Tiếp cận và khai thác nguồn lực cho phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới

Accessing and leveraging resources for the development of Vietnamese enterprises in the new context

TS. Nguyễn Thị Anh Trâm
Trường Đại học Lao động – Xã hội
TS. Đỗ Thị Bích Ngọc
Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam
Email: tramnguyen@ulsa.edu.vn; ngocdtb@vimaru.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích khả năng tiếp cận và khai thác các nguồn lực chủ yếu cho phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới. Trên cơ sở dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2021 – 2025, bài viết xem xét nguồn lực tài chính, nhân lực và quản lý, đất đai – hạ tầng, thông tin và nguồn lực từ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Kết quả cho thấy, nhiều nguồn lực đã được mở rộng, nhưng vẫn tồn tại khoảng cách giữa sự sẵn có, khả năng tiếp cận và khả năng chuyển hóa nguồn lực thành năng lực phát triển của doanh nghiệp. Từ đó, bài viết đề xuất chuyển trọng tâm chính sách từ mở rộng nguồn cung sang cải thiện khả năng tiếp cận, nâng cao năng lực hấp thụ và tăng cường kết nối các nguồn lực.

Từ khóa: Doanh nghiệp; nguồn lực; tiếp cận nguồn lực; khai thác nguồn lực; Việt Nam.

Abstract: This article analyzes the ability of Vietnamese enterprises to access and leverage key resources for development in the new context. Based on secondary data for the period 2021–2025, the article examines financial resources, human resources and management capabilities, land and infrastructure, information and resources from the innovation ecosystem. The findings indicate that although the availability of many resources has expanded, gaps remain between resource availability, accessibility, and the ability of enterprises to transform resources into development capabilities. Accordingly, the article proposes shifting the focus of policy from expanding resource supply toward improving accessibility, strengthening absorptive capacity, and enhancing the connectivity of resources.

Keywords: Enterprises; resources; resource access; resource utilization; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Nguồn lực là điều kiện nền tảng đối với sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp. Trong bối cảnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và cạnh tranh ngày càng dựa trên tri thức, phạm vi nguồn lực không chỉ bao gồm vốn, lao động, đất đai và hạ tầng mà còn mở rộng sang năng lực quản lý, thông tin, công nghệ, tri thức và mạng lưới liên kết. Đồng thời, doanh nghiệp không nhất thiết phải sở hữu toàn bộ nguồn lực cần thiết mà có thể huy động từ thị trường và hệ sinh thái. Vì vậy, vấn đề quan trọng không chỉ là nguồn lực sẵn có mà còn là khả năng tiếp cận, kết hợp và chuyển hóa nguồn lực thành năng lực phát triển (Barney, 1991; Cohen & Levinthal, 1990; Teece, Pisano & Shuen, 1997).

Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng đáng chú ý khi khu vực doanh nghiệp tiếp tục mở rộng nhưng mức độ gia nhập và rút lui khỏi thị trường đều lớn. Giai đoạn 2021 – 2025, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng từ 159,9 nghìn lên 297,5 nghìn, trong khi số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng từ 119,8 nghìn lên 227,2 nghìn. Diễn biến này cho thấy, phát triển doanh nghiệp không chỉ gắn với gia tăng số lượng mà còn đặt ra yêu cầu duy trì các điều kiện nguồn lực cần thiết cho hoạt động và phát triển.

Trên thực tế, các nguồn lực phục vụ doanh nghiệp tại Việt Nam đã được mở rộng trên nhiều phương diện, song sự sẵn có không đồng nghĩa với khả năng tiếp cận và khai thác hiệu quả. Khoảng cách có thể xuất hiện từ khâu tiếp cận vốn, nhân lực, đất đai – hạ tầng và thông tin đến khả năng hấp thụ công nghệ, tri thức và kết nối với các chủ thể trong hệ sinh thái. Do đó, đánh giá nguồn lực cần vượt ra ngoài quy mô cung ứng để xem xét cả quá trình doanh nghiệp tiếp cận, kết hợp và chuyển hóa nguồn lực.

Các nghiên cứu hiện có thường tập trung vào từng nguồn lực hoặc rào cản riêng biệt, trong khi việc tích hợp nguồn lực hữu hình, nguồn lực phi vật chất và nguồn lực từ hệ sinh thái trong một khung phân tích thống nhất còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích thực trạng tiếp cận và khai thác các nguồn lực chủ yếu cho phát triển doanh nghiệp Việt Nam, nhận diện khoảng cách giữa sự sẵn có, tiếp cận và chuyển hóa nguồn lực, từ đó đề xuất một số hàm ý quản lý nhà nước trong bối cảnh mới.

2. Tổng quan và phương pháp nghiên cứu

Nguồn lực doanh nghiệp là nội dung quan trọng trong nghiên cứu về quản trị chiến lược và phát triển doanh nghiệp. Theo quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource-Based View – RBV), sự khác biệt về nguồn lực và năng lực là cơ sở tạo nên khác biệt về lợi thế cạnh tranh và kết quả hoạt động. Barney (1991) cho rằng, các nguồn lực có giá trị, khan hiếm, khó bắt chước và khó thay thế có thể tạo nền tảng cho lợi thế cạnh tranh bền vững. Tuy nhiên, sở hữu nguồn lực chưa bảo đảm doanh nghiệp có thể khai thác hiệu quả nguồn lực đó.

Cách tiếp cận năng lực động mở rộng quan điểm trên bằng việc nhấn mạnh khả năng tổ chức và chuyển hóa nguồn lực. Theo Teece & cộng sự (1997), doanh nghiệp cần có khả năng tích hợp và tái cấu hình các năng lực bên trong và bên ngoài để thích ứng với môi trường. Theo đó, năng lực quản lý vừa là một nguồn lực phi vật chất, vừa giữ vai trò tổ chức và phối hợp các nguồn lực khác.

Đối với nguồn lực từ bên ngoài, lý thuyết năng lực hấp thụ làm rõ khoảng cách giữa tiếp cận và khai thác. Cohen & Levinthal (1990) xác định năng lực hấp thụ là khả năng nhận biết giá trị, đồng hóa và ứng dụng thông tin mới từ bên ngoài. Zahra & George (2002) tiếp tục phân biệt năng lực hấp thụ tiềm năng và năng lực hấp thụ hiện thực, qua đó cho thấy tiếp nhận nguồn lực bên ngoài chưa đồng nghĩa với khả năng chuyển hóa và khai thác nguồn lực đó.

Phạm vi nguồn lực tiếp tục được mở rộng khi đặt doanh nghiệp trong hệ sinh thái kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Stam (2015) nhấn mạnh sự tương tác giữa các chủ thể và những điều kiện phụ thuộc lẫn nhau trong hệ sinh thái. Theo đó, doanh nghiệp có thể huy động vốn, tri thức, công nghệ, nhân lực và thông tin từ các nhà đầu tư, tổ chức tài chính, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức hỗ trợ. Vì vậy, khả năng kết nối với môi trường bên ngoài trở thành một yếu tố quan trọng trong huy động và khai thác nguồn lực.

Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng củng cố cách tiếp cận này. Trên mẫu 2.929 doanh nghiệp nhỏ và vừa, Le & Scaringella (2025) cho thấy, mạng lưới xã hội và năng lực hấp thụ hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tri thức bên ngoài và hình thành đổi mới trong điều kiện hạn chế nguồn lực. Vuong et al. (2026), với 439 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cho thấy, vốn xã hội và hỗ trợ của Nhà nước có liên quan đến các năng lực bên trong như năng lực hấp thụ, chuyển đổi số và đổi mới xanh, qua đó tác động đến kết quả phát triển bền vững. Những kết quả này cho thấy, nguồn lực bên ngoài chỉ thực sự tạo giá trị khi doanh nghiệp có khả năng tiếp nhận, kết nối và chuyển hóa chúng.

Nhìn chung, các nghiên cứu đã chuyển từ việc nhấn mạnh sở hữu nguồn lực sang khả năng tổ chức, hấp thụ, tái cấu hình và huy động nguồn lực từ bên ngoài. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm thường xem xét một hoặc một số nguồn lực cụ thể, trong khi việc tích hợp nguồn lực hữu hình, nguồn lực phi vật chất và nguồn lực từ hệ sinh thái trong một chuỗi phân tích thống nhất còn hạn chế, đặc biệt từ góc độ quản lý nhà nước đối với phát triển doanh nghiệp Việt Nam.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích ba nhóm nguồn lực: (1) Nguồn lực hữu hình và cơ bản, gồm tài chính, lao động, đất đai và hạ tầng; (2) Nguồn lực phi vật chất, gồm năng lực quản lý, thông tin và tri thức; (3) Nguồn lực từ hệ sinh thái, gồm vốn đầu tư, công nghệ, đổi mới sáng tạo và các mạng lưới hỗ trợ. Các nguồn lực được xem xét theo chuỗi: sự sẵn có → khả năng tiếp cận → khả năng hấp thụ và kết hợp → khai thác/chuyển hóa → phát triển doanh nghiệp. Khung phân tích này là cơ sở để nhận diện khoảng cách giữa nguồn lực được hình thành và khả năng doanh nghiệp thực sự đưa nguồn lực vào hoạt động.

Bài viết sử dụng dữ liệu thứ cấp, chủ yếu trong giai đoạn 2021 – 2025, từ cơ quan thống kê, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các cơ quan quản lý nhà nước và một số tổ chức quốc tế. Đối với những chỉ tiêu chưa có chuỗi dữ liệu hằng năm, nghiên cứu sử dụng số liệu gần nhất có thể tiếp cận và ghi rõ thời điểm thống kê.

Dữ liệu được hệ thống hóa theo khung phân tích xác lập từ tổng quan nghiên cứu, tập trung vào ba nhóm nguồn lực và các cấp độ từ sự sẵn có, khả năng tiếp cận đến khai thác, chuyển hóa. Phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh được sử dụng để nhận diện quy mô, xu hướng và những khoảng cách trong quá trình đưa nguồn lực vào hoạt động của doanh nghiệp. Do dữ liệu được tổng hợp từ các nguồn có phạm vi và phương pháp thu thập khác nhau, nghiên cứu không suy luận quan hệ nhân quả mà tập trung nhận diện các điểm nghẽn trong tiếp cận và khai thác nguồn lực.
3. Thực trạng tiếp cận và khai thác nguồn lực cho phát triển doanh nghiệp Việt Nam

Theo khung phân tích đã xác lập, sự hiện diện của nguồn lực mới phản ánh điều kiện ban đầu cho phát triển doanh nghiệp; giá trị của nguồn lực còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận, kết hợp và chuyển hóa thành năng lực hoạt động (Barney, 1991; Teece, & cộng sự, 1997). Trên cơ sở đó, phần này xem xét trước hết biến động của khu vực doanh nghiệp, sau đó, phân tích các nhóm nguồn lực chủ yếu gồm tài chính, nhân lực và quản lý, đất đai – hạ tầng, thông tin và nguồn lực từ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

3.1. Biến động doanh nghiệp gia nhập và rút lui khỏi thị trường

Giai đoạn 2021 – 2025, khu vực doanh nghiệp Việt Nam ghi nhận biến động đáng kể về số doanh nghiệp gia nhập và rút lui khỏi thị trường.

Bảng 1. Tình hình gia nhập và rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025

Chỉ tiêu (nghìn doanh nghiệp)20212022202320242025
Số doanh nghiệp thành lập mới116,8148,5159,3157,2195,1
Số  doanh nghiệp quay trở lại hoạt động43,159,858,476,2102,3
Số  doanh nghiệp thành lập mới và quay lại159,9208,3217,7233,4297,5
Số  doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường119,8143,2172,6197,9227,2
Chênh lệch số  doanh nghiệp gia nhập – rút lui40,165,145,135,570,3
Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Thống kê (2022, 2023, 2024, 2025) và Cục Thống kê (2026).

Giai đoạn 2021 – 2025, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng từ 159,9 nghìn lên 297,5 nghìn, trong khi số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng tăng từ 119,8 nghìn lên 227,2 nghìn. Chênh lệch giữa hai nhóm vẫn dương nhưng biến động qua các năm. Điều này cho thấy sự mở rộng của khu vực doanh nghiệp diễn ra đồng thời với mức độ gia nhập và rút lui lớn. Tuy nhiên, số liệu đăng ký doanh nghiệp không cho phép xác định trực tiếp nguyên nhân của biến động mà chủ yếu tạo cơ sở để tiếp tục xem xét các điều kiện nguồn lực doanh nghiệp có thể huy động và duy trì trong quá trình hoạt động.

3.2. Quy mô và cơ cấu nguồn lực tài chính của doanh nghiệp

Quy mô nguồn vốn của các doanh nghiệp đang hoạt động phản ánh mức độ hiện diện của nguồn lực tài chính trong khu vực doanh nghiệp.

Bảng 2. Quy mô và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam năm 2025

Chỉ tiêuNguồn vốn (triệu tỷ đồng)Tỷ trọng (%)Tăng so với 2020 (%)
Tổng số82,8100,069,9
Doanh nghiệp ngoài nhà nước49,059,269,4
Doanh nghiệp nhà nước16,720,259,6
Doanh nghiệp FDI17,120,783,1
Nhóm tác giả tổng hợp và tính toán.

Năm 2025, tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp đang hoạt động đạt 82,8 triệu tỷ đồng, tăng 69,9% so với năm 2020, trong đó doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với 59,2%. Nguồn vốn tăng ở cả ba khu vực cho thấy, quy mô nguồn lực tài chính của khu vực doanh nghiệp đã được mở rộng. Tuy nhiên, số liệu tổng nguồn vốn mới phản ánh nguồn lực tài chính đã được huy động ở cấp độ khu vực doanh nghiệp, chưa phản ánh trực tiếp khả năng tiếp cận vốn của từng doanh nghiệp. Vì vậy, sự gia tăng về quy mô vốn không đồng nghĩa với khả năng tiếp cận và chuyển hóa nguồn lực tài chính đồng đều giữa các doanh nghiệp, phù hợp với lập luận rằng, sự hiện diện của nguồn lực chưa đủ để bảo đảm khả năng tạo giá trị (Barney, 1991).

3.3. Quy mô và khả năng tiếp cận nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực được xem xét trên cả phương diện quy mô và khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.

Bảng 3. Một số chỉ tiêu về quy mô và khả năng tiếp cận nguồn nhân lực của doanh nghiệp, 2024 – 2025

Chỉ tiêuThời điểmKết quả
Doanh nghiệp đang hoạt động2025859.048 doanh nghiệp
Lao động trong khu vực doanh nghiệp202517,6 triệu người
Lao động bình quân/ doanh nghiệp2025≈20,5 người/ doanh nghiệp
Chất lượng lao động đáp ứng hoàn toàn/phần lớn nhu cầu doanh nghiệp202454%
Thuận lợi trong tuyển lao động phổ thông202463%
Thuận lợi trong tuyển cán bộ kỹ thuật202437%
Thuận lợi trong tuyển cán bộ quản lý, giám sát202430%
Nhóm tác giả đề xuất.

Năm 2025, khu vực doanh nghiệp sử dụng khoảng 17,6 triệu lao động, tương đương bình quân 20,5 lao động/doanh nghiệp. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận lao động có sự khác biệt đáng kể theo trình độ: mức độ thuận lợi trong tuyển dụng đạt 63% đối với lao động phổ thông nhưng chỉ 37% đối với cán bộ kỹ thuật và 30% đối với cán bộ quản lý, giám sát. Điều này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở quy mô mà còn ở sự phù hợp giữa chất lượng, cơ cấu nhân lực và nhu cầu doanh nghiệp. Đặc biệt, hạn chế về nhân lực kỹ thuật và quản lý có thể ảnh hưởng đến khả năng tổ chức, kết hợp và khai thác các nguồn lực khác của doanh nghiệp (Teece & cộng sự, 1997).

3.4. Quy mô và mức độ khai thác nguồn lực đất đai – hạ tầng công nghiệp

Nguồn lực đất đai – hạ tầng công nghiệp được xem xét qua quy mô hình thành và mức độ đưa vào khai thác.

Bảng 4. Một số chỉ tiêu về đất đai và hạ tầng khu công nghiệp tại Việt Nam, giữa năm 2024

Chỉ tiêuQuy mô
Tổng số khu công nghiệp425
Tổng diện tích tự nhiên≈130,7 nghìn ha
Đất công nghiệp có khả năng cho thuê≈89,2 nghìn ha
Khu công nghiệp đang hoạt động299
Khu công nghiệp đang xây dựng126
Diện tích đất công nghiệp đã cho thuê≈51,3 nghìn ha
Đất đã cho thuê/tổng đất có khả năng cho thuê≈57,5%
Nguồn: Tổng hợp từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024), Công văn số 4620/BKHĐT-QLKKT ngày 14/6/2024.

Đến giữa năm 2024, Việt Nam có 425 khu công nghiệp đã được thành lập, trong đó 299 khu đã đi vào hoạt động. Diện tích đất công nghiệp đã cho thuê đạt khoảng 51,3 nghìn ha, tương đương 57,5% tổng diện tích đất công nghiệp có khả năng cho thuê của các khu công nghiệp đã được thành lập. Số liệu cho thấy, nguồn lực đất đai – hạ tầng đã được hình thành với quy mô đáng kể nhưng vẫn tồn tại khoảng cách giữa nguồn lực được tạo lập và mức độ đưa vào khai thác. Vì vậy, vấn đề không chỉ là mở rộng quỹ đất mà còn là tiến độ hoàn thiện hạ tầng, khả năng kết nối và mức độ phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp. Tỷ lệ 57,5% ở đây không được hiểu là tỷ lệ lấp đầy của riêng các khu công nghiệp đang hoạt động.

3.5. Khả năng tiếp cận và khai thác nguồn lực thông tin

Nguồn lực thông tin được xem xét qua khả năng tiếp cận, tính hữu ích, kịp thời và khả năng hỗ trợ doanh nghiệp dự liệu môi trường kinh doanh.

Bảng 5. Một số chỉ tiêu về khả năng tiếp cận, chất lượng và tính dự báo của thông tin đối với doanh nghiệp năm 2025

Chỉ tiêuKết quả 2025
Khả năng tiếp cận tài liệu quy hoạch (1–5 điểm)3,00
Khả năng tiếp cận tài liệu pháp lý (1–5 điểm)3,00
Mức độ hữu ích của thông tin trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh (1–5 điểm)2,50
Cần có “mối quan hệ” để tiếp cận thông tin hoặc giải quyết công việc thuận lợi (%)32,97
Mức độ kịp thời doanh nghiệp nhận được thông tin dự thảo chính sách (1–5 điểm)3,00
Doanh nghiệp nhận được phản hồi và giải quyết thỏa đáng sau khi gửi kiến nghị, phản ánh (%)50,00
Hiệp hội doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong xây dựng chính sách (%)59,17
Có thể dự liệu việc thực thi của tỉnh đối với quy định pháp luật của Trung ương (%)41,39
Có thể dự liệu thay đổi quy định pháp luật của tỉnh (%)46,50
Nguồn: VCCI (2026), Báo cáo thường niên Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025.
Ghi chú: Các giá trị trình bày là giá trị trung vị giữa các địa phương.

Các chỉ tiêu năm 2025 cho thấy, khoảng cách giữa khả năng tiếp cận và giá trị sử dụng của nguồn lực thông tin. Trong khi khả năng tiếp cận tài liệu quy hoạch và pháp lý cùng đạt 3,00/5 điểm, mức độ hữu ích của thông tin trên cổng thông tin điện tử địa phương chỉ đạt 2,50/5 điểm; các chỉ tiêu về khả năng dự liệu việc thực thi và thay đổi quy định pháp luật cũng đều dưới 50%. Điều này cho thấy công khai và tiếp cận thông tin chưa đồng nghĩa với khả năng khai thác hiệu quả. Theo Cohen & Levinthal (1990) và Zahra & George (2002), giá trị của nguồn lực bên ngoài còn phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận, đồng hóa và chuyển hóa. Vì vậy, bên cạnh tăng tính công khai, thông tin cần bảo đảm tính hữu ích, kịp thời và khả năng dự báo để hỗ trợ quyết định của doanh nghiệp.

3.6. Khả năng huy động và kết nối nguồn lực từ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Nguồn lực từ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được xem xét qua khả năng huy động và kết nối vốn, tri thức, công nghệ, nhân lực và mạng lưới.

Bảng 6. Một số chỉ tiêu phản ánh khả năng huy động và kết nối nguồn lực trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam, năm 2025

Chỉ tiêuGiá trị/điểmXếp hạng
Tài chính cho startup và doanh nghiệp tăng trưởng47,650
Số thương vụ VC nhận được/GDP PPP0,0672
Số nhà đầu tư VC/GDP PPP0,1060
Hợp tác R&D giữa đại học và doanh nghiệp54,931
Mức độ phát triển các cụm liên kết75,725
R&D do khu vực doanh nghiệp tài trợ64,1%8
Lao động thâm dụng tri thức10,6%100
Nguồn: WIPO (2025), Global Innovation Index 2025 – Viet Nam.

Các chỉ tiêu GII 2025 cho thấy sự phát triển không đồng đều giữa các thành tố của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam. Một số chỉ tiêu đạt thứ hạng tương đối cao như R&D do khu vực doanh nghiệp tài trợ (thứ 8), mức độ phát triển các cụm liên kết (thứ 25) và hợp tác R&D giữa đại học với doanh nghiệp (thứ 31). Ngược lại, số thương vụ đầu tư mạo hiểm nhận được/GDP PPP xếp thứ 72 và lao động thâm dụng tri thức xếp thứ 100. Sự chênh lệch này cho thấy sự hiện diện của các thành tố trong hệ sinh thái chưa đồng nghĩa với khả năng huy động và kết nối đồng đều các nguồn lực. Kết quả phù hợp với quan điểm của Stam (2015) về vai trò của tương tác giữa các chủ thể và với các nghiên cứu tại Việt Nam nhấn mạnh vai trò của mạng lưới, hỗ trợ và năng lực hấp thụ trong chuyển hóa nguồn lực bên ngoài (Le & Scaringella, 2025; Vuong et al., 2026).

4. Hàm ý đối với quản lý nhà nước

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nguồn lực phục vụ phát triển doanh nghiệp Việt Nam đã được mở rộng, nhưng vẫn tồn tại khoảng cách giữa sự sẵn có, khả năng tiếp cận và khả năng chuyển hóa thành năng lực phát triển. Những hạn chế về nhân lực kỹ thuật và quản lý, khai thác hạ tầng, chất lượng thông tin và sự phát triển chưa đồng đều của hệ sinh thái cho thấy quy mô nguồn lực mới là điều kiện cần. Kết quả này phù hợp với quan điểm của Barney (1991); Teece & cộng sự (1997); Cohen & Levinthal (1990); Zahra & George (2002), theo đó, giá trị của nguồn lực còn phụ thuộc vào khả năng tổ chức, hấp thụ, kết hợp và khai thác của doanh nghiệp.

Thứ nhất, quản lý nhà nước cần chuyển trọng tâm từ mở rộng nguồn cung sang cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng nguồn lực. Đối với tài chính, cần đa dạng hóa kênh huy động và tăng khả năng kết nối doanh nghiệp với nguồn vốn phù hợp. Đối với đất đai – hạ tầng, cần chú trọng mức độ sẵn sàng, tính đồng bộ và khả năng kết nối thay vì chỉ mở rộng quy mô. Đối với thông tin, yêu cầu không chỉ là công khai mà còn phải bảo đảm tính hữu ích, kịp thời và khả năng dự báo để hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định.

Thứ hai, nâng cao năng lực quản lý và năng lực hấp thụ của doanh nghiệp. Khó khăn trong tiếp cận nhân lực kỹ thuật, quản lý và khai thác thông tin cho thấy doanh nghiệp không chỉ cần thêm nguồn lực mà còn cần khả năng tiếp nhận và chuyển hóa nguồn lực. Chính sách hỗ trợ vì vậy cần gắn với phát triển năng lực quản trị, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo, đồng thời, tăng cường liên kết doanh nghiệp với cơ sở giáo dục, đào tạo nghề và tổ chức nghiên cứu.

Thứ ba, cần chuyển từ hỗ trợ từng nguồn lực riêng lẻ sang tăng cường kết nối trong hệ sinh thái. Kết quả GII 2025 cho thấy, các thành tố của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam phát triển chưa đồng đều, đặt ra yêu cầu tăng liên kết giữa doanh nghiệp với tổ chức tài chính, quỹ đầu tư, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức hỗ trợ. Theo Stam (2015), giá trị của hệ sinh thái phụ thuộc vào sự tương tác giữa các chủ thể; vì vậy, các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế theo hướng tích hợp, giúp doanh nghiệp kết nối vốn, công nghệ, tri thức và nhân lực.

Nhìn chung, quản lý nhà nước đối với nguồn lực phát triển doanh nghiệp cần chuyển từ cách tiếp cận theo từng nguồn lực riêng lẻ sang quá trình chuyển hóa nguồn lực. Hiệu quả chính sách vì vậy không chỉ được xem xét qua quy mô nguồn lực được tạo lập mà còn qua khả năng doanh nghiệp thực sự tiếp cận, hấp thụ, kết hợp và đưa nguồn lực vào hoạt động.

5. Kết luận

Bài viết cho thấy, các nguồn lực phục vụ phát triển doanh nghiệp Việt Nam đã được mở rộng, nhưng sự sẵn có chưa đồng nghĩa với khả năng tiếp cận và khai thác hiệu quả. Khoảng cách giữa nguồn lực được hình thành và khả năng chuyển hóa thành năng lực phát triển cho thấy vấn đề nguồn lực cần được xem xét theo quá trình từ sẵn có, tiếp cận đến hấp thụ, kết hợp và khai thác.

Trong bối cảnh mới, quản lý nhà nước cần chuyển trọng tâm từ chủ yếu mở rộng nguồn cung sang cải thiện khả năng tiếp cận, nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp và tăng cường kết nối trong hệ sinh thái. Qua đó, các nguồn lực hiện có có thể được huy động và chuyển hóa hiệu quả hơn thành năng lực thích ứng, đổi mới và phát triển của doanh nghiệp Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Công văn số 4620/BKHĐT-QLKKT ngày 14/6/2024 về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khu công nghiệp.
Cohen, W. M. & Levinthal, D. A. (1990). Absorptive capacity: A new perspective on learning and innovation. Administrative Science Quarterly, 35(1), 128–152. https://doi.org/10.2307/2393553.
Cục Thống kê (2026a). Kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026.
Cục Thống kê (2026b). Thông cáo báo chí tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025. Hà Nội.
Le, S. T. K. & Scaringella, L. (2025). Scarcity, absorptive capacity, and social networking-Antecedents of self-constructed innovation in Vietnamese SMEs? International Journal of Innovation Studies, 9(4), 366–382. https://doi.org/10.1016/j.ijis.2025.07.001.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2025). Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Việt Nam PCI 2024.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2026). Báo cáo thường niên Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025. Hà Nội.
Stam, E. (2015). Entrepreneurial ecosystems and regional policy: A sympathetic critique. European Planning Studies, 23(9), 1759-1769. https://doi.org/10.1080/09654313.2015.1061484.
Teece, D. J., Pisano, G. & Shuen, A. (1997). Dynamic capabilities and strategic management. Strategic Management Journal, 18(7), 509-533. https://doi.org/10.1002/(SICI)1097-0266(199708)18:7<509::AID-SMJ882>3.0.CO;2-Z.
Tổng cục Thống kê (2022). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2021.
Tổng cục Thống kê (2023). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2022.
Tổng cục Thống kê (2024). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2023.
Tổng cục Thống kê (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2024.
Vuong, L. T., Vo, H. T., Dinh, N. T. T., Nguyen, P. V. & Ahmed, Z. U. (2026). The role of social capital and government support in achieving sustainable performance: Evidence from Vietnamese SMEs. Journal of Asia Business Studies, 20(4), 1052–1073. https://doi.org/10.1108/JABS-12-2025-0778.
World Intellectual Property Organization (WIPO) (2025). Global Innovation Index 2025: Innovation at a Crossroads. Geneva: WIPO.
Zahra, S. A. & George, G. (2002). Absorptive capacity: A review, reconceptualization, and extension. Academy of Management Review, 27(2), 185-203. https://doi.org/10.5465/AMR.2002.6587995.