Thu hút và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh trong tình hình mới

Attracting and developing the foreign-invested economy in association with enhancing the quality of socio-economic growth in Bac Ninh Province in the new context

TS. Trần Văn Tĩnh
Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương
Email: trantinh65@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong giai đoạn phát triển mới, việc chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu là yêu cầu tất yếu đối với các địa phương trọng điểm công nghiệp. Bài viết phân tích các lợi thế, nền tảng cũng như thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù tỉnh Bắc Ninh duy trì vị thế tốp đầu cả nước về quy mô đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên, vẫn chưa tạo ra mức độ lan tỏa công nghệ và liên kết chuỗi giá trị như kỳ vọng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm chuyển đổi tư duy từ “thu hút vốn” sang “phát triển hệ sinh thái đầu tư chiến lược”, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế – xã hội địa phương bền vững.

Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài; tăng trưởng kinh tế; tỉnh Bắc Ninh; hệ sinh thái công nghiệp; chuỗi giá trị.

Abstract: In the new phase of development, shifting the growth model from extensive to intensive development is an inevitable requirement for key industrial localities. This article analyzes the advantages, foundations, and current situation of foreign direct investment (FDI) attraction in Bac Ninh province. The research findings indicate that although Bac Ninh continues to maintain its position among the leading provinces nationwide in terms of FDI scale, it has not yet generated the expected level of technology spillover and value-chain linkages. On this basis, the article proposes solutions to transform the mindset from “capital attraction” to “development of a strategic investment ecosystem,” thereby enhancing the quality of sustainable local socio-economic growth.

Keywords: Foreign direct investment; economic growth; Bac Ninh Province; industrial ecosystem; value chain.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một cấu phần quan trọng của nền kinh tế, góp phần giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn vốn đầu tư phát triển, mở rộng năng lực sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiếp thu phương thức quản trị hiện đại. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra đối với khu vực FDI không dừng lại ở việc gia tăng quy mô vốn đăng ký hay số lượng dự án mà chuyển dịch mạnh mẽ sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp thực chất vào nền kinh tế nội địa.

Ngày 08/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, xác định rõ định hướng mang tính chiến lược: chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược; từ thu hút theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, mức độ tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng làm tiêu chí cốt lõi. Đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và bảo đảm bền vững môi trường (Bộ Chính trị, 2026).

Đối với tỉnh Bắc Ninh, những yêu cầu này mang ý nghĩa đặc biệt cấp thiết. Với không gian phát triển mới sau sáp nhập, nằm ở vị trí chiến lược liền kề Thủ đô Hà Nội và sở hữu hệ thống hạ tầng công nghiệp đồng bộ, tỉnh Bắc Ninh luôn giữ vị trí tốp đầu cả nước về thu hút dòng vốn FDI, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử và công nghệ cao. Mặc dù vậy, quy mô và mức độ tập trung cao của khu vực FDI đặt ra bài toán kinh tế lớn: làm thế nào để chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa vào mở rộng năng lực sản xuất gia công sang mô hình dựa trên năng suất, công nghệ, giá trị gia tăng và năng lực tự chủ của nền kinh tế địa phương.

2. Lợi thế và nền tảng phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh Bắc Ninh

2.1. Vị trí địa kinh tế và khả năng kết nối vùng

Bắc Ninh có vị trí thuận lợi trong vùng đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm trên các hành lang kinh tế quan trọng kết nối Hà Nội với thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh và các trung tâm sản xuất, logistics lớn của miền Bắc. Hệ thống đường cao tốc, quốc lộ, đường vành đai và khả năng kết nối với cảng hàng không, cảng biển tạo điều kiện thuận lợi cho lưu chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu, nhân lực và kết nối chuỗi cung ứng.

Đặc biệt, việc phát triển Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và hệ thống giao thông kết nối, cùng với định hướng phát triển đô thị và hạ tầng vùng tạo thêm điều kiện để Bắc Ninh phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao, như: công nghiệp công nghệ cao, logistics, thương mại quốc tế, kinh tế số và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất.

2.2. Hệ thống khu công nghiệp và nền tảng hạ tầng sản xuất

Bắc Ninh đã hình thành hệ thống khu công nghiệp, cụm công nghiệp có quy mô lớn, tạo nền tảng vật chất quan trọng để tiếp nhận và phát triển các dự án FDI. Tỉnh đã quy hoạch 52 khu công nghiệp với tổng diện tích 16.138 ha; 43 khu công nghiệp đã được phê duyệt Quy hoạch với tổng diện tích đất 13.089 ha. 39 khu công nghiệp đã được phê duyệt chủ trương đầu tư và chấp thuận nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng (gồm 59 dự án hạ tầng) với tổng diện tích khoảng 11.629,5 ha (Kim Dung & Vũ Phường, 2026).

Tuy nhiên, trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, yêu cầu đối với hạ tầng khu công nghiệp cần được nâng lên một bước. Không chỉ bảo đảm mặt bằng sản xuất, điện, nước, giao thông và xử lý chất thải, hạ tầng cần từng bước chuyển sang mô hình hạ tầng công nghiệp xanh, thông minh, số hóa và có khả năng hỗ trợ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đây là điều kiện để Bắc Ninh chuyển từ lợi thế “có quỹ đất và hạ tầng khu công nghiệp” sang lợi thế “có nền tảng đầu tư chiến lược”, phù hợp với Nghị quyết số 10-NQ/TW trong tình hình hiện nay.

2.3. Tiềm năng hình thành hệ sinh thái công nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo

Trên cơ sở những điều kiện sẵn có, Bắc Ninh định hướng hình thành các khu chức năng trọng điểm. Cụ thể, khu kinh tế chuyên biệt sẽ được phát triển tại khu vực Kép, Lạng Giang và vùng phụ cận với quy mô khoảng 10.000 ha. Khu vực này gắn kết chặt với Ga liên vận quốc tế Kép, cảng cạn Kép và hành lang đường sắt Hà Nội – Bắc Ninh – Đồng Đăng. Chức năng chủ đạo của khu kinh tế này gồm: logistics đường sắt liên vận quốc tế, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp xanh và dịch vụ thương mại quốc tế, tạo thành cực tăng trưởng mới của tỉnh.

Bắc Ninh dần trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp công nghệ cao, điện tử và công nghiệp hỗ trợ, với nhiều doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực điện tử, linh kiện bán dẫn, năng lượng tái tạo, chế biến, chế tạo công nghệ cao. Hiện nay, tỉnh đã hình thành hệ thống khu công nghiệp, cụm công nghiệp quy mô lớn, đủ khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, điện tử, bán dẫn, logistics và dịch vụ sản xuất (Trịnh Lan, 24/7/2026).

2.4. Nguồn nhân lực và năng lực hấp thụ công nghệ

Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định khả năng tiếp nhận và lan tỏa công nghệ từ khu vực FDI. Bắc Ninh có hệ thống cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và đào tạo kỹ thuật tương đối phát triển, tạo nền tảng cung ứng lao động cho các ngành công nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 10-NQ/TW, vấn đề không chỉ là số lượng lao động mà cần tập trung vào chất lượng, cơ cấu và năng lực sáng tạo của nguồn nhân lực. Đặc biệt cần nâng cao tỷ lệ nhân lực kỹ thuật, quản trị, R&D, thiết kế, tự động hóa, bán dẫn, AI, dữ liệu và các lĩnh vực công nghệ lõi.

3. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Bắc Ninh

Những năm gần đây, Bắc Ninh đã trở thành một trong những địa phương có quy mô thu hút FDI lớn của cả nước, với sự tập trung đáng kể trong các ngành điện tử, công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo và công nghệ cao. Nếu chỉ nhìn vào quy mô vốn, Bắc Ninh là một trong những địa phương thu hút FDI thành công nhất cả nước. Đến giữa năm 2026, tỉnh có khoảng 3.500 – 3.600 dự án FDI, tổng vốn đăng ký trên 49 – 50 tỷ USD, đến từ khoảng 42 – 46 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2025, tỉnh thu hút 5,73 tỷ USD vốn FDI, đứng thứ 2 cả nước; lũy kế đến cuối tháng 7/2026 có 3.664 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư hơn 51 tỷ USD; riêng 7 tháng năm 2026 thu hút 2.738,2 triệu USD vốn đăng ký mới và điều chỉnh tăng (Việt Hùng, 20/6/2026). Điểm đáng chú ý hơn là cơ cấu FDI đã chuyển khá rõ sang điện tử, bán dẫn, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao.

Khu vực FDI đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu, việc làm, thu ngân sách và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI lớn cũng góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp điện tử và mở rộng khả năng tham gia của Bắc Ninh vào các chuỗi sản xuất khu vực và toàn cầu.

Đồng thời, Bắc Ninh đã rất thành công trong thu hút FDI theo chiều rộng và đang chuyển mạnh sang chiều sâu, nhưng các chỉ tiêu về R&D, chuyển giao công nghệ, nội địa hóa, liên kết với doanh nghiệp Việt Nam và giá trị gia tăng nội địa vẫn là “điểm nghẽn” cần được lượng hóa và cải thiện. Bắc Ninh đã chuyển từ mô hình thu hút FDI dựa chủ yếu vào quy mô sản xuất điện tử sang mô hình FDI công nghệ cao, bán dẫn và công nghiệp hỗ trợ; tuy nhiên, mức độ “bắt rễ” của FDI vào nền kinh tế địa phương còn hạn chế, thể hiện qua tỷ lệ nội địa hóa thấp, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng còn ít và hoạt động R&D, thiết kế, chuyển giao công nghệ lõi chưa phổ biến. Điểm này được phản ánh khá rõ bởi một mặt FDI trong khu công nghiệp đạt gần 41 tỷ USD và chi phối gần 80% sản xuất công nghiệp, mặt khác, chính tỉnh vẫn xác định nội địa hóa và liên kết FDI – doanh nghiệp Việt là nhiệm vụ cần ưu tiên trong giai đoạn tới (Minh Đăng, 2026).

Đặc biệt, việc tỉnh đặt mục tiêu thu hút 3 – 5 tập đoàn công nghệ lớn có nhà máy/R&D, phát triển doanh nghiệp thiết kế và hệ sinh thái bán dẫn cho thấy, định hướng chính sách đang chuyển từ “thu hút vốn” sang “thu hút công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo”.

Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận và thực tiễn nâng cao chất lượng tăng trưởng, bức tranh FDI của Bắc Ninh vẫn tồn tại những “điểm nghẽn”:

Một là, mức độ “bắt rễ” và tính lan tỏa thấp. Mặc dù khu vực FDI chiếm tới gần 80% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh, sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa vẫn rất mờ nhạt. Tỷ lệ nội địa hóa thấp, số lượng doanh nghiệp Việt Nam tại Bắc Ninh trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu còn hạn chế.

Hai là, hạn chế về R&D và chuyển giao công nghệ. Phần lớn dự án FDI gia nhập Bắc Ninh vẫn dừng lại ở công đoạn gia công, lắp ráp. Các trung tâm R&D, thiết kế hay chuyển giao công nghệ lõi chưa phát triển tương xứng với quy mô vốn đầu tư.

Ba là, chưa tối ưu hóa giá trị giữ lại tại địa phương: Nếu chuyển thước đo từ “quy mô vốn đăng ký” sang “giá trị gia tăng nội địa (GVA), thu nhập thực tế của người lao động và mức độ chuyển giao tri thức”, đóng góp của khu vực FDI chưa thực sự tương xứng với các ưu đãi về đất đai, năng lượng và môi trường mà địa phương đã cung ứng.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, thực hiện thu hút FDI có chọn lọc, dựa trên bộ tiêu chí thẩm định nâng cao.

Bắc Ninh cần chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn dự án theo chất lượng và mức độ đóng góp. Tỉnh xây dựng bộ tiêu chí sàng lọc dự án dựa trên công nghệ, năng lực tài chính và quản trị, R&D, giá trị gia tăng, liên kết với doanh nghiệp trong nước, đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ, hiệu quả sử dụng đất – năng lượng và tiêu chuẩn môi trường, ESG.

Ưu tiên các lĩnh vực có khả năng tạo lợi thế dài hạn, như: bán dẫn, điện tử thế hệ mới, thiết kế vi mạch, AI, công nghệ số, sản xuất thông minh, cơ khí chính xác, vật liệu mới, công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao và R&D; hạn chế các dự án thâm dụng lao động, đất đai, năng lượng, tài nguyên nhưng giá trị gia tăng thấp hoặc tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm.

Đổi mới xúc tiến đầu tư theo hướng có trọng điểm, dựa trên dữ liệu và chuỗi giá trị; xây dựng danh mục nhà đầu tư mục tiêu và chủ động chuẩn bị các điều kiện về đất đai, hạ tầng, năng lượng, logistics, nhân lực và nhà cung ứng để tiếp cận các tập đoàn chiến lược.

Thứ hai, gắn chính sách hỗ trợ FDI với kết quả và mức độ đóng góp.

Chuyển từ hỗ trợ chủ yếu dựa trên ưu đãi đầu vào sang cơ chế “cam kết – thực hiện – đánh giá – hỗ trợ”. Trong phạm vi pháp luật cho phép, ưu tiên hỗ trợ các dự án thực hiện tốt cam kết về R&D, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng trong nước, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Thiết lập cơ chế hậu kiểm, định kỳ đánh giá việc thực hiện cam kết; đối với dự án không đạt yêu cầu, thực hiện hỗ trợ khắc phục, tăng cường giám sát hoặc xử lý theo quy định. Qua đó, nguồn lực hỗ trợ của tỉnh được tập trung vào những dự án có đóng góp thực chất và khả năng tạo tác động lan tỏa cao.

Thứ ba, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và tăng liên kết FDI – doanh nghiệp trong nước.

Xây dựng Chương trình phát triển nhà cung ứng và liên kết FDI – doanh nghiệp trong nước, tập trung vào điện tử, bán dẫn, linh kiện, cơ khí chính xác, vật liệu mới và công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao.

Tỉnh cần xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp cung ứng; đánh giá và nâng cấp năng lực doanh nghiệp trong nước thông qua hỗ trợ về tiêu chuẩn quốc tế, quản trị chất lượng, công nghệ, chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ và tài chính. Đồng thời, tổ chức thường xuyên các chương trình kết nối cung – cầu, hội nghị nhà cung ứng và cơ chế kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam.

Mục tiêu là nâng dần tỷ lệ và giá trị mua hàng trong nước, hình thành mạng lưới nhà cung ứng nội địa có khả năng tham gia các công đoạn có giá trị gia tăng cao, qua đó, tăng khả năng hấp thụ và lan tỏa của FDI.

Thứ tư, thúc đẩy R&D, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Bắc Ninh cần chuyển từ “thu hút nhà máy công nghệ cao” sang “hình thành hệ sinh thái công nghệ cao”, khuyến khích các tập đoàn FDI đặt trung tâm R&D, thiết kế, phòng thí nghiệm, đổi mới sáng tạo và đào tạo tại tỉnh.

Đưa các tiêu chí về R&D, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ vào ngay từ khâu lựa chọn, thẩm định và đàm phán dự án. Đồng thời, thiết lập cơ chế kết nối doanh nghiệp FDI với trường đại học, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo để triển khai nghiên cứu chung, đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp, thực tập công nghệ cao và phát triển sản phẩm.

Tỉnh cần xây dựng chương trình đào tạo nhân lực gắn với nhu cầu của các ngành chiến lược, như: bán dẫn, điện tử, tự động hóa, AI, thiết kế vi mạch, cơ khí chính xác và công nghệ số; tăng đào tạo thực hành, đào tạo tại doanh nghiệp và phát triển đội ngũ kỹ thuật viên, kỹ sư, chuyên gia.

Thứ năm, nâng cao chất lượng hạ tầng và phát triển khu công nghiệp sinh thái – thông minh.

Chuyển trọng tâm từ cung cấp “mặt bằng sản xuất” sang xây dựng “hệ sinh thái đầu tư cạnh tranh”. Các khu công nghiệp cần từng bước phát triển theo mô hình sinh thái, thông minh, phát thải thấp, sử dụng hiệu quả năng lượng và nước, tăng sử dụng năng lượng sạch, tái chế chất thải và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, bảo đảm đồng bộ các điều kiện phục vụ FDI gồm năng lượng ổn định, hạ tầng số, logistics, xử lý môi trường, giao thông, nhà ở và dịch vụ xã hội cho người lao động.

Đẩy mạnh số hóa quản lý khu công nghiệp, kết nối dữ liệu về đất đai, hạ tầng, năng lượng, môi trường và dịch vụ doanh nghiệp; từng bước ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu để nâng cao hiệu quả vận hành và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của nhà đầu tư quốc tế.

Thứ sáu, quản trị toàn bộ vòng đời dự án FDI, cải cách thủ tục và giám sát dựa trên rủi ro.

Chuyển từ quản lý FDI chủ yếu ở khâu cấp phép sang quản trị toàn bộ vòng đời dự án, từ xúc tiến, lựa chọn, thẩm định, cấp phép đến triển khai, vận hành, mở rộng, giám sát cam kết, chuyển giao công nghệ và chấm dứt dự án.

Tiếp tục đơn giản hóa, số hóa và minh bạch hóa thủ tục đầu tư; công khai quy trình, thời hạn và trách nhiệm của từng cơ quan; giảm khâu trung gian và tình trạng cung cấp thông tin trùng lặp. Đối với các dự án lớn, công nghệ cao hoặc phức tạp, thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành với một đầu mối chịu trách nhiệm chính.

Xây dựng cơ sở dữ liệu FDI liên thông về dự án, vốn thực hiện, đất đai, lao động, thuế, xuất nhập khẩu, môi trường, công nghệ và R&D. Trên cơ sở đó, áp dụng quản lý rủi ro và thanh tra, kiểm tra theo dữ liệu, tập trung nguồn lực vào các doanh nghiệp có nguy cơ vi phạm cao; đồng thời, giảm kiểm tra không cần thiết đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt.

Thứ bảy, xây dựng hệ thống đánh giá FDI theo kết quả và bảo đảm phát triển bền vững.

Thiết lập bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả FDI theo kết quả đầu ra, thay cho việc chủ yếu theo dõi số dự án và vốn đăng ký. Các nhóm chỉ tiêu trọng tâm, gồm: vốn thực hiện, giá trị gia tăng, năng suất và chất lượng việc làm, đóng góp ngân sách, xuất khẩu, tỷ lệ nội địa hóa, mua hàng trong nước, R&D, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, hiệu quả sử dụng đất – năng lượng, giảm phát thải và mức độ tuân thủ pháp luật.

Trên cơ sở đánh giá định kỳ, phân loại dự án thành các nhóm: đóng góp cao để ưu tiên đồng hành và mở rộng; có tiềm năng nhưng chưa đạt cam kết để hỗ trợ khắc phục; hiệu quả thấp hoặc có rủi ro cao để tăng cường giám sát, điều chỉnh hoặc xử lý theo quy định. Đồng thời, mọi quyết định thu hút và mở rộng FDI cần được xem xét trong mối quan hệ với môi trường, sử dụng đất, năng lượng, hạ tầng, đời sống người lao động và an ninh kinh tế. Đối với dự án quy mô lớn, sử dụng nhiều tài nguyên hoặc công nghệ nhạy cảm, cần đánh giá đầy đủ rủi ro về môi trường, dữ liệu, hạ tầng trọng yếu và mức độ phụ thuộc vào một thị trường hoặc nhà đầu tư.

5. Kết luận

Thu hút và phát triển kinh tế FDI trong giai đoạn mới không đơn thuần là cuộc đua về quy mô vốn mà là cuộc đua về thể chế, môi trường đầu tư và chất lượng hệ sinh thái. Đối với tỉnh Bắc Ninh, việc chuyển dịch tư duy từ “thu hút vốn” sang “kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược” theo tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW là con đường bắt buộc để bứt phá qua bẫy thu nhập trung bình, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Khi FDI thực sự tích hợp, lan tỏa và “bắt rễ” sâu sắc vào nền kinh tế nội địa, Bắc Ninh sẽ không chỉ là một “công xưởng sản xuất” mà sẽ trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao hàng đầu của cả nước.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Kim Dung & Vũ Phường (23/6/2026). Bắc Ninh – Điểm đến đầu tư lý tưởng trong các khu công nghiệp. Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp. https://diendandoanhnghiep.vn/bac-ninh-diem-den-dau-tu-ly-tuong-trong-cac-khu-cong-nghiep-10180859.html
Minh Đăng (09/7/2026). 6 tháng đầu năm 2026, Bắc Ninh đứng thứ 6 cả nước về tăng trưởng kinh tế. Tạp chí Doanh nghiệp và tiếp thị. https://doanhnghieptiepthi.vn/trong-6-thang-dau-nam-2026-bac-ninh-dung-thu-6-ca-nuoc-ve-tang-truong-kinh-te-161260709173557331.htm
Quốc hội (2025). Luật Công nghệ cao năm 2025.
Sở Công Thương tỉnh Bắc Ninh (2025). Báo cáo số 79/BC-SCT ngày 03/10/2025 về kết quả phát triển kinh tế – xã hội ngành Công Thương năm 2025, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026 của Sở Công Thương tỉnh Bắc Ninh.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 02/6/2022 phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021 – 2030.
Trịnh Lan (24/7/2026). Bắc Ninh phát triển khu kinh tế chuyên biệt, công nghiệp công nghệ số. https://baobacninhtv.vn/bac-ninh-phat-trien-khu-kinh-te-chuyen-biet-cong-nghiep-cong-nghe-so-postid450873.bbg
Việt Hùng (20/6/2026). Bắc Ninh tăng sức hút với dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao. https://www.vietnamplus.vn/bac-ninh-tang-suc-hut-voi-dong-von-dau-tu-nuoc-ngoai-chat-luong-cao-post1119558.vnp