The Lao Cai Provincial Party Committee’s leadership in pursuing the double-digit economic growth target in the first year of the 2025–2030 term
ThS. Bùi Thị Phương Thảo
Phường Văn Phú, tỉnh Lào Cai
Email: Thaobui9977@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, cũng là năm đầu tỉnh Lào Cai sau sáp nhập phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trên cơ sở tiếp cận 5 phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy, bài viết phân tích thực trạng Tỉnh ủy Lào Cai lãnh đạo thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong 9 tháng năm 2026, chỉ ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân; từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới.
Từ khóa: Tỉnh ủy Lào Cai; phương thức lãnh đạo; tăng trưởng hai con số; GRDP; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh.
Abstract: The year 2026 is the first year of implementing the Resolution of the 1st Lao Cai Provincial Party Congress (2025 – 2030) and the first year in which the newly merged Lao Cai province strives for double-digit growth in line with the Resolution of the 14th National Party Congress. Drawing on a framework of five leadership methods of a provincial Party committee, this article analyses how the Lao Cai Provincial Party Committee led the pursuit of its economic growth target in the first nine months of 2026, identifying achievements, shortcomings and their causes. On that basis, it proposes solutions to strengthen the Committee’s leadership capacity in pursuing double-digit growth in the coming period.
Keywords: Lao Cai Provincial Party Committee; leadership methods; double-digit growth; GRDP; Provincial Party Congress Resolution.
1. Đặt vấn đề
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 – 2030 từ 10%/năm trở lên. Đây là mục tiêu thể hiện khát vọng phát triển của dân tộc trong kỷ nguyên mới, đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao đối với năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, nhất là cấp ủy cấp tỉnh – cấp trực tiếp lãnh đạo tổ chức thực hiện đường lối của Đảng tại địa phương. Để cụ thể hóa mục tiêu chung, Chính phủ giao chỉ tiêu tăng trưởng cho từng địa phương; theo đó, tỉnh Lào Cai được giao mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 là 10% và bình quân 10%/năm giai đoạn 2026 – 2030 (Chính phủ, 2026).
Tỉnh Lào Cai hiện nay được thành lập trên cơ sở sáp nhập tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội (Quốc hội, 2025). Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 (Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2025); cũng là năm đầu mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành đầy đủ và có sự kiện toàn nhân sự chủ chốt của Tỉnh ủy. Trong điều kiện đó, việc Tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số vừa là yêu cầu chính trị, vừa là phép thử đối với năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ tỉnh sau hợp nhất. Vì vậy, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Tỉnh ủy Lào Cai đối với mục tiêu này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Cơ sở lý luận và quan điểm của Đảng về lãnh đạo thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
2.1. Quan niệm và phương thức Tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Điều lệ Đảng quy định: “Cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là tỉnh ủy, thành ủy)… lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu; nghị quyết, chỉ thị của cấp trên” (khoản 1 Điều 19) (Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Từ đó, có thể quan niệm: Tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế là tổng thể hoạt động của Tỉnh ủy, trực tiếp là Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nhằm xác định mục tiêu, định hướng, chủ trương, giải pháp; tổ chức, động viên hệ thống chính trị và Nhân dân thực hiện; kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết để đạt được tốc độ, quy mô và chất lượng tăng trưởng mà nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh đã đề ra.
Quan niệm này bao hàm 4 yếu tố: chủ thể là Tỉnh ủy, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy và các cơ quan tham mưu, giúp việc; đối tượng là các tổ chức đảng trực thuộc, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, cán bộ, đảng viên và Nhân dân; nội dung là các mục tiêu, chỉ tiêu, động lực và điều kiện bảo đảm tăng trưởng; phương thức gồm 5 phương thức chủ yếu: (1) lãnh đạo bằng nghị quyết, chương trình, đề án; (2) lãnh đạo thông qua Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh thể chế hóa và tổ chức thực hiện; (3) lãnh đạo bằng công tác tổ chức, cán bộ; (4) lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát; (5) lãnh đạo bằng vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và công tác vận động Nhân dân.
Cần nhấn mạnh, Tỉnh ủy lãnh đạo nhưng không làm thay chính quyền. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 phân định rõ thẩm quyền của chính quyền cấp tỉnh và cấp xã, đề cao phân cấp, phân quyền (Quốc hội, 2025). Vì vậy, vai trò của Tỉnh ủy thể hiện ở chỗ định hướng đúng, lựa chọn đúng động lực, bố trí đúng cán bộ và kiểm tra đến cùng việc tổ chức thực hiện.
2.2. Quan điểm của Đảng và mục tiêu tăng trưởng của Đảng bộ tỉnh Lào Cai
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; xác định đột phá về thể chế gắn với phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu lực tổ chức thực thi. Cùng với đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2024); Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân là những căn cứ trực tiếp để các địa phương làm mới động lực tăng trưởng (Bộ Chính trị, 2025).
Vận dụng đường lối của Đảng vào điều kiện cụ thể của tỉnh, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I xác định 5 nhiệm vụ trọng tâm, 3 khâu đột phá; đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2026 – 2030 từ 10%/năm trở lên, phấn đấu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng, trung tâm kết nối giao thương kinh tế quốc tế, phát triển theo hướng “xanh, hài hòa, bản sắc, hạnh phúc” (Đảng bộ tỉnh Lào Cai, 2025). Mục tiêu này thống nhất với mục tiêu của Đại hội XIV và chỉ tiêu Chính phủ giao, đồng thời, phản ánh lợi thế riêng của Lào Cai về kinh tế cửa khẩu, công nghiệp khai khoáng – luyện kim – năng lượng và du lịch.
Bên cạnh những lợi thế về vị trí cửa ngõ trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, tài nguyên khoáng sản và thương hiệu du lịch, tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn: quy mô kinh tế nhỏ, chất lượng tăng trưởng chưa bền vững, thiên tai diễn biến phức tạp, hạ tầng giao thông còn bất cập, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Sau hợp nhất, địa bàn rộng hơn và chênh lệch phát triển giữa các vùng lớn hơn, đòi hỏi Tỉnh ủy phải có phương thức lãnh đạo phù hợp.
3. Thực trạng Tỉnh ủy Lào Cai lãnh đạo thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026
3.1. Về phương thức lãnh đạo
Thứ nhất, lãnh đạo bằng nghị quyết, chương trình, đề án. Điểm nổi bật là tính kịp thời và tính hệ thống trong cụ thể hóa nghị quyết. Ngày 31/10/2025, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Chương trình hành động số 13-CTr/TU thực hiện Nghị quyết Đại hội; ngày 29/12/2025, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TU cùng 17 đề án trọng tâm, trong đó có các đề án gắn trực tiếp với động lực tăng trưởng như Đề án số 07-ĐA/TU về xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng, trung tâm kết nối giao thương và đề án về huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển giai đoạn 2026 – 2030 với mục tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 500.000 tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài nhà nước chiếm khoảng hai phần ba (Tỉnh ủy Lào Cai, 2025). Việc cụ thể hóa còn được tiếp tục ngay trong năm: Ban Thường vụ Tỉnh ủy kịp thời ban hành kế hoạch thực hiện các nghị quyết mới của Bộ Chính trị và chỉ đạo cụ thể hóa ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với tỉnh tháng 7/2026.
Thứ hai, lãnh đạo thông qua HĐND, UBND tỉnh và điều hành bằng kịch bản tăng trưởng. Thông qua Đảng đoàn HĐND tỉnh và Ban cán sự đảng UBND tỉnh, Tỉnh ủy lãnh đạo thể chế hóa chủ trương và tổ chức thực hiện bằng kịch bản tăng trưởng định lượng theo quý, theo ngành và theo địa bàn. Khi kết quả 6 tháng thấp hơn kịch bản, UBND tỉnh kịp thời điều chỉnh kịch bản 6 tháng cuối năm, tập trung vào giải ngân đầu tư công, sản xuất công nghiệp, thương mại – dịch vụ, du lịch và kinh tế cửa khẩu; tháng 9/2026 được xác định là tháng cao điểm giải ngân vốn đầu tư công. Cách làm này thể hiện sự chuyển biến từ ban hành chủ trương sang kiểm soát kết quả thực hiện. Tuy vậy, trong năm cùng tồn tại nhiều mức mục tiêu (10% theo chỉ tiêu Chính phủ giao, tối thiểu 10,1% theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, từ 10,5% đến 11% theo cam kết của tỉnh), nên cần thống nhất một mức mục tiêu điều hành từ cấp ủy đến chính quyền.
Thứ ba, lãnh đạo bằng công tác tổ chức, cán bộ. Năm 2026, Bộ Chính trị kiện toàn chức danh Bí thư Tỉnh ủy; Tỉnh ủy lãnh đạo vận hành bộ máy 99 đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp và tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy ở các lĩnh vực. Việc kiện toàn nhân sự chủ chốt kịp thời đã bảo đảm sự ổn định trong lãnh đạo, chỉ đạo. Tuy nhiên, việc gắn đánh giá, xếp loại cán bộ với kết quả thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng, giải ngân vốn đầu tư công và thu hút đầu tư của từng ngành, từng địa phương chưa được thể hiện rõ.
Thứ tư, lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát. Việc đôn đốc thực hiện nhiệm vụ được duy trì thường xuyên; trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Lào Cai là một trong những tỉnh có tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ do Trung ương giao cao. Tuy nhiên, việc kiểm soát tiến độ tăng trưởng chủ yếu vẫn qua kênh chỉ đạo, điều hành của chính quyền; việc đưa chỉ tiêu tăng trưởng, giải ngân vốn đầu tư công vào chương trình kiểm tra, giám sát chuyên đề của cấp ủy chưa được chú trọng đúng mức.
Thứ năm, lãnh đạo bằng vai trò tiên phong, gương mẫu và phát huy sức mạnh của Nhân dân. Người đứng đầu cấp ủy thể hiện rõ trách nhiệm nêu gương, cam kết quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng và chủ động kiến nghị Trung ương các cơ chế đặc thù phát triển kinh tế cửa khẩu, du lịch, đẩy nhanh Dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị – xã hội được phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội. Tuy nhiên, công tác vận động Nhân dân ở một số dự án, nhất là dự án năng lượng, chưa tạo được sự đồng thuận cao.
3.2. Về kết quả tăng trưởng kinh tế
Theo công bố của Cục Thống kê, năm 2025, GRDP của tỉnh tăng 8,14%. Như vậy, để đạt mức hai con số trong năm 2026, tỉnh phải nâng tốc độ tăng trưởng thêm khoảng 2 điểm phần trăm – một bước nhảy lớn đối với nền kinh tế có quy mô nhỏ. Bước sang năm 2026, tăng trưởng được cải thiện qua từng quý: quý I tăng 8,03%; quý III tăng 10,58%, cao hơn kịch bản và xếp thứ 10/34 tỉnh, thành phố. Tính chung 9 tháng, GRDP tăng 9,09%, thấp hơn kịch bản 0,44 điểm phần trăm, xếp thứ 18/34 tỉnh, thành phố. Khu vực dịch vụ trở thành động lực đóng góp lớn nhất; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng trong GRDP tăng so với cùng kỳ, nhưng riêng ngành công nghiệp tăng thấp hơn kịch bản 3,06 điểm phần trăm. Để đạt mức 10,1% cả năm, quý IV phải tăng 12,65% (Cục Thống kê, 2026).
Các động lực tăng trưởng đặc thù có chuyển biến rõ nét. Nhờ thí điểm cơ chế “luồng xanh” giải quyết nhanh thủ tục đầu tư, 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư 41 dự án với tổng vốn đăng ký trên 30.000 tỷ đồng. Tổng giá trị xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi hàng hóa qua các cửa khẩu đạt gần 3 tỷ USD, tăng 34,83% so với cùng kỳ. Ngành du lịch đón trên 9,8 triệu lượt khách; tỉnh đã ban hành kế hoạch phát triển du lịch văn hóa và nghỉ dưỡng thông minh giai đoạn 2026 – 2030, thể hiện bước chuyển từ tăng lượng khách sang nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.
3.3. Đánh giá chung
Về ưu điểm. Trong năm đầu nhiệm kỳ, dù chịu tác động của thiên tai và yêu cầu vận hành bộ máy mới, Tỉnh ủy đã kịp thời cụ thể hóa nghị quyết đại hội và các nghị quyết mới của Trung ương; lãnh đạo chính quyền điều hành tăng trưởng bằng kịch bản định lượng và điều chỉnh kịp thời khi kết quả chưa đạt; bảo đảm ổn định công tác cán bộ chủ chốt. Nhờ đó, tăng trưởng quý III vượt kịch bản; thu hút đầu tư, kinh tế cửa khẩu và du lịch tăng mạnh.
Về hạn chế. Một là, tốc độ tăng trưởng 9 tháng chưa đạt kịch bản; áp lực tăng trưởng quý IV rất lớn trong điều kiện mùa mưa bão thường ảnh hưởng mạnh đến sản xuất, giao thông của tỉnh miền núi. Hai là, chất lượng tăng trưởng chưa thật bền vững: ngành công nghiệp – động lực chủ yếu theo kịch bản – tăng thấp hơn kỳ vọng; hàng xuất khẩu qua cửa khẩu chủ yếu là nông sản, giá trị gia tăng thấp và phụ thuộc vào chính sách của thị trường nhập khẩu. Ba là, còn điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện, nhất là về quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng; năng lực của một bộ phận cán bộ cấp xã chưa theo kịp yêu cầu phân cấp. Bốn là, khoảng cách phát triển giữa các vùng còn lớn, nhiều xã vùng cao, biên giới vẫn có tỷ lệ hộ nghèo cao.
Nguyên nhân. Về khách quan, tỉnh có điểm xuất phát thấp, quy mô kinh tế nhỏ, địa bàn rộng, địa hình phức tạp, thường xuyên chịu tác động của thiên tai; bộ máy sau hợp nhất và mô hình chính quyền hai cấp mới vận hành. Về chủ quan, kịch bản tăng trưởng chưa gắn chặt với tiến độ đưa năng lực sản xuất mới vào hoạt động; phương thức chỉ đạo còn nặng về đôn đốc qua kênh chính quyền, công tác kiểm tra, giám sát chuyên đề của cấp ủy đối với chỉ tiêu tăng trưởng chưa thường xuyên; công tác dân vận trong giải phóng mặt bằng ở một số dự án chưa hiệu quả.
4. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Tỉnh ủy Lào Cai đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số
Thứ nhất, nâng cao chất lượng xây dựng và cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết.
Tỉnh ủy cần thống nhất một mức mục tiêu tăng trưởng điều hành cho toàn hệ thống chính trị; chỉ đạo xây dựng kịch bản tăng trưởng các năm tiếp theo theo phương pháp “từ dưới lên”, tính toán từ năng lực sản xuất mới tăng thêm của từng dự án, từng ngành, từng địa phương. Trên cơ sở sơ kết một năm, cần rà soát các đề án trọng tâm, bổ sung nguồn lực và mốc thời gian cụ thể cho các đề án gắn trực tiếp với tăng trưởng; mỗi nghị quyết chuyên đề cần có bộ chỉ số theo dõi định lượng, phân công rõ cơ quan chủ trì và người chịu trách nhiệm.
Thứ hai, đổi mới lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng tháo gỡ điểm nghẽn thể chế.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy cần trực tiếp theo dõi các dự án động lực, nhất là các dự án công nghiệp, năng lượng có khả năng đưa vào vận hành sớm; phân công mỗi đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ phụ trách một nhóm dự án đến khi hoàn thành. Nhân rộng cơ chế “luồng xanh” từ lĩnh vực đầu tư sang các thủ tục đất đai, xây dựng, môi trường; lãnh đạo HĐND tỉnh chủ động ban hành các chính sách đặc thù trong phạm vi thẩm quyền về thu hút đầu tư vào khu kinh tế cửa khẩu, logistics, công nghiệp chế biến sâu.
Thứ ba, làm tốt công tác cán bộ, nâng cao năng lực chính quyền cấp xã.
Đánh giá cán bộ bằng kết quả, sản phẩm cụ thể, gắn với chỉ tiêu tăng trưởng, thu ngân sách, giải ngân vốn và thu hút đầu tư của từng ngành, từng địa phương; kiên quyết thay thế cán bộ không đáp ứng yêu cầu. Ưu tiên bồi dưỡng cán bộ cấp xã về quản lý đầu tư công, đất đai, quy hoạch và chuyển đổi số; tăng cường luân chuyển cán bộ có năng lực về cơ sở; có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thứ tư, lãnh đạo chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, bền vững.
Lãnh đạo nâng cao giá trị gia tăng của kinh tế cửa khẩu thông qua phát triển logistics, chế biến nông sản xuất khẩu, cửa khẩu thông minh; chủ động chuẩn bị quỹ đất, quy hoạch khu công nghiệp, đô thị dọc tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng. Theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân trở thành nguồn lực chủ yếu cho đầu tư phát triển; đồng thời, đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu.
Thứ năm, tăng cường kiểm tra, giám sát và phát huy sức mạnh của Nhân dân.
Đưa việc thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng, giải ngân vốn đầu tư công vào chương trình kiểm tra, giám sát định kỳ của cấp ủy; kiểm tra chuyên đề đối với các ngành, địa phương chậm tiến độ; xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để chậm trễ do nguyên nhân chủ quan. Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể làm tốt công tác dân vận, tạo đồng thuận của Nhân dân trong giải phóng mặt bằng và phát triển sản xuất; gắn tăng trưởng với giảm nghèo đa chiều, thu hẹp chênh lệch giữa các vùng.
5. Kết luận
Năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 diễn ra trong bối cảnh đặc biệt: tỉnh mới sáp nhập, chính quyền hai cấp mới vận hành, nhân sự chủ chốt được kiện toàn và mục tiêu tăng trưởng được nâng lên mức hai con số. Tỉnh ủy Lào Cai đã kịp thời cụ thể hóa nghị quyết bằng chương trình hành động và các đề án trọng tâm, lãnh đạo chính quyền điều hành bằng kịch bản tăng trưởng, qua đó tạo chuyển biến tích cực về tăng trưởng, thu hút đầu tư, kinh tế cửa khẩu và du lịch. Tuy nhiên, tăng trưởng 9 tháng chưa đạt mục tiêu, khu vực công nghiệp còn là điểm nghẽn. Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng bình quân từ 10%/năm trở lên trong cả nhiệm kỳ, phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy cần chuyển mạnh từ giao chỉ tiêu, đôn đốc sang tháo gỡ điểm nghẽn, xây dựng kịch bản từ năng lực thực tế, gắn công tác cán bộ và kiểm tra, giám sát với kết quả tăng trưởng.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 về mục tiêu tăng trưởng của các địa phương năm 2026 và giai đoạn 2026 – 2030.
Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí về kết quả tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của 34 tỉnh, thành phố năm 2025.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Tỉnh ủy Lào Cai (2025). Đề án số 07-ĐA/TU ngày 29/12/2025 về xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng, trung tâm kết nối giao thương kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN với vùng Tây Nam Trung Quốc.
Tỉnh ủy Lào Cai (2026). Báo cáo số 264-BC/TU ngày 25/9/2026. Tình hình chủ yếu địa phương quý III và 9 tháng đầu năm;phương hướng, nhiệm vụ quý IV/2026.



