Leadership in developing civil servants’ digital competence at the Ho Chi Minh City Tax Department
TS. Nguyễn Thị Trang
Học viện Hành chính và Quản trị công
ThS. Vũ Ninh Thơ, Lý Thắng Dũng, Cao Viết Tú
Thuế TP. Hồ Chí Minh
Email tác giả liên hệ: vuninhtho@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài báo nghiên cứu hoạt động lãnh đạo phát triển năng lực số của công chức tại Thuế TP. Hồ Chí Minh, làm rõ cơ sở lý luận, nội dung và yêu cầu lãnh đạo trong quá trình hiện đại hóa quản lý thuế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích công tác lãnh đạo, chỉ đạo và những kết quả phát triển năng lực số của công chức; đồng thời, nhận diện các hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo, phát triển năng lực số theo vị trí việc làm, gắn đào tạo với thực tiễn công vụ và hoàn thiện cơ chế đánh giá, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế và chất lượng phục vụ người nộp thuế.
Từ khóa: Lãnh đạo phát triển; năng lực số; công chức; ngành Thuế; Thuế TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: This research paper examines leadership practices in developing the digital competencies of civil servants at the Ho Chi Minh City Tax Department, clarifying the theoretical foundation, content, and leadership requirements in the process of modernizing tax administration. Based on this, the paper analyzes leadership and guidance efforts, as well as the outcomes of developing civil servants’ digital competencies; it also identifies limitations, shortcomings, and their underlying causes in the implementation process. Based on this analysis, the paper proposes several solutions to innovate leadership approaches, develop digital competencies according to job positions, align training with practical civil service work, and improve the evaluation mechanism, with the aim of enhancing the effectiveness of tax administration and the quality of service provided to taxpayers.
Keywords: Leadership development; digital competencies; civil servants; tax sector; Ho Chi Minh City Tax Department.
1. Đặt Vấn đề
Về lý luận, năng lực số được hiểu là khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ để sử dụng công nghệ, khai thác dữ liệu, tương tác và giải quyết công việc hiệu quả trong môi trường số. Khác với kỹ năng số chủ yếu phản ánh khả năng sử dụng công cụ công nghệ, năng lực số bao hàm cả tư duy, khả năng thích ứng và trách nhiệm trong quá trình ứng dụng công nghệ vào thực tiễn. Theo OECD, phát triển năng lực số của nhân sự khu vực công cần gắn kết giữa môi trường làm việc, kỹ năng và chiến lược phát triển đội ngũ, nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi từ chính phủ điện tử sang chính phủ số. Điều này cho thấy, năng lực số không chỉ là thuộc tính cá nhân mà còn chịu tác động của môi trường tổ chức và phương thức quản trị nguồn nhân lực (OECD, 2021).
Lãnh đạo phát triển năng lực số của công chức ngành Thuế là quá trình các chủ thể lãnh đạo xác lập mục tiêu, định hướng hoạt động, tổ chức nguồn lực, tạo động lực và kiểm tra, đánh giá nhằm thúc đẩy sự phát triển năng lực số đáp ứng yêu cầu thực thi công vụ. Trong đó, cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện vai trò định hướng, lãnh đạo xây dựng đội ngũ và kiểm tra, giám sát; lãnh đạo hành chính cơ quan thuế chịu trách nhiệm quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện theo thẩm quyền.
Hai chủ thể có phương thức tác động khác nhau nhưng cần thống nhất về mục tiêu phát triển đội ngũ, cụ thể:
Thứ nhất, lãnh đạo định hướng và xác lập mục tiêu phát triển năng lực số nhằm chuyển hóa yêu cầu chuyển đổi số thành những nhiệm vụ cụ thể đối với công chức. Mục tiêu cần gắn với chiến lược phát triển ngành, yêu cầu vị trí việc làm và kết quả thực thi công vụ. Đây là cơ sở để xác định nội dung ưu tiên, tránh tình trạng phát triển năng lực số thiếu trọng tâm hoặc đồng nhất với đào tạo công nghệ thông tin.
Thứ hai, cùng với định hướng mục tiêu, lãnh đạo tổ chức thực hiện, phân công trách nhiệm và điều phối nguồn lực giữ vai trò bảo đảm các chương trình phát triển năng lực được triển khai đồng bộ. Sự phối hợp giữa bộ phận tổ chức cán bộ, đơn vị nghiệp vụ và bộ phận công nghệ giúp gắn kết yêu cầu chuyên môn với điều kiện thực hiện, đồng thời hạn chế sự phân tán trong quản lý nguồn nhân lực số.
Thứ ba, lãnh đạo đổi mới đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm. Thay vì tổ chức bồi dưỡng đồng loạt, cần xác định khoảng cách giữa năng lực hiện có và yêu cầu công việc để thiết kế nội dung phù hợp. Đây là cách tiếp cận tương thích với nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng công chức gắn với vị trí việc làm và yêu cầu quản lý, sử dụng công chức được quy định tại Nghị định số 171/2025/NĐ-CP quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức.
Thứ tư, lãnh đạo giúp tạo dựng môi trường và động lực phát triển năng lực số, duy trì khả năng học tập, thích ứng và đổi mới. Việc khuyến khích thực hành, chia sẻ tri thức, hỗ trợ đồng nghiệp và phát huy sáng kiến giúp công chức chuyển kiến thức được bồi dưỡng thành năng lực thực tế. Môi trường làm việc thuận lợi còn góp phần khắc phục tâm lý ngại thay đổi khi công nghệ và quy trình nghiệp vụ được điều chỉnh.
Thứ năm, lãnh đạo kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả là điều kiện bảo đảm phát triển năng lực số hướng tới hiệu quả thực chất. Đánh giá không chỉ dựa vào số lượt đào tạo hoặc chứng chỉ mà cần xem xét khả năng vận dụng công nghệ, chất lượng xử lý nghiệp vụ và sự tiến bộ của công chức. Kết quả đánh giá phải trở thành căn cứ điều chỉnh mục tiêu, chương trình bồi dưỡng và phương thức tổ chức thực hiện.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị quốc gia, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và phát triển nguồn nhân lực. Định hướng này đặt ra yêu cầu chuyển phát triển năng lực số thành nhiệm vụ thường xuyên trong xây dựng đội ngũ công chức. Cùng với đó, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và Nghị định số 171/2025/NĐ-CP tạo cơ sở pháp lý cho đổi mới quản lý, đào tạo và bồi dưỡng công chức gắn với yêu cầu vị trí việc làm của công chức nói chung và công chức ngành thuế nói riêng.
Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 (được phê duyệt theo Quyết định số 508/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) đã định hướng xây dựng ngành Thuế hiện đại, chuyên nghiệp, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và phương thức quản lý dựa trên dữ liệu. Sự phát triển của dịch vụ thuế điện tử, hóa đơn điện tử, phân tích rủi ro và công nghệ mới đòi hỏi công chức có khả năng kết hợp nghiệp vụ với khai thác dữ liệu và sử dụng công cụ số. Vì vậy, lãnh đạo phát triển năng lực số phải hướng tới nâng cao khả năng thực thi nhiệm vụ, thay vì chỉ đáp ứng yêu cầu sử dụng phần mềm. Đồng thời, việc sắp xếp hệ thống cơ quan thuế từ ngày 01/7/2025 đã làm thay đổi mô hình và địa bàn quản lý, đặt ra yêu cầu bảo đảm tính thống nhất trong lãnh đạo và phát triển đội ngũ. Đối với Thuế Thành phố Hồ Chí Minh, mô hình gồm 29 Thuế cơ sở đòi hỏi việc xác định nhu cầu, tổ chức bồi dưỡng và đánh giá năng lực số phải phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ của từng đơn vị (Chính phủ, 16/7/2025).
2. Thực trạng công tác lãnh đạo phát triển năng lực số của công chức tại Thuế TP. Hồ Chí Minh
2.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển năng lực số của công chức
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển năng lực số của công chức tại Thuế TP. Hồ Chí Minh được đặt trong quá trình thực hiện chủ trương chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa ngành Thuế và đổi mới tổ chức bộ máy. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định yêu cầu đổi mới tư duy lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng tiến trình chuyển đổi số. Đối với ngành Thuế, Quyết định số 508/QĐ-TTg ngày 23/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 xác lập định hướng xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại, chuyên nghiệp, dựa trên nền tảng công nghệ và dữ liệu. Những định hướng này đã từng bước tạo cơ sở chính trị, pháp lý để các cấp lãnh đạo ngành Thuế gắn nhiệm vụ phát triển đội ngũ công chức với yêu cầu đổi mới phương thức quản lý và thực thi công vụ trên môi trường số.
Việc cụ thể hóa định hướng chuyển đổi số tại Thuế TP. Hồ Chí Minh diễn ra đồng thời với sự thay đổi về quy mô và tổ chức quản lý. Từ ngày 01/7/2025, đơn vị được tổ chức với 29 Thuế cơ sở theo Quyết định số 1378/QĐ-CT ngày 30/6/2025 của Cục Thuế. Mô hình tổ chức mới đặt ra yêu cầu tăng cường tính thống nhất trong lãnh đạo, điều phối nghiệp vụ và phát triển năng lực thực thi công vụ giữa các đơn vị trực thuộc. Xét từ góc độ quản trị nguồn nhân lực, việc thay đổi phạm vi quản lý không chỉ làm phát sinh yêu cầu thích ứng về tổ chức mà còn đòi hỏi công tác lãnh đạo chú trọng khả năng sử dụng hệ thống nghiệp vụ, khai thác dữ liệu và phối hợp xử lý công việc của đội ngũ công chức.
Trong hoạt động chỉ đạo thực tiễn, lãnh đạo Thuế TP. Hồ Chí Minh đã xác định chuyển đổi số toàn diện là định hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ người nộp thuế. Tính đến ngày 22/12/2025, Thuế TP. Hồ Chí Minh đang quản lý 436.612 doanh nghiệp và 365.323 hộ kinh doanh, với đội ngũ khoảng 5.000 công chức. Yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ này là cần ứng dụng công nghệ để xử lý khối lượng công việc lớn, giảm các thao tác thủ công và nâng cao hiệu quả hoạt động. Quy mô quản lý này cũng cho thấy sự cần thiết phải kết hợp đổi mới công nghệ với phát triển khả năng vận dụng công nghệ của công chức (Anh Tuấn, 22/12/2025).
Trong quá trình triển khai chuyển đổi số, Thuế TP. Hồ Chí Minh đã ký kết hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ, trong đó có FPT và VNPAY, nhằm phát triển các giải pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tự động hóa nghiệp vụ, phân tích rủi ro và hỗ trợ người nộp thuế. Theo nội dung hợp tác được công bố, FPT dự kiến phối hợp tư vấn, thiết kế lộ trình đào tạo chuyên sâu cho công chức thuế về sử dụng công cụ số, ứng dụng AI, bảo vệ và đánh giá dữ liệu hợp pháp; đồng thời, hỗ trợ chuyên môn theo yêu cầu nghiệp vụ của từng đơn vị. Điều này cho thấy, nội dung phát triển năng lực của công chức đã được đặt trong định hướng hợp tác công nghệ, thay vì chỉ tập trung đầu tư hệ thống kỹ thuật (Anh Tuấn 22/12/2025).
Ở phương diện lãnh đạo tổ chức thực hiện, yêu cầu gắn công nghệ với phát triển đội ngũ tiếp tục được lãnh đạo Thuế Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo đẩy nhanh việc làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế, triển khai hệ thống công nghệ thông tin mới, tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý thuế và chú trọng đào tạo, bồi dưỡng công chức. Những nhiệm vụ này thể hiện sự gắn kết giữa yêu cầu hiện đại hóa phương thức quản lý với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Về cơ chế tác động, sự gắn kết đó còn tạo điều kiện để xác định nội dung bồi dưỡng xuất phát từ yêu cầu nghiệp vụ, nhất là khai thác dữ liệu, quản lý rủi ro và sử dụng công nghệ trong xử lý công việc (Huy Hùng, 01/7/2026).
Cùng với đó, lãnh đạo ngành Thuế của TP. Hồ Chí Minh thời gian qua đã chủ động yêu cầu các phòng chức năng và đơn vị thuế cơ sở triển khai đồng bộ những nhiệm vụ trọng tâm, tăng cường quản lý rủi ro, cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ để nâng cao chất lượng phục vụ. Đại diện các đơn vị cũng trình bày chuyên đề về cải cách thủ tục, hỗ trợ người nộp thuế, ứng dụng AI và quản trị dữ liệu. Đây là những hoạt động chỉ đạo và trao đổi nghiệp vụ được thực hiện tích cực, phản ánh phương thức triển khai từ cấp lãnh đạo đến các đơn vị chuyên môn (Huy Hùng, 01/7/2026).
Ngoài ra, hoạt động lãnh đạo hướng tới đổi mới quản lý và đánh giá công chức theo kết quả thực hiện nhiệm vụ cũng được chỉ đạo thực hiện nghiêm túc. Ngày 29/6/2026, Cục Thuế đã tổ chức hội nghị tập huấn về đánh giá, xếp loại công chức theo bộ tiêu chí mới, kết nối trực tuyến tới 34 điểm cầu Thuế tỉnh, thành phố. Nội dung tập trung vào phương pháp đánh giá, quy trình thực hiện, trách nhiệm của các đơn vị và xử lý tình huống phát sinh. Đại diện Thuế TP. Hồ Chí Minh đã tham gia chia sẻ kinh nghiệm triển khai thực tế. Hoạt động này chứng minh, đơn vị có tham gia quá trình trao đổi, thống nhất phương thức đánh giá công chức trong toàn ngành (Thùy Linh, 30/6/2026).
Về yêu cầu kiểm tra, giám sát, hoạt động sơ kết sáu tháng đầu năm 2026 và việc triển khai nhiệm vụ sáu tháng cuối năm đã đánh giá cơ chế theo dõi, đánh giá và điều chỉnh hoạt động quản lý theo định kỳ. Việc kết hợp đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ với chỉ đạo ứng dụng công nghệ và bồi dưỡng công chức tạo ra cơ sở tổ chức để theo dõi quá trình thích ứng với phương thức quản lý mới.
Tháng 8/2026, Thuế TP. Hồ Chí Minh đã công bố triển khai Tổng đài AI và giải pháp cung cấp thông tin thuế thông qua các nền tảng thanh toán số. Những hoạt động này đặt ra yêu cầu công chức phải thích ứng với phương thức hỗ trợ đa kênh, khai thác thông tin chính xác và phối hợp giữa công nghệ với nghiệp vụ thuế (Anh Tuấn, 07/8/2026). Xét về hoạt động lãnh đạo, việc triển khai công nghệ mới có thể tạo cơ hội phát triển năng lực thông qua thực hành công vụ của công chức thuế.
2.2. Kết quả lãnh đạo phát triển năng lực số của công chức
Trên cơ sở định hướng hiện đại hóa quản lý thuế và đổi mới tổ chức bộ máy, công tác lãnh đạo phát triển năng lực số của công chức tại Thuế TP. Hồ Chí Minh đã ghi nhận một số kết quả bước đầu trong việc tổ chức thực hiện, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và tạo điều kiện phát triển năng lực thực thi công vụ.
Trong đào tạo, bồi dưỡng, Thỏa thuận hợp tác giữa Thuế TP. Hồ Chí Minh với FPT được công bố tháng 12/2025 đã xác định nội dung tư vấn, xây dựng lộ trình đào tạo chuyên sâu về sử dụng công cụ số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, bảo vệ và đánh giá dữ liệu hợp pháp; đồng thời định hướng hỗ trợ chuyên môn phù hợp với nghiệp vụ từng đơn vị (Anh Tuấn, 07/8/2026). Đây là kết quả bước đầu về thiết lập cơ chế hợp tác và chuẩn bị điều kiện phát triển năng lực số.
Hoạt động cập nhật kiến thức quản lý công chức cũng được triển khai thông qua cơ chế tập huấn toàn ngành. Ngày 29/6/2026, Cục Thuế đã tổ chức hội nghị hướng dẫn đánh giá, xếp loại công chức theo bộ tiêu chí mới, kết nối 34 điểm cầu Thuế tỉnh, thành phố. Đại diện Thuế TP. Hồ Chí Minh tham gia trao đổi kinh nghiệm thực hiện và xử lý vướng mắc. Hoạt động này phản ánh sự tham gia của Thuế TP. Hồ Chí Minh vào quá trình chuẩn hóa phương pháp đánh giá, chia sẻ kinh nghiệm quản trị nhân lực.
Trong phát triển điều kiện vận dụng công nghệ và dữ liệu vào nghiệp vụ, kết quả nổi bật nhất là việc đưa những giải pháp số mới vào hoạt động quản lý, hỗ trợ người nộp thuế. Thuế TP. Hồ Chí Minh chính thức ra mắt, vận hành Tổng đài AI và tích hợp thông tin thuế lên các nền tảng thanh toán số. Khác với định hướng hợp tác được công bố cuối năm 2025, sự kiện này xác nhận một sản phẩm công nghệ đã bước vào giai đoạn vận hành. Việc mở rộng phương thức cung cấp thông tin thuế tạo ra môi trường nghiệp vụ mới, đòi hỏi công chức có khả năng phối hợp với hệ thống tự động, kiểm tra thông tin và xử lý những tình huống vượt quá phạm vi hỗ trợ của công nghệ (Anh Tuấn, 08/8/2026).
Việc ứng dụng AI trong hỗ trợ người nộp thuế còn có ý nghĩa đối với tổ chức công việc của đội ngũ công chức. Theo phản ánh của Báo Nhân Dân ngày 23/8/2026, Tổng đài AI được triển khai nhằm hỗ trợ giải đáp thông tin, giảm tải công việc và tạo kênh tương tác chính thống với người dân, doanh nghiệp. Về phương diện phát triển năng lực, thay đổi này mở ra khả năng chuyển một phần thời gian từ xử lý yêu cầu thông tin lặp lại sang những nhiệm vụ nghiệp vụ phức tạp hơn.
Ở phương diện xây dựng môi trường thực hành số, hoạt động xử lý hồ sơ hoàn thuế điện tử là minh chứng rõ nét cho việc ứng dụng công nghệ trong nghiệp vụ chuyên ngành. Theo Thuế TP. Hồ Chí Minh, tính đến hết ngày 24/8/2026 đã ban hành 3.379 quyết định hoàn thuế với tổng số tiền 29.517 tỷ đồng. Những kết quả nghiệp vụ này cho thấy quy trình quản lý thuế điện tử đang được vận hành ở quy mô lớn, tạo điều kiện để công chức thực hành và tích lũy kinh nghiệm làm việc trên hệ thống số (Anh Tuấn, 26/8/2026).
Bên cạnh ứng dụng công nghệ, việc duy trì các hoạt động trao đổi nghiệp vụ và đối thoại với người nộp thuế cũng góp phần hình thành môi trường vận dụng kiến thức chuyên môn trong điều kiện chuyển đổi số. Thuế TP. Hồ Chí Minh cũng đã tổ chức hội nghị đối thoại với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm giải đáp chính sách và tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện nghĩa vụ thuế. Hoạt động này chứng minh việc duy trì cơ chế trao đổi, hỗ trợ giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp (Anh Tuấn, 16/6/2026).
2.3. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả bước đầu, thực tiễn chuyển đổi số và hiện đại hóa quản lý thuế tại Thuế TP. Hồ Chí Minh cho thấy một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến vận hành hệ thống công nghệ, xử lý nghiệp vụ và thích ứng với yêu cầu quản lý mới, cụ thể:
Một là, vướng mắc về hệ thống công nghệ thông tin và xử lý hồ sơ.
Tính đến ngày 15/8/2026, còn 88 hồ sơ hoàn thuế chậm giải quyết, chiếm khoảng 2,5% tổng số hồ sơ, dù đã giảm khoảng 35% so với cuối năm 2025. Đại diện cơ quan thuế xác định nguyên nhân chủ yếu gồm hồ sơ doanh nghiệp chưa đầy đủ, hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin đôi lúc vận hành chưa thông suốt và một số vướng mắc chính sách cần xin ý kiến cấp trên. Đây là những bất cập thực tiễn đã được xác nhận, ảnh hưởng đến tính liên tục và hiệu quả xử lý nghiệp vụ (Anh Tuấn 16/6/2026).
Hai là, yêu cầu phát triển năng lực số ngày càng đa dạng, đặt ra thách thức đối với việc xác định nội dung bồi dưỡng theo vị trí việc làm. Việc ngành Thuế triển khai Nghị định số 252/2026/NĐ-CP và hướng dẫn thực hiện các quy định mới về quản lý thuế từ tháng 7/2026 đã thúc đẩy yêu cầu cập nhật kiến thức pháp luật, khai thác dữ liệu và vận dụng công nghệ trong nghiệp vụ.
Về nguyên nhân, những hạn chế, bất cập về mặt nghiệp vụ trước hết xuất phát từ sự tương tác giữa chất lượng hồ sơ đầu vào, khả năng vận hành hệ thống công nghệ và yêu cầu giải quyết các vấn đề pháp lý. Đây là những yếu tố trực tiếp có thể kéo dài thời gian xử lý công việc.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và đổi mới tư duy lãnh đạo phát triển năng lực số của công chức.
Cấp ủy, tổ chức đảng cần tiếp tục lãnh đạo việc cụ thể hóa yêu cầu phát triển năng lực số trong chương trình công tác và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ. Lãnh đạo hành chính Thuế TP. Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm chuyển hóa định hướng thành kế hoạch, phân công nhiệm vụ và điều kiện tổ chức thực hiện; người đứng đầu các đơn vị trực thuộc trực tiếp hướng dẫn, theo dõi quá trình phát triển năng lực của công chức. Cách phân định này vừa bảo đảm vai trò định hướng của tổ chức đảng, vừa xác lập trách nhiệm điều hành theo thẩm quyền, tránh đồng nhất lãnh đạo chính trị với quản lý chuyên môn.
Đổi mới tư duy lãnh đạo còn đòi hỏi người đứng đầu nêu gương trong sử dụng dữ liệu, điều hành trên môi trường số và khuyến khích công chức chủ động học tập. Trách nhiệm lãnh đạo cần được thể hiện bằng mục tiêu phát triển đội ngũ có thể theo dõi, sự phối hợp giữa các bộ phận và khả năng tháo gỡ khó khăn phát sinh. Khi phát triển năng lực số trở thành một nội dung thực chất của quản trị nhân lực, yêu cầu chuyển đổi số mới có điều kiện chuyển hóa thành hành vi và kết quả công vụ.
Thứ hai, đổi mới công tác lãnh đạo xây dựng và triển khai chương trình phát triển năng lực số theo vị trí việc làm.
Phát triển năng lực số theo vị trí việc làm là giải pháp có tính nền tảng, bởi yêu cầu sử dụng công nghệ và dữ liệu khác nhau giữa các nhóm công chức thuế. Công chức quản lý kê khai cần năng lực xử lý dữ liệu và vận hành hệ thống nghiệp vụ. Công chức kiểm tra thuế cần khả năng phân tích thông tin, nhận diện rủi ro. Công chức hỗ trợ người nộp thuế cần năng lực tương tác, giải thích chính sách trên môi trường số. Trong khi đó, công chức lãnh đạo, quản lý phải có khả năng sử dụng thông tin để ra quyết định và tổ chức thực hiện. Việc xác định đúng nhu cầu của từng nhóm giúp nâng cao tính phù hợp của chương trình bồi dưỡng, tránh phân bổ nguồn lực dàn trải.
Lãnh đạo Thuế TP. Hồ Chí Minh cần chỉ đạo rà soát yêu cầu năng lực số trong từng nhóm vị trí trên cơ sở quy định và khung năng lực do cơ quan có thẩm quyền ban hành, đồng thời đề xuất Cục Thuế hướng dẫn những nội dung cần thống nhất trong toàn ngành.
Về phương thức thực hiện, trước hết cần xác định ba nhóm yêu cầu: năng lực số nền tảng đối với mọi công chức; năng lực số chuyên sâu theo nghiệp vụ; năng lực lãnh đạo và ra quyết định dựa trên dữ liệu. Trên cơ sở đó, bộ phận tổ chức cán bộ phối hợp với đơn vị nghiệp vụ và Thuế cơ sở tổ chức đánh giá nhu cầu, xác định khoảng cách giữa yêu cầu công việc với khả năng thực hiện của từng nhóm. Kết quả đánh giá là căn cứ lựa chọn đối tượng, nội dung và hình thức phát triển năng lực, thay vì chỉ dựa vào kế hoạch đào tạo hằng năm.
Để bảo đảm tính khả thi, có thể nghiên cứu thí điểm phương pháp đánh giá và phát triển năng lực tại một số nhóm vị trí có yêu cầu sử dụng dữ liệu thường xuyên, sau đó tổng kết, điều chỉnh trước khi nhân rộng theo thẩm quyền. Lộ trình triển khai cần gắn với nguồn lực đào tạo, điều kiện công nghệ và yêu cầu vận hành của các đơn vị sau sắp xếp tổ chức bộ máy. Kết quả kỳ vọng không phải hình thành thêm hệ thống tiêu chuẩn mang tính hình thức, mà là thiết lập cơ chế phát triển năng lực dựa trên nhu cầu thực tế, có thể theo dõi và điều chỉnh.
Thứ ba, tăng cường lãnh đạo đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng và tạo môi trường phát triển năng lực số.
Thuế TP. Hồ Chí Minh cần ưu tiên hình thức bồi dưỡng dựa trên tình huống nghiệp vụ và thực hành có hướng dẫn. Nội dung tập trung vào khai thác, kiểm tra dữ liệu; xử lý hồ sơ điện tử; sử dụng công cụ phân tích rủi ro; ứng dụng trí tuệ nhân tạo đúng phạm vi cho phép; và bảo đảm an toàn thông tin. Đối với công chức trực tiếp giải quyết thủ tục, tình huống đào tạo có thể xuất phát từ những vướng mắc thường gặp trong tiếp nhận, đối chiếu dữ liệu và xử lý hồ sơ. Cách tiếp cận này sẽ giúp kết nối kỹ năng công nghệ với kiến thức pháp luật và khả năng giải quyết nhiệm vụ.
Thực tiễn Thuế TP. Hồ Chí Minh thời gian gần đây cũng đã tạo ra những điều kiện có thể khai thác cho hoạt động này. Thỏa thuận hợp tác công nghệ được công bố tháng 12/2025 đề cập đến định hướng xây dựng lộ trình đào tạo chuyên sâu cho công chức; việc đưa Tổng đài AI vào vận hành tháng 8/2026 tiếp tục mở rộng môi trường ứng dụng công nghệ trong hoạt động thuế. Trên cơ sở đó, lãnh đạo đơn vị có thể nghiên cứu phối hợp với các đối tác, theo đúng quy định, để xây dựng học liệu, tình huống thực hành và chương trình hướng dẫn sử dụng công nghệ gắn với nghiệp vụ.
Bên cạnh đào tạo tập trung, cần tạo điều kiện học tập ngay trong quá trình làm việc thông qua hướng dẫn giữa đồng nghiệp, trao đổi tình huống và chia sẻ kinh nghiệm giữa các đơn vị. Lãnh đạo Thuế cơ sở có trách nhiệm bố trí thời gian phù hợp, xác định công chức có kinh nghiệm hỗ trợ đồng nghiệp và khuyến khích đề xuất sáng kiến nghiệp vụ. Hoạt động thực hành phải sử dụng dữ liệu, hệ thống và quyền truy cập được phép; đặc biệt không đưa thông tin người nộp thuế vào công cụ AI bên ngoài khi chưa được phê duyệt. Sự kết hợp giữa đào tạo, thực hành và bảo đảm an toàn dữ liệu sẽ tạo điều kiện phát triển năng lực số thường xuyên, gắn với trách nhiệm công vụ.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, đánh giá và phát huy năng lực số trong thực thi công vụ.
Trên cơ sở quy định về đánh giá công chức hiện hành, Thuế TP. Hồ Chí Minh cần nghiên cứu xây dựng các chỉ báo theo dõi năng lực số phù hợp từng nhóm vị trí, trình cấp có thẩm quyền xem xét khi cần thiết. Việc đánh giá có thể thực hiện ở ba cấp độ: mức độ tiếp thu kiến thức, kỹ năng; khả năng vận dụng công nghệ và dữ liệu vào nhiệm vụ; kết quả cải thiện chất lượng xử lý công việc có liên quan đến năng lực số. Cần sử dụng kết hợp bài thực hành, tình huống nghiệp vụ, nhận xét của người quản lý trực tiếp và thông tin từ hệ thống, đồng thời bảo đảm tính minh bạch, khách quan và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Đặc biệt, việc đánh giá phải tính đến những điều kiện tác động ngoài năng lực cá nhân. Tại Thuế TP. Hồ Chí Minh, một số hồ sơ hoàn thuế chậm giải quyết có nguyên nhân liên quan đến hồ sơ đầu vào, hệ thống công nghệ và vướng mắc chính sách. Do đó, thời gian xử lý hồ sơ không thể tự động được sử dụng làm thước đo năng lực số của công chức. Cần phân tích kết quả công việc trong quan hệ với độ phức tạp của nhiệm vụ, chất lượng dữ liệu và điều kiện vận hành hệ thống.
Lãnh đạo Thuế TP. Hồ Chí Minh cần chỉ đạo sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh chương trình bồi dưỡng, hỗ trợ công chức còn thiếu kinh nghiệm và phát huy những cá nhân có năng lực phù hợp với nhiệm vụ. Cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện lãnh đạo, kiểm tra, giám sát theo chức năng; lãnh đạo hành chính và người đứng đầu đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức đánh giá, phản hồi và điều chỉnh hoạt động phát triển đội ngũ. Việc triển khai có thể thực hiện từng bước, thông qua đánh giá thử nghiệm, hoàn thiện phương pháp và mở rộng khi đủ điều kiện.
4. Kết luận
Phát triển năng lực số của công chức là yêu cầu tất yếu trong quá trình hiện đại hóa quản lý thuế, đồng thời là nội dung quan trọng của công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghiên cứu hoạt động của cơ quan thuế tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy, hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo đã gắn với đổi mới tổ chức bộ máy, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và tạo điều kiện phát triển năng lực số. Tuy nhiên, cũng còn những hạn chế, bất cập nhất định. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện phương thức lãnh đạo theo hướng lấy năng lực thực thi công vụ làm thước đo, thay vì chỉ chú trọng số lượng hoạt động đào tạo hoặc kết quả chuyển đổi số. Theo đó, cần nâng cao trách nhiệm của các chủ thể lãnh đạo, phát triển năng lực theo vị trí việc làm, đổi mới đào tạo gắn với thực hành và hoàn thiện cơ chế đánh giá kết quả. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, tăng khả năng thích ứng với công nghệ và hiệu quả quản lý thuế trong môi trường số.
Tài liệu tham khảo:
Anh Tuấn (07/8/2026). Thuế Thành phố Hồ Chí Minh thu ngân sách đạt hơn 466.000 tỷ đồng, tăng tốc chuyển đổi số. https://nhandan.vn/thue-thanh-pho-ho-chi-minh-thu-ngan-sach-dat-hon-466000-ty-dong-tang-toc-chuyen-doi-so-post980544.html.
Anh Tuấn (08/8/2026). Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ra mắt Tổng đài AI và nền tảng thanh toán số. https://nhandan.vn/thue-thanh-pho-ho-chi-minh-ra-mat-tong-dai-ai-va-nen-tang-thanh-toan-so-post980663.html.
Báo Nhân Dân (16/6/2026). Thuế Thành phố Hồ Chí Minh đối thoại, hỗ trợ doanh nghiệp FDI thực hiện nghĩa vụ thuế. https://nhandan.vn/thue-thanh-pho-ho-chi-minh-doi-thoai-ho-tro-doanh-nghiep-fdi-thuc-hien-nghia-vu-thue-post969479.html.
Báo Nhân Dân (26/8/2026). Thuế Thành phố Hồ Chí Minh tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ hoàn thuế cho doanh nghiệp. https://nhandan.vn/thue-thanh-pho-ho-chi-minh-thao-go-vuong-mac-day-nhanh-tien-do-hoan-thue-cho-doanh-nghiep-post984330.html.
Chính phủ (16/7/2025). Tên gọi, trụ sở và địa bàn quản lý của 29 thuế cơ sở thuộc Thuế TP. HCM. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/ten-goi-tru-so-va-dia-ban-quan-ly-cua-29-thue-co-so-thuoc-thue-tp-hcm-119250701125315393.htm.
Huy Hùng (01/7/2026). Thuế Thành phố Hồ Chí Minh tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản lý thuế. https://nhandan.vn/thue-thanh-pho-ho-chi-minh-tap-trung-thao-go-cac-diem-nghen-trong-quan-ly-thue-post972723.html.
OECD (2021). The OECD Framework for digital talent and skills in the public sector. OECD Working Papers on Public Governance, No. 45, OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/4e7c3f58-en.
Anh Tuấn (22/12/2025), Thúc đẩy chuyển đổi số hỗ trợ người nộp thuế. https://nhandan.vn/thuc-day-chuyen-doi-so-ho-tro-nguoi-nop-thue-post932239.html.
Thùy Linh (30/6/2026). Tập huấn, phổ biến hướng dẫn đánh giá, xếp loại công chức theo Bộ tiêu chí mới. https://nhandan.vn/tap-huan-pho-bien-huong-dan-danh-gia-xep-loai-cong-chuc-theo-bo-tieu-chi-moi-post972410.html.



