phản hồi cũng như cách xử lý khi các cơ quan có ý kiến khác nhau. Hoạt động của đầu mối nên được đánh giá qua số vấn đề được giải quyết và mức giảm thời gian xử lý, kèm theo nhận xét về chất lượng hướng dẫn. Chỉ nên thành lập tổ chức mới khi các chức năng hiện có không đáp ứng được yêu cầu.

Thứ hai, lựa chọn hình thức hỗ trợ phù hợp với mục đích và đặc điểm dự án. Hình thức cấp vốn nên được chọn theo đối tượng công chúng và khả năng tạo nguồn thu của dự án. Tài trợ hoặc đặt hàng phù hợp với dự án có lợi ích xã hội lớn nhưng khó tự trang trải, trong khi dự án có nguồn thu rõ ràng có thể sử dụng vốn vay. Với ý tưởng có rủi ro cao, góp vốn hoặc các hình thức hỗ trợ chấp nhận rủi ro trong khuôn khổ pháp luật là lựa chọn thích hợp hơn. Công cụ mới nên được thử nghiệm ở quy mô nhỏ trước khi mở rộng. Hồ sơ đề nghị hỗ trợ cần nêu rõ nhiệm vụ, lý do cần hỗ trợ, trở ngại mà dự án gặp phải và thời hạn hỗ trợ. Yêu cầu này giúp tránh cấp vốn cho những hoạt động có thể tự trang trải. Các hoạt động bảo tồn và phục vụ cộng đồng thì có thể cần được hỗ trợ lâu dài. Việc cấp vốn và đánh giá kết quả phải căn cứ vào mục đích của từng loại hoạt động. Tiêu chí xét chọn cần được công bố từ trước và việc đánh giá do hội đồng chuyên môn thực hiện. Thành viên hội đồng phải khai báo xung đột lợi ích, đồng thời rút khỏi việc xét duyệt khi lợi ích cá nhân có thể ảnh hưởng đến tính khách quan. Người nộp hồ sơ cần được thông báo lý do của quyết định. Thủ tục nên phân tầng theo quy mô: khoản hỗ trợ nhỏ áp dụng thủ tục gọn, dự án lớn được thẩm định kỹ, qua đó bảo vệ tiền công mà vẫn giữ được cơ hội sáng tạo cho các chủ thể nhỏ.

Thứ ba, sử dụng vốn nhà nước để khuyến khích các nguồn vốn khác. Kinh phí nhà nước nên ưu tiên cho các điều kiện dùng chung mà từng doanh nghiệp khó tự đầu tư, như: thông tin thị trường, tư vấn bản quyền và không gian thử nghiệm dùng chung. World Bank và UNESCO (2021) nhấn mạnh việc gắn sáng tạo với phát triển đô thị. Một không gian làm việc hay biểu diễn chỉ hoạt động lâu dài và dễ tiếp cận khi có đơn vị vận hành, quy tắc sử dụng và kinh phí bảo dưỡng.

Tài liệu chính sách của UNESCO phục vụ Hội nghị quốc tế lần thứ tư về tài chính cho phát triển năm 2025 nhấn mạnh vai trò của nguồn lực công trong việc khuyến khích đầu tư tư nhân vào văn hóa. Liên minh châu Âu cung cấp một ví dụ cụ thể. Ngày 21/5/2024, Ủy ban châu Âu thông báo ba thỏa thuận trong khuôn khổ InvestEU, dự kiến huy động khoảng 141 triệu euro vốn mới cho lĩnh vực văn hóa, sáng tạo; các thỏa thuận được hỗ trợ bằng bảo lãnh thông qua tổ chức tài chính. Con số này là quy mô dự kiến huy động, chưa phải vốn đã giải ngân. Việt Nam có thể tham khảo cách phối hợp giữa chuyên môn cho vay của tổ chức tài chính với việc quản lý vốn công, ở quy mô phù hợp. Vốn nhà nước có thể được dùng để tháo gỡ các trở ngại chung và hoàn thiện thông tin về quyền khai thác, thị trường phục vụ thẩm định. Hiệu quả của cách làm này vẫn cần được kiểm chứng bằng thực tiễn.

Quỹ văn hóa, nghệ thuật thí điểm cần có năng lực lựa chọn và theo dõi dự án, kiểm soát mức độ tập trung vốn và mức tổn thất được chấp nhận. Quản trị theo danh mục không thay thế trách nhiệm đối với từng khoản đầu tư. Người có thẩm quyền quyết định phải tránh để lợi ích cá nhân ảnh hưởng đến việc xét duyệt.

Trong báo cáo, cần tách bạch vốn cam kết với vốn thực góp, tiền với tài sản quy đổi, vốn mới với vốn đã dự kiến từ trước. Dữ liệu ban đầu cần được lưu giữ để có thể ước tính điều gì sẽ xảy ra nếu không có hỗ trợ, bởi một phép so sánh trước và sau đơn thuần chưa chứng minh được quan hệ nhân quả. Cũng không nên cố định một tỷ lệ vốn tư nhân trên vốn công cho mọi dự án.

Thứ tư, cung cấp thông tin và hỗ trợ người sáng tạo tiếp cận vốn. Nhà nước có thể hỗ trợ hình thành dữ liệu phục vụ thẩm định, gồm quyền khai thác, hợp đồng, doanh thu và nghĩa vụ tài chính của dự án. Cơ quan sở hữu trí tuệ, tổ chức nghề nghiệp và đơn vị tư vấn có thể cùng hướng dẫn người sáng tạo nhận diện quyền, nguy cơ tranh chấp và khả năng chuyển giao. Những mô tả cụ thể như vậy giúp bên cho vay thẩm định tốt hơn các mô tả tài sản chung chung.

Giá trị của bản quyền hay thương hiệu phụ thuộc vào mục đích định giá và khả năng tạo thu nhập. Giá trị dùng để góp vốn có thể khác với giá trị khi phải bán tài sản để trả nợ, nên không thể buộc ngân hàng chấp nhận mọi loại quyền làm tài sản bảo đảm. WIPO (2024) nhấn mạnh việc chuẩn bị thông tin và trao đổi với bên cho vay trong quá trình vay vốn bằng tài sản trí tuệ. Nhà nước hỗ trợ khâu chuẩn bị; ngân hàng tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay. Hoạt động tư vấn nên bám sát các nội dung thực tế như lập dự toán, hợp đồng, dòng tiền và phân phối. Kết quả tư vấn cần được đo qua chất lượng hồ sơ và năng lực quản lý thu chi của người được tư vấn, thay cho việc đếm lượt người tham gia. Với các nhóm sáng tạo nhỏ, biểu mẫu dễ sử dụng và tư vấn gắn với dự án cụ thể hữu ích hơn các khóa đào tạo ít thực hành.

Thứ năm, gắn kinh phí với kết quả và quyền hưởng thụ văn hóa. Hợp đồng đặt hàng phải xác định rõ sản phẩm, đối tượng công chúng, thời hạn và quyền sử dụng sản phẩm. Chuyên gia cần thẩm định cả giá trị nghệ thuật lẫn kế hoạch phổ biến có bằng chứng. Dự toán phải bao gồm chi phí sáng tạo, phân phối, bảo đảm tiếp cận và lưu trữ khi cần thiết. Một sản phẩm hoàn thành đúng hạn nhưng không đến được với công chúng thì chưa thể coi là đạt kết quả.

Về tài chính, cần xem xét chi phí, vốn tăng thêm và khả năng duy trì hoạt động; đánh giá văn hóa thì hướng vào chất lượng sản phẩm, nhóm người hưởng lợi và mức độ tham gia của cộng đồng. Chỉ tiêu cụ thể thay đổi theo loại dự án. Với chương trình biểu diễn, đó có thể là số buổi diễn; với dự án truyền nghề, đó có thể là số người học tiếp tục theo nghề. Lượt xem chỉ là một chỉ báo và không thay được các khía cạnh đánh giá khác.

Ý kiến phản hồi của công chúng và cộng đồng cần được thu thập. Khai thác di sản phải gắn với bảo tồn và chia sẻ lợi ích. Điều kiện tiếp cận cho người khuyết tật và người dân ở địa bàn khó khăn nên được thiết kế ngay từ khâu thiết kế dự án. Khi Nhà nước hỗ trợ chi phí phục vụ theo một chương trình hợp pháp, cơ quan quản lý cần theo dõi ai là người thực sự được hưởng lợi.

Trên môi trường số, UNESCO (2022) lưu ý những bất cập về thù lao cho người sáng tạo và khả năng tiếp cận công chúng trên các nền tảng. Hỗ trợ của Nhà nước cần giúp người sáng tạo hiểu hợp đồng, quyền khai thác và cách đối chiếu thu nhập. Khi lượt xem cao mà thù lao không tương xứng, hoạt động sáng tạo khó duy trì lâu dài.

Thứ sáu, kiểm soát rủi ro và theo dõi kết quả sử dụng vốn. Cần phân biệt thất bại kinh doanh với vi phạm. Một dự án tuân thủ đầy đủ quy định vẫn có thể bán chậm. Doanh thu cao, ở chiều ngược lại, không loại trừ khả năng có sai phạm trong xét duyệt hay sử dụng tiền. Với các khoản đầu tư có rủi ro, mức rủi ro chấp nhận được và trách nhiệm của người quyết định phải được xác định rõ ngay khi phê duyệt.

Hồ sơ của mỗi khoản hỗ trợ cần được lưu vết qua các bước nộp hồ sơ, xét duyệt, cấp vốn, thực hiện và sử dụng kết quả, với thông tin về đối tượng, nguồn vốn, số tiền, nhiệm vụ, tiến độ và kết quả. Báo cáo phải tách số tiền đã duyệt, số đã chi và các nghĩa vụ tài chính trong tương lai. Thông tin về việc sử dụng tiền công cần được công khai, song phải bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật kinh doanh, đồng thời tránh yêu cầu báo cáo trùng lặp.

Trước khi mở rộng, các chương trình nên được rà soát, thống nhất cách thu thập dữ liệu và thử nghiệm phương thức xét chọn, đánh giá mới. Hà Nội có thể gắn việc theo dõi này với bộ chỉ tiêu thống kê ngành đang xây dựng. Báo cáo định kỳ cần nêu kết quả, hạn chế và nguyên nhân để làm căn cứ điều chỉnh việc phân bổ vốn và nhân rộng những cách làm có hiệu quả.

5. Kết luận

Bài viết xác định năm vai trò của Nhà nước trong quản trị tài chính phát triển công nghiệp văn hóa: xây dựng quy định, huy động vốn, phân bổ kinh phí, điều phối liên ngành, kiểm tra và giải trình. Điểm đóng góp của bài viết là tách quản trị tài chính khỏi quản lý thu chi thông thường và đề xuất các tiêu chí đánh giá gắn với từng vai trò.

Ở Việt Nam, khung chính sách đã liên tục được bổ sung trong giai đoạn 2024-2026, với mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách cho văn hóa, cơ chế đặt hàng, khoán chi và Quỹ văn hóa, nghệ thuật thí điểm. Vấn đề đặt ra hiện nay nằm ở khâu tổ chức thực hiện, cụ thể là làm thế nào để vốn dễ tiếp cận, được sử dụng đúng mục đích và tạo ra kết quả kiểm chứng được. Hỗ trợ cần phù hợp với từng loại dự án, minh bạch và gắn với lợi ích của người dân.

Tài liệu tham khảo:
Ansell, C. và Gash, A. (2008). Collaborative Governance in Theory and Practice. Journal of Public Administration Research and Theory, 18(4), tr. 543-571. DOI: 10.1093/jopart/mum032.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Báo Điện tử Chính phủ (23/12/2023). Thủ tướng chủ trì Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam. Thông cáo báo chí của Văn phòng Chính phủ.
Chính phủ (2026). Nghị định số 282/2026/NĐ-CP ngày 14/7/2026 quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàng Ngọc Hải (2026). Phát triển mô hình hợp tác công – tư thế hệ mới trong phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 368, tr. 3-9. DOI: 10.59394/qlnn.368.2026.1595.
European Commission (2024). Commission announces new agreements to support Europe’s creative and cultural industries.
UNESCO (2005). Convention on the Protection and Promotion of the Diversity of Cultural Expressions. Bản tiếng Anh chính thức trên cổng UNESCO.
UNESCO (2022). Re|Shaping Policies for Creativity: Addressing Culture as a Global Public Good, Chương 3 “New opportunities and challenges for inclusive cultural and creative industries in the digital environment”.
UNESCO. Perspectives for the Financing of Culture as a Stand-Alone Goal in the Post-2030 Agenda. Financing Policy Brief Series. Tài liệu phục vụ Hội nghị quốc tế lần thứ tư về tài chính cho phát triển năm 2025.
UNCTAD (2024). Creative Economy Outlook 2024: Technical and Statistical Report, United Nations, mã tài liệu UNCTAD/DITC/TSCE/2024/2. Phụ lục I về khái niệm kinh tế sáng tạo và cập nhật cách phân loại, đo lường.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2025). Quyết định số 5287/QĐ-UBND ngày 24/10/2025 phê duyệt đề cương Đề án Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành Công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội.
OECD (2022). The Culture Fix: Creative People, Places and Industries. OECD Publishing, Paris. DOI: 10.1787/991bb520-en.
Quốc hội (2024). Nghị quyết số 162/2024/QH15 ngày 27/11/2024 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, nội dung về nguồn vốn giai đoạn 2025-2030.
Quốc hội (2026). Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
World Bank và UNESCO (2021). Cities, Culture, Creativity: Leveraging Culture & Creativity for Sustainable Urban Development & Inclusive Growth.
WIPO (2024). Securing Loans with Your IP Assets, bộ tài liệu Hands-on IP Finance.
World Intellectual Property Organization (WIPO) (2023). IP Finance Dialogue on Expanding Horizons in IP Finance and Valuation.