“Culture lights the way for the nation” in Resolution No. 80-NQ/TW – a new development in the Party’s theoretical perception
ThS. Nguyễn Thế Nam
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
ThS. Đỗ Mai Phương
Trường Đại học FPT
Email: domaiphuong2804@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” – lời khẳng định bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (năm 1946) đã xác lập vị thế dẫn dắt của văn hóa đối với vận mệnh dân tộc, trở thành kim chỉ nam xuyên suốt sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết phân tích Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam như một bước ngoặt trong nhận thức lý luận của Đảng: văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới. Trên cơ sở đối chiếu với các văn kiện trước, bài viết làm rõ những điểm chuyển dịch cơ bản, cơ hội và thách thức đặt ra đối với phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Văn hóa soi đường; Nghị quyết số 80-NQ/TW; dân tộc; tôn giáo; sức mạnh mềm; kỷ nguyên mới.
Abstract: “Culture lights the way for the nation” – the immortal affirmation by President Hồ Chí Minh at the First National Cultural Conference (1946) established the guiding role of culture in the destiny of the nation and has served as a consistent compass throughout the leadership of the Party. This article analyses Politburo Resolution No. 80-NQ/TW on the development of Vietnamese culture as a turning point in the Party’s theoretical perception: culture is not merely the spiritual foundation but also an endogenous resource, a driving force for development, and a source of national soft power in the new era. By comparing the Resolution with previous documents, the article clarifies the fundamental shifts in approach as well as the opportunities and challenges facing the development of Vietnamese culture today.
Keywords: Culture lights the way; Resolution No. 80-NQ/TW; nation; religion; soft power; new era.
1. Đặt vấn đề
Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, văn hóa luôn được Đảng và Nhà nước xác định là một mặt trận quan trọng, có vai trò định hướng, dẫn dắt sự phát triển của dân tộc. Tư tưởng “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được khẳng định tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (năm 1946) đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng.
Bước vào kỷ nguyên mới, với bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh ảnh hưởng văn hóa ngày càng gay gắt, vai trò của văn hóa càng được nhận thức sâu sắc hơn. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng: văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia. Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy này trên cơ sở đối chiếu với các văn kiện trước đó, đặc biệt là Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đồng thời, làm rõ những cơ hội, thách thức và giải pháp nhằm hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 80-NQ/TW trong thực tiễn phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay.
2. Quan điểm về “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”
Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, hình thành nền văn hóa giàu bản sắc, được ghi nhận qua nhiều công trình khảo cứu phong tục, văn hóa truyền thống (Phan Kế Bính, 2008; Đào Duy Anh, 2010) và liên tục được kế thừa, tiếp biến qua từng thời kỳ lịch sử.
Quan điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nối trực tiếp tinh thần Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) do Cố Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo, với ba nguyên tắc: dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa. Dân tộc hóa là chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập; đại chúng hóa là chống mọi chủ trương, hành động làm cho văn hóa phản lại hoặc xa rời đông đảo quần chúng; khoa học hóa là chống lại tất cả những gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ. Đề cương xác định văn hóa là một trong ba mặt trận cách mạng cùng với kinh tế và chính trị (Trường Chinh, 1943).
Ngay sau khi Việt Nam giành được độc lập, các Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (1946), lần thứ hai (1948) tiếp tục khẳng định vị trí của văn hóa trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, đặt nền móng cho nhận thức “văn hóa là một mặt trận” xuyên suốt các giai đoạn sau này.
“Văn hóa” là khái niệm có nội hàm rộng, đa nghĩa nhất trong khoa học xã hội và nhân văn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết về nội hàm văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 458). Theo đó, văn hóa hiện diện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, phản ánh trình độ phát triển và khả năng thích ứng của con người, cộng đồng. Vì vậy, tư tưởng “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” có thể tiếp cận dưới bốn chức năng cơ bản:
(1) Nhận thức và dự báo:Văn hóa cung cấp hệ thống tri thức, kinh nghiệm để con người hiểu về thế giới và chính mình, giúp chúng ta nhận diện đâu là giá trị thực, đâu là luận điệu xuyên tạc. Nó giúp “soi đường” để dân tộc không đi lầm đường lạc lối trước các trào lưu tư tưởng độc hại.
(2) Giáo dục và đúc kết giá trị:Văn hóa hình thành nên nhân cách con người thông qua việc truyền tải các giá trị đạo đức, thẩm mỹ. Đây là nền tảng hình thành “con người mới”, có lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc.
(3) Điều tiết và định hướng:Văn hóa đóng vai trò như một bộ luật bất thành văn, điều chỉnh hành vi của con người thông qua dư luận xã hội, phong tục và đạo đức. Văn hóa giữ vai trò điều tiết để kinh tế phát triển nhưng không làm băng hoại đạo đức, để quyền lực chính trị luôn nằm trong khuôn khổ văn hóa.
(4) Giao tiếp và gắn kết:Văn hóa là sợi dây vô hình gắn kết các cá nhân thành một cộng đồng, một quốc gia thống nhất. Chính sự đồng nhất về văn hóa tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc. Khi Nhân dân có chung một hệ giá trị văn hóa, họ sẽ có xu hướng tự giác bảo vệ lẫn nhau, cố kết cộng đồng, cùng nhau chống thiên tai, địch họa.
Từ những chức năng trên có thể thấy, tư tưởng “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” không chỉ nhấn mạnh vai trò định hướng của văn hóa đối với mỗi cá nhân mà còn khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của quốc gia, là sức mạnh giúp dân tộc hội nhập mà không hòa tan và vượt qua những thử thách của lịch sử.
3. Điểm mới của Nghị quyết số 80-NQ/TW về văn hóa trong kỷ nguyên mới
3.1. Sự chuyển dịch tư duy phát triển văn hóa
Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới – sự tiếp nối, phát triển tư tưởng “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Điểm nổi bật của Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ khẳng định vai trò của văn hóa với sự phát triển đất nước mà còn thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy. Nếu các văn kiện trước chủ yếu nhấn mạnh xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát triển con người thì Nghị quyết 80-NQ/TW mở rộng cách tiếp cận, xác định văn hóa là mục tiêu, nguồn lực, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia.
Sự chuyển dịch này được hình thành trên cơ sở kế thừa các quan điểm phát triển văn hóa qua nhiều giai đoạn. Ngay từ Nghị quyết số 03-NQ/TW, Đảng đã khẳng định việc phát huy các giá trị công bằng, bác ái, hướng thiện trong tôn giáo và coi đây là một bộ phận của đời sống văn hóa dân tộc.
Có thể thấy, từ giai đoạn này, tôn giáo không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ quản lý xã hội mà đã được tiếp cận như một bộ phận của đời sống văn hóa dân tộc, với những giá trị đạo đức, nhân văn đóng góp cho phát triển xã hội. Từ việc khuyến khích giá trị công bằng, bác ái, hướng thiện trong Nghị quyết số 03-NQ/TW đến việc xác định chức sắc tôn giáo là chủ thể tham gia sáng tạo, lan tỏa giá trị văn hóa trong Nghị quyết số 80-NQ/TW có thể thấy, nhận thức của Đảng về vai trò tôn giáo trong phát triển văn hóa đã có bước phát triển đáng chú ý, phản ánh xu hướng ngày càng coi trọng nguồn lực văn hóa gắn với tín ngưỡng, tôn giáo trong chiến lược phát triển đất nước.
Sự chuyển dịch tư duy này có thể được khái quát thông qua một số điểm nhấn chủ yếu sau đây:
Bảng 1. Sự chuyển dịch tư duy phát triển văn hóa từ Nghị quyết số 03-NQ/TW đến Nghị quyết số 80-NQ/TW
| Nội dung | Nghị quyết số 03-NQ/TW | Nghị quyết số 80-NQ/TW |
| Cách tiếp cận đối với văn hóa | Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc | Văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia |
| Mục tiêu trọng tâm | Giữ gìn bản sắc dân tộc, xây dựng đời sống văn hóa, phát triển con người Việt Nam | Phát triển văn hóa gắn với tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và nâng cao vị thế quốc gia |
| Vai trò của văn hóa | Nền tảng tinh thần của xã hội | Một trong những trụ cột phát triển và “hệ điều tiết” cho phát triển bền vững |
| Công nghiệp văn hóa | Chưa được nhấn mạnh | Xác định là ngành kinh tế quan trọng, đóng góp ngày càng lớn vào GDP |
| Chuyển đổi số văn hóa | Chưa đặt ra | Xây dựng không gian văn hóa số và nền tảng văn hóa số quốc gia |
| Sức mạnh mềm quốc gia | Chưa được đề cập rõ | Trở thành mục tiêu chiến lược, hướng tới Top 30 thế giới về Chỉ số sức mạnh mềm |
| Vai trò của tôn giáo | Khuyến khích các giá trị công bằng, bác ái, hướng thiện; coi tôn giáo là một bộ phận của đời sống văn hóa cần được phát huy mặt tích cực | Chức sắc tôn giáo được xác định là một trong những chủ thể tham gia sáng tạo, lan tỏa và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc |
| Chủ thể phát triển văn hóa | Nhà nước, các tổ chức xã hội và Nhân dân | Mở rộng vai trò của văn nghệ sĩ, trí thức, doanh nhân, nghệ nhân dân gian, người có uy tín và chức sắc tôn giáo |
Sự chuyển dịch tư duy này được thể hiện trên một số phương diện cơ bản:
Thứ nhất, Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh chiến lược của quốc gia, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế – xã hội và sức mạnh quốc gia, chứ không chỉ là đời sống tinh thần.
Thứ hai, văn hóa được xác định là trụ cột của phát triển bền vững, giữ vai trò điều tiết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển con người.
Thứ ba, Nghị quyết số 80-NQ/TW chuyển từ tư duy bảo tồn sang tư duy phát triển văn hóa thông qua công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và khai thác các nguồn lực sáng tạo.
Thứ tư, lần đầu tiên sức mạnh mềm văn hóa được xác định là mục tiêu chiến lược quốc gia, gắn với quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam và nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.
Thứ năm, Nghị quyết số 80-NQ/TW mở rộng các chủ thể phát triển văn hóa khi nhấn mạnh vai trò của văn nghệ sĩ, trí thức, doanh nhân, nghệ nhân dân gian, người có uy tín và các chức sắc tôn giáo trong quá trình sáng tạo, bảo tồn và lan tỏa giá trị văn hóa.
Có thể thấy, Nghị quyết số 80-NQ/TW đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng khi xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia – được thể chế hóa qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội.
3.2. Cơ hội và thách thức đặt ra đối với phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh mới
Sự chuyển dịch tư duy phát triển văn hóa trong Nghị quyết số 80-NQ/TW diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ làm thay đổi căn bản phương thức sáng tạo, lưu giữ, lan tỏa giá trị văn hóa và mở rộng không gian giao lưu văn hóa vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia. Do đó, phát triển văn hóa không chỉ gắn với bảo tồn bản sắc dân tộc mà còn là yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, sức mạnh mềm quốc gia.
Đối với Việt Nam, bối cảnh mới mở ra nhiều cơ hội phát huy nguồn lực văn hóa phục vụ phát triển đất nước. Bên cạnh các nguồn lực truyền thống, như: di sản văn hóa, nghệ thuật, tri thức dân gian, các giá trị gắn với tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống cộng đồng ngày càng được nhìn nhận như thành tố quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia. Với hàng chục triệu tín đồ tôn giáo, hàng chục nghìn cơ sở thờ tự cùng hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể phong phú, Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa đặc sắc, có thể đóng góp vào du lịch văn hóa, giao lưu quốc tế và quảng bá hình ảnh đất nước.
Trên thực tế, những chuyển biến trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, trọng tâm mới mà Nghị quyết số 80-NQ/TW xác lập đã bắt đầu được kiểm chứng bằng những kết quả cụ thể. Các bộ phim khai thác đề tài lịch sử – văn hóa, như: Đào, phở và piano, Mưa đỏhay Hẹn em ngày nhật thựckhông chỉ thành công về doanh thu mà còn khơi dậy sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là giới trẻ đối với lịch sử dân tộc và giá trị văn hóa truyền thống. Đây là minh chứng cho thấy, công nghiệp văn hóa đang từng bước trở thành nguồn lực kinh tế – xã hội thực sự, đúng như định hướng mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra.
Cùng với nguồn lực văn hóa nội sinh, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao cũng tạo điều kiện để văn hóa Việt Nam mở rộng ảnh hưởng ra bên ngoài lãnh thổ. Theo Viện Lowy (Australia), Việt Nam hiện được xếp vào nhóm các cường quốc tầm trung đang lên trong khu vực (Lowy Institute, 2025); dân số khoảng 102,3 triệu người (năm 2025), đứng thứ 16 thế giới, còn tiếng Việt nằm trong nhóm 17 ngôn ngữ có số người bản ngữ nhiều nhất toàn cầu (Ethnologue, n.d.). Những yếu tố này phản ánh tiềm lực nhân khẩu học, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện mở rộng ảnh hưởng văn hóa Việt Nam ra thế giới. Đúng như Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” (Nguyễn Phú Trọng, 2021). Trong bối cảnh cạnh tranh quốc gia ngày càng mở rộng từ kinh tế, quân sự sang văn hóa, truyền thông và khả năng gây ảnh hưởng quốc tế, những lợi thế trên giúp Việt Nam chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành sức mạnh mềm quốc gia.
Bên cạnh cơ hội, quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức. Sự cạnh tranh mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa xuyên biên giới, xu hướng thương mại hóa giá trị văn hóa, tiếp nhận thiếu chọn lọc giá trị ngoại lai cũng như thông tin sai lệch lan truyền nhanh trên không gian mạng đang tác động trực tiếp đến đời sống văn hóa xã hội. Với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, thách thức còn thể hiện ở nguy cơ lệch chuẩn trong thực hành văn hóa tâm linh, thương mại hóa hoạt động tín ngưỡng, hoặc lợi dụng vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng vì mục đích không phù hợp với lợi ích cộng đồng, quốc gia. Thiếu cơ chế quản lý phù hợp, hội nhập và chuyển đổi số có thể làm suy giảm giá trị văn hóa truyền thống, ảnh hưởng bản sắc dân tộc và sức mạnh mềm quốc gia.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống mà còn chủ động khai thác, chuyển hóa thành nguồn lực phát triển – tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 80-NQ/TW khi xác định văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia. Tận dụng hiệu quả cơ hội từ toàn cầu hóa, chuyển đổi số; đồng thời, chủ động ứng phó thách thức thời đại sẽ quyết định khả năng hiện thực hóa các mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
4. Một số giải pháp
Từ những phân tích trên có thể thấy, để hiện thực hóa quan điểm “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” trong bối cảnh Nghị quyết số 80-NQ/TW, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, vừa kế thừa kinh nghiệm truyền thống, vừa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Thứ nhất, đổi mới nhận thức và tư duy về vai trò của văn hóa trong toàn hệ thống chính trị và xã hội. Cần quán triệt sâu sắc quan điểm văn hóa là nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia, không chỉ là lĩnh vực đời sống tinh thần. Các cấp ủy, chính quyền cần cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW thành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với điều kiện địa phương, gắn phát triển văn hóa với phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm văn hóa thực sự là “hệ điều tiết” cho phát triển bền vững. Đồng thời, chuyển sang tư duy đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển, tạo ra giá trị kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển văn hóa đồng bộ với thể chế kinh tế – xã hội. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật về văn hóa, trong đó có Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, các quy định về công nghiệp văn hóa, quyền tác giả và các ngành công nghiệp sáng tạo. Xây dựng cơ chế ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp văn hóa, khuyến khích đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Đặc biệt, cần thể chế hóa vai trò của các chủ thể mới, như: văn nghệ sĩ, trí thức, doanh nhân, nghệ nhân dân gian, người có uy tín và chức sắc tôn giáo trong sáng tạo, bảo tồn và lan tỏa giá trị văn hóa, tạo môi trường thuận lợi để mọi nguồn lực văn hóa được giải phóng và phát huy.
Thứ ba, phát triển công nghiệp văn hóa gắn với chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Cần xác định rõ các ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn, như: điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thiết kế, game, du lịch văn hóa, thủ công mỹ nghệ… để có chính sách đầu tư trọng tâm, trọng điểm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, AI, thực tế ảo trong sáng tạo, lưu giữ và quảng bá văn hóa; xây dựng không gian văn hóa số và nền tảng văn hóa số quốc gia. Khuyến khích các sản phẩm văn hóa Việt Nam đạt chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và nâng cao chỉ số sức mạnh mềm quốc gia.
Thứ tư, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch và giáo dục. Cần tiếp tục đầu tư bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, đặc biệt là các di sản đã được UNESCO ghi danh, gắn bảo tồn với khai thác hợp lý phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Đẩy mạnh giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc trong nhà trường và cộng đồng, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý chặt chẽ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, ngăn chặn nguy cơ thương mại hóa, lệch chuẩn trong thực hành văn hóa tâm linh, bảo đảm phát huy mặt tích cực, hướng thiện của tôn giáo trong đời sống văn hóa dân tộc.
Thứ năm, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa, chủ động hội nhập nhưng không hòa tan. Cần tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới thông qua các sự kiện văn hóa, ngoại giao văn hóa, các kênh truyền thông đa phương tiện và mạng xã hội. Tranh thủ sự hợp tác của các tổ chức quốc tế, các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển để học hỏi kinh nghiệm, thu hút nguồn lực và công nghệ. Đồng thời, cần chủ động phòng ngừa, ứng phó với các thách thức từ toàn cầu hóa và chuyển đổi số, như: sự xâm lấn của sản phẩm văn hóa độc hại, thông tin sai lệch, xu hướng thương mại hóa giá trị văn hóa và nguy cơ mai một bản sắc dân tộc.
Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao và tăng cường đầu tư nguồn lực. Cần đổi mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, văn nghệ sĩ, nhà quản lý văn hóa có trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị và khả năng hội nhập quốc tế. Có chính sách đãi ngộ, tôn vinh, khuyến khích tài năng văn hóa, nghệ thuật; tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ, trí thức trẻ phát triển và cống hiến. Đồng thời, cần tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước cho văn hóa, huy động các nguồn lực xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng tham gia phát triển văn hóa, bảo đảm văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
5. Kết luận
Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát huy nguồn lực văn hóa dân tộc, di sản, tín ngưỡng, tôn giáo và công nghiệp văn hóa để nâng cao vị thế quốc gia. Tuy nhiên, toàn cầu hóa và chuyển đổi số cũng đặt ra yêu cầu mới về bảo tồn bản sắc, nâng cao năng lực quản trị và chủ động chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển. Tư tưởng “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong kỷ nguyên mới. Việc triển khai hiệu quả Nghị quyết số 80-NQ/TW sẽ góp phần phát huy sức mạnh văn hóa, củng cố sức mạnh mềm quốc gia, tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1998). Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương (24/11/2021). Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc. https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-hoi-nghi-van-hoa-toan-quoc.html
Đảng Cộng sản Việt Nam (2015). Văn hóa soi đường cho quốc dân đi: Văn kiện của Đảng về văn hóa. Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đào Duy Anh (2010). Việt Nam văn hóa sử cương. Nxb Văn học.
Ethnologue. (n.d.). What are the top 200 most spoken languages? https://www.ethnologue.com/insights/ethnologue200/
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Lowy Institute (2025). Asia Power Index 2025 edition. https://power.lowyinstitute.org/countries/
Phạm Quang Nghị (2003). Ôn lại những giá trị soi đường của Đề cương văn hóa Việt Nam. Văn hóa Nghệ thuật, (230), 6–8.
Phan Kế Bính (2008). Việt Nam phong tục. Nxb Văn học.
Phương Phương (05/5/2025). Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc và những dấu ấn Đại lễ Phật đản do Việt Nam tổ chức. https://nvsk.vnanet.vn/print/dai-le-phat-dan-lien-hop-quoc-va-nhung-dau-an-dai-le-phat-dan-do-viet-nam-to-chuc-169232.vna
Quốc hội (2026). Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Thanh Dung (12/9/2026). Bản sắc Việt trong tinh hoa văn hóa toàn cầu. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn/ban-sac-viet-trong-tinh-hoa-van-hoa-toan-cau-post988038.html
Trường Chinh (1943). Đề cương về văn hóa Việt Nam. Tạp chí Tiên Phong, (1), 18.



