Developing new productive forces in the Mekong Delta today
ThS. Lê Thanh Hiền
Học viện Chính trị khu vực IV
Email: lethanhhien@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển lực lượng sản xuất mới đã trở thành yêu cầu khách quan, là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững. Bài viết tập trung phân tích thực tiễn phát triển lực lượng sản xuất mới ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững của vùng trong thời gian tới.
Từ khóa: Phát triển; lực lượng sản xuất mới; đồng bằng sông Cửu Long.
Abstract: Amidst the backdrop of rapid advancements in science, technology, and innovation, alongside digital transformation and deepening international integration, the development of new productive forces has become an objective necessity and a key driver of rapid, sustainable growth. This article analyzes the current state of developing new productive forces in the Mekong Delta and proposes solutions to enhance competitiveness and realize the region’s sustainable development goals in the coming period.
Keywords: Development; new productive forces; Mekong Delta.
1. Đặt vấn đề
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn hiện nay đã làm cho các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất truyền thống có sự thay đổi căn bản cả về nội dung, phương thức vận hành và động lực phát triển. Lực lượng sản xuất mới với tri thức, dữ liệu, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành nguồn lực sản xuất trực tiếp, giữ vai trò quyết định đối với năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, nơi nào hình thành và phát triển được lực lượng sản xuất mới thì nơi đó có khả năng tạo ra những bước phát triển đột phá, nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và thúc đẩy phát triển bền vững. Vì vậy, Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.31) cho phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
Trong tiến trình phát triển chung của đất nước, đồng bằng sông Cửu Long giữ vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh của Việt Nam “đóng góp khoảng 58% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và hơn 70% sản lượng trái cây” (Nguyễn Phú Trọng, 2022, tr.6). Nhận thức sâu sắc vị trí chiến lược của vùng, ngày 02/4/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và ngày 28/02/2022, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 287/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Bộ Chính trị, 2022; Thủ tướng Chính phủ, 2022). Đây là hai văn kiện có ý nghĩa nền tảng, định hướng dài hạn cho quá trình phát triển của vùng.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, cơ hội, vùng đang đứng trước những khó khăn, thách thức đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, nghiên cứu phát triển lực lượng sản xuất mới ở vùng hiện nay có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Thông qua việc làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp, nghiên cứu góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển vùng bền vững trong giai đoạn mới.
2. Phát triển lực lượng sản xuất mới ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
2.1. Quan niệm về lực lượng sản xuất mới
C. Mác viết: “Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta” (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, 1995a, tr.500). Như vậy, lực lượng sản xuất phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất, bao gồm: người lao động với tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lao động cùng với hệ thống tư liệu sản xuất được sử dụng để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Trong đó, người lao động là yếu tố giữ vai trò quyết định “trong các lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” (V.I. Lênin, 2005, tr.430), còn công cụ lao động là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử.
C. Mác cũng đã nhấn mạnh: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp” (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, 1995b, tr.187). Đây chính là dự báo đúng đắn của C. Mác về lực lượng sản xuất mới.
Thực tiễn phát triển của thế giới trong những thập niên gần đây cho thấy, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm xuất hiện nhiều yếu tố mới tác động mạnh mẽ đến quá trình sản xuất và phát triển kinh tế. Các công nghệ số, như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), Internet vạn vật (IoT), chuỗi khối (Blockchain), công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới đang làm thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, quản trị doanh nghiệp và phân phối sản phẩm. Trong bối cảnh đó, năng suất lao động không còn phụ thuộc chủ yếu vào quy mô vốn hay số lượng lao động mà ngày càng phụ thuộc vào trình độ khoa học, công nghệ, khả năng đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.
Như vậy, lực lượng sản xuất mới là trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất được hình thành trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào quá trình sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội. Điểm khác biệt căn bản của lực lượng sản xuất mới so với lực lượng sản xuất truyền thống là tri thức, dữ liệu và công nghệ không chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà đã trở thành nguồn lực sản xuất trực tiếp, tham gia tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Lực lượng sản xuất mới được cấu thành bởi nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ chuyên môn, kỹ năng số và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ hiện đại. Tiếp theo là hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữ vai trò tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất. Bên cạnh đó là hạ tầng số, dữ liệu số và các nền tảng công nghệ hiện đại làm cơ sở cho quá trình chuyển đổi số trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Ngoài ra, các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn cũng là những biểu hiện cụ thể của sự phát triển lực lượng sản xuất mới trong điều kiện hiện nay.
Nhận thức rõ xu thế phát triển đó, Đảng đã có nhiều chủ trương quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững”. Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đã cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp về hạ tầng số, dữ liệu, nhân lực và cơ chế thu hút đầu tư. Cùng với đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, qua đó, bổ sung cơ sở chính trị cho việc phát huy vai trò của doanh nghiệp trong phát triển lực lượng sản xuất mới ở vùng.
Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và nhận thức mới của Đảng có thể khẳng định rằng lực lượng sản xuất mới là sự phát triển ở trình độ cao của lực lượng sản xuất truyền thống, được đặc trưng bởi sự kết hợp hữu cơ giữa con người, tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu số. Trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò trung tâm; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu; dữ liệu số và hạ tầng số là nền tảng; còn chuyển đổi số là phương thức quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất và quản trị.
2.2. Những kết quả nổi bật trong phát triển lực lượng sản xuất mới ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
Trong những năm gần đây, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có những bước chuyển biến quan trọng trong phát triển lực lượng sản xuất mới. Những kết quả đạt được không chỉ thể hiện ở sự gia tăng về năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất mà còn phản ánh quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên và lao động giản đơn sang mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực của vùng từng bước được nâng lên, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển lực lượng sản xuất mới. Điển hình tại thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2024 “chất lượng nguồn nhân lực cũng được cải thiện khi tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 25,2%, tăng 4,6 điểm phần trăm so với năm 2020” (Tổng cục Thống kê, 2025). Trong khi đó Đồng Tháp “đang trải qua quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động mạnh mẽ với mục tiêu đến năm 2025 giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống còn 35%; đồng thời, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 72%, trong đó 36,5% có bằng cấp, chứng chỉ nghề. Hoạt động xuất khẩu lao động tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh” (Báo Đồng Tháp, 2025). Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong những năm qua, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, trung cấp nghề trong vùng, nhất là ở thành phố Cần Thơ tiếp tục được mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo. Các địa phương ngày càng chú trọng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến và dịch vụ logistics.
Thứ hai, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất “Hoạt động khoa học – công nghệ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đóng góp khoảng trên 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% giá trị gia tăng trong sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, góp phần đưa Việt Nam vào nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo” (Thanh Trà, 2024), là một trong những vùng đi đầu cả nước trong ứng dụng khoa học, công nghệ vào lĩnh vực nông nghiệp, nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu được triển khai tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long… đã góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và gia tăng giá trị sản phẩm.
Thứ ba, chuyển đổi số đang từng bước làm thay đổi phương thức tổ chức và quản lý sản xuất trong vùng. Những năm gần đây, các địa phương đã tích cực triển khai các chương trình chuyển đổi số trên nhiều lĩnh vực, từ quản lý nhà nước đến sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ công. Trong lĩnh vực nông nghiệp mô hình “Cánh đồng không dấu chân người” ở nhiều nơi trong vùng là biểu tượng của nền nông nghiệp thông minh trong kỷ nguyên số, nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ sản xuất đã áp dụng công nghệ số để quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, giám sát quy trình sản xuất và kết nối tiêu thụ thông qua các sàn thương mại điện tử qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí giao dịch và tăng khả năng tiếp cận thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Thứ tư, kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển lực lượng sản xuất mới được quan tâm đầu tư và từng bước hoàn thiện “đầu tư hạ tầng thủy lợi và giao thông được tăng cường và từng bước hoàn thiện. Tổng vốn đầu tư công giai đoạn 2016 – 2020 vào đồng bằng sông Cửu Long khoảng 194 nghìn tỷ đồng (khoảng 7,5 tỷ USD); giai đoạn 2021 – 2025 là khoảng 460 nghìn tỷ đồng (khoảng 17,8 tỷ USD)” (Báo điện tử Chính phủ, 2025). Trong giai đoạn 2021 – 2025, nhiều công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được triển khai tại đồng bằng sông Cửu Long như tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông, cao tốc Mỹ Thuận – Cần Thơ, Cần Thơ – Cà Mau, An Giang – Cần Thơ, cầu Mỹ Thuận 2 và nhiều dự án cảng biển, cảng thủy nội địa quan trọng. Việc phát triển hệ thống giao thông liên vùng đã góp phần giảm chi phí logistics, tăng khả năng kết nối sản xuất và mở rộng không gian phát triển kinh tế của toàn vùng. Bên cạnh đó, hạ tầng viễn thông, internet băng rộng và hạ tầng số cũng được mở rộng nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi số và phát triển kinh tế số.
Thứ năm, nhiều địa phương trong vùng đã xây dựng các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, trung tâm đổi mới sáng tạo và không gian làm việc chung nhằm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo “các trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo đa ngành từng bước được hình thành và phát triển, đóng vai trò kết nối giữa nhà khoa học, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng. Thông qua việc hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng, thúc đẩy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và chia sẻ dữ liệu, các trung tâm này đang góp phần tăng cường năng lực nội sinh về khoa học – công nghệ cho vùng” (Nguyễn Thành Nhân và cộng sự, 2025, tr.56 – 62). Sự liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và người dân ngày càng được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào thực tiễn.
Thứ sáu, các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp sinh thái đang phát triển mạnh mẽ, trở thành biểu hiện sinh động của lực lượng sản xuất mới trong điều kiện hiện nay. Thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, nhiều địa phương đã chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Các mô hình “lúa – tôm”, “tôm – rừng”, nông nghiệp hữu cơ… được mở rộng, góp phần nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Đây không chỉ là giải pháp phát triển kinh tế mà còn là xu hướng phát triển lực lượng sản xuất mới gắn với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Những kết quả đạt được trong phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và xây dựng các mô hình kinh tế xanh đã tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển lực lượng sản xuất mới ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.
2.3. Những hạn chế và nguyên nhân
Một là, chất lượng nguồn nhân lực vẫn là điểm nghẽn lớn đối với phát triển lực lượng sản xuất mới “Mặc dù có sự gia tăng về số lượng lao động, chất lượng nguồn nhân lực tại đồng bằng sông Cửu Long vẫn là một thách thức lớn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp và thiếu kỹ năng số khiến khu vực khó tận dụng được các cơ hội từ chuyển đổi số và phát triển kinh tế hiện đại” (Võ Thị Kim Loan, 2026, tr.27). Thực tế nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng công nghệ số, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường sản xuất hiện đại vẫn còn thiếu. Một bộ phận lao động nông thôn chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về chuyển đổi số, nông nghiệp thông minh và quản trị kinh doanh hiện đại. Tình trạng di cư lao động có trình độ từ đồng bằng sông Cửu Long đến các trung tâm kinh tế lớn như TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai diễn ra khá phổ biến, làm suy giảm nguồn nhân lực chất lượng cao của vùng.
Hai là, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực chủ đạo của tăng trưởng. Mặc dù nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao đã được triển khai, nhưng phần lớn hoạt động sản xuất của vùng vẫn dựa trên quy mô nhỏ lẻ, phân tán và trình độ công nghệ trung bình hoặc thấp. Số lượng doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển còn hạn chế; năng lực hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ chưa cao. Sự gắn kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp và người dân trong hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ còn thiếu chặt chẽ. Điều này làm cho nhiều kết quả nghiên cứu khoa học chưa được thương mại hóa hoặc ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn sản xuất.
Ba là, quá trình chuyển đổi số trong vùng diễn ra chưa đồng đều giữa các địa phương, ngành nghề và chủ thể kinh tế. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã và hộ sản xuất chưa đủ nguồn lực tài chính cũng như năng lực quản trị để triển khai chuyển đổi số. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số, hệ thống quản trị thông minh và các nền tảng số phục vụ sản xuất, kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn. Khoảng cách số giữa khu vực đô thị và nông thôn vẫn tồn tại ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận công nghệ và khai thác các lợi ích từ kinh tế số.
Bốn là, kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển lực lượng sản xuất mới vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Mặc dù đã được đầu tư đáng kể trong những năm gần đây, song hệ thống giao thông liên kết vùng, hạ tầng logistics, hạ tầng cảng biển, trung tâm phân phối hàng hóa và hạ tầng số vẫn còn nhiều bất cập “Hiện nay, hệ thống cao tốc trục ngang và dọc của đồng bằng sông Cửu Long đang dần được hình thành nhưng hệ thống giao thông kết nối từ vùng sản xuất đến đường quốc lộ cũng như hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ vẫn còn yếu kém và chưa được chú trọng” (VCCI Đồng bằng sông Cửu Long và Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, 2025). Chi phí logistics của vùng vẫn ở mức cao so với mặt bằng chung của cả nước, làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm. Bên cạnh đó, hạ tầng phục vụ nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa được đầu tư tương xứng với vai trò, vị trí của vùng trong nền kinh tế quốc dân.
Năm là, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và các thách thức môi trường vẫn còn nhiều hạn chế. Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những khu vực chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu trên thế giới. Tình trạng xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển, hạn hán và nước biển dâng đang tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, đặc biệt là nông nghiệp và thủy sản. Trong khi đó, nhiều mô hình sản xuất vẫn phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên và chưa thực sự chuyển đổi theo hướng thích ứng chủ động với biến đổi khí hậu. Đây là thách thức lớn đối với quá trình phát triển lực lượng sản xuất mới theo hướng xanh và bền vững.
Những hạn chế trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Về khách quan,đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu, suy giảm nguồn nước từ thượng nguồn sông Mekong và những biến động khó lường của kinh tế thế giới. Quá trình toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt đòi hỏi các chủ thể sản xuất phải liên tục đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường. Đây là áp lực lớn đối với một vùng kinh tế mà phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và năng lực tài chính còn hạn chế.
Về chủ quan, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và người dân về vai trò của lực lượng sản xuất mới chưa thật đầy đủ. Công tác quy hoạch, xây dựng cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở một số địa phương còn chậm đổi mới. Nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Môi trường đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp của vùng vẫn đang trong quá trình hình thành, chưa tạo được sức lan tỏa mạnh mẽ. Ngoài ra, cơ chế liên kết vùng tuy đã có nhiều chuyển biến nhưng chưa thực sự phát huy hiệu quả trong việc điều phối nguồn lực phát triển. Điều này làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và hạn chế khả năng hình thành các cực tăng trưởng mới của vùng.
3. Một số giải pháp
Một là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới.
Trong điều kiện hiện nay, phát triển lực lượng sản xuất mới trước hết phải bắt đầu từ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao “Nguồn nhân lực chất lượng cao lại là nhân tố quyết định đến tiến độ, chất lượng tiếp thu công nghệ mới, hiện đại mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đem đến. Đây cũng là yếu tố quyết định đến việc khai thác, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác. Xét đến cùng, con người là nhân tố quyết định của mọi sự thành công” (Nguyễn Thành Hưng, 2021). Các địa phương trong vùng cần đẩy mạnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu phát triển của nền kinh tế số.
Cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu số, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến nông sản, logistics và quản trị kinh doanh hiện đại. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế thu hút, trọng dụng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư và lao động có trình độ cao đến làm việc, nghiên cứu và khởi nghiệp tại đồng bằng sông Cửu Long.
Hai là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác và nông nghiệp tuần hoàn; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc, dự báo thị trường và quản trị chuỗi giá trị nông sản. Các doanh nghiệp cần được hỗ trợ tiếp cận công nghệ mới, đổi mới thiết bị sản xuất và thực hiện chuyển đổi số toàn diện. Cùng với đó, cần thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của vùng; hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm chuyển đổi số và các khu nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, gắn với việc triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Ba là, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng phục vụ lực lượng sản xuất mới.
Kết cấu hạ tầng hiện đại là điều kiện vật chất quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất mới. Trong thời gian tới, cần tiếp tục ưu tiên đầu tư hoàn thiện hệ thống giao thông chiến lược của vùng theo hướng đồng bộ, hiện đại và liên thông theo đúng định hướng Quy hoạch vùng đã được phê duyệt (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ các dự án cao tốc, cảng biển, cảng thủy nội địa, trung tâm logistics và hệ thống kết nối liên vùng nhằm giảm chi phí vận chuyển, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời, cần đẩy mạnh phát triển hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu và nền tảng số dùng chung phục vụ phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Bốn là, hoàn thiện thể chế và chính sách thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất mới, phát huy vai trò của kinh tế tư nhân.
Các địa phương cần chủ động rà soát, tháo gỡ các rào cản về thủ tục hành chính, tiếp cận đất đai, tín dụng và công nghệ; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng tái tạo, nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Đây cũng là định hướng cụ thể hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân trong vùng. Đồng thời, cần xây dựng các chính sách ưu đãi đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển doanh nghiệp khoa học – công nghệ. Đây là giải pháp quan trọng để thúc đẩy hình thành các chủ thể mới của lực lượng sản xuất hiện đại.
Năm là, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Phát triển lực lượng sản xuất mới phải gắn chặt với mục tiêu tăng trưởng xanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Cần đẩy mạnh chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái, hữu cơ và tuần hoàn; phát triển các mô hình sản xuất thích ứng với điều kiện hạn hán, xâm nhập mặn và nước biển dâng. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào năng lượng tái tạo, công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ xử lý chất thải và sản xuất sạch hơn, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh để vùng tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu theo các tiêu chuẩn phát triển bền vững.
Sáu là, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu và phát triển kinh tế số của vùng.
Trong nền kinh tế hiện đại, dữ liệu đang trở thành nguồn lực sản xuất quan trọng. Do đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung của vùng về dân cư, đất đai, sản xuất nông nghiệp, logistics, tài nguyên môi trường và thị trường. Việc hình thành các cơ sở dữ liệu lớn và các nền tảng số dùng chung sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn. Đồng thời, cần thúc đẩy phát triển thương mại điện tử, thanh toán số, dịch vụ số và các mô hình kinh doanh trên nền tảng số nhằm mở rộng không gian phát triển của kinh tế vùng. Thực hiện có hiệu quả công tác điều phối liên kết giữa các địa phương trong vùng theo đúng tinh thần Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị.
4. Kết luận
Phát triển lực lượng sản xuất mới là yêu cầu khách quan và động lực quan trọng để đồng bằng sông Cửu Long thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực chủ yếu của tăng trưởng, phát triển lực lượng sản xuất mới cần được xem là nền tảng thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, số và bền vững. Vì vậy, triển khai đồng bộ Nghị quyết số 13-NQ/TW, Quy hoạch vùng theo Quyết định số 287/QĐ-TTg, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW, gắn với khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế và tăng cường liên kết vùng, sẽ tạo cơ sở để nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát huy vai trò của đồng bằng sông Cửu Long và gia tăng đóng góp của vùng vào sự phát triển chung của đất nước.
Tài liệu tham khảo:
Báo điện tử Chính phủ (21/6/2022). Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Người dân, doanh nghiệp được lợi gì. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/quy-hoach-vung-dbscl-nguoi-dan-doanh-nghiep-duoc-loi-gi-119220621092905114.htm
Báo Đồng Tháp (13/11/2025). Đồng Tháp: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. https://baodongthap.vn/dong-thap-phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-a232656.html
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2025). Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995a). Toàn tập (Tập 19). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995b). Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Phú Trọng (2022). Nỗ lực phấn đấu, tạo sự chuyển biến có tính đột phá trong công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Cộng sản, (989), tr. 6.
Nguyễn Thành Hưng (10/5/2021). Liên kết vùng để đồng bằng sông Cửu Long phát triển bền vững và thịnh vượng (kỳ 2). Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/kinh-te/-/2018/821875/lien-ket-vung-de-dong-bang-song-cuu-long-phat-trien-ben-vung-va-thinh-vuong-%28ky-2%29.aspx#
Nguyễn Thành Nhân & cộng sự (2025). Phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị, 05(47), tr. 56 – 62.
Thanh Trà (03/8/2024). Khoa học – công nghệ thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long. Báo Tin tức. https://baotintuc.vn/khoa-hoc-cong-nghe-thuc-day-phat-trien-ben-vung-dong-bang-song-cuu-long-post965774.html
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Tổng cục Thống kê (2025). Niên giám Thống kê năm 2024. Nxb Thống kê.
V.I. Lênin (2005). Toàn tập (Tập 38). Nxb Chính trị quốc gia.
VCCI đồng bằng sông Cửu Long (2025). Báo cáo kinh tế thường niên đồng bằng sông Cửu Long AMDER 2024: Huy động đầu tư cho phát triển bền vững. Nxb Đại học Cần Thơ.
Võ Thị Kim Loan (2026). Phát triển nguồn nhân lực tại đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh chuyển đổi số. Tạp chí Quản lý nhà nước, (360), tr. 127 – 131. https://doi.org/10.59394/qlnn.360.2026.1415.



