State management of the private economy by the Hanoi City People’s Committee in the context of digital transformation
Nguyễn Văn Mão
Công ty Cổ phần Matino Việt Nam
Email: herano797979@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia, trong khi chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản lý. Bài viết làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tư nhân của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Bài viết phân tích tài liệu, chính sách, tổng hợp dữ liệu thứ cấp và so sánh quốc tế theo khung “ba chức năng – một tầng nền”, gồm: kiến tạo thể chế, phục vụ – hỗ trợ, kiểm tra – giám sát trên nền dữ liệu. Kết quả cho thấy, Hà Nội đã đạt tiến bộ rõ rệt về thể chế đặc thù và số hóa khâu tiếp nhận thủ tục; tuy nhiên, điểm nghẽn cốt lõi là khoảng cách giữa số hóa thủ tục và quản trị bằng dữ liệu, thể hiện ở dữ liệu doanh nghiệp còn phân tán, năng lực hậu kiểm chưa tương xứng với mức giảm tiền kiểm và năng lực số cấp xã chưa đồng đều. Trên cơ sở tiếp cận quản lý theo vòng đời doanh nghiệp, bài viết đề xuất năm nhóm giải pháp, trong đó xây dựng hệ dữ liệu doanh nghiệp dùng chung gắn với hậu kiểm dựa trên rủi ro là khâu đột phá.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; kinh tế tư nhân; chuyển đổi số; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; quản trị dựa trên dữ liệu.
Abstract: The private sector is recognized as a key driver of the national economy, while digital transformation is profoundly changing management practices. This article clarifies the political and legal foundations, assesses the current situation, and proposes solutions to enhance the effectiveness of the Hanoi People’s Committee’s state management of the private sector. The article analyzes documents and policies, synthesizes secondary data, and conducts international comparisons within the “three functions one foundation” framework, which includes: institutional development, service and support, and inspection and supervision based on data. The results show that Hanoi has made significant progress in specialized institutional frameworks and the digitization of procedure intake; however, the core bottleneck lies in the gap between procedure digitization and data-driven governance, manifested in the continued fragmentation of business data, post-inspection capabilities that do not yet match the level of pre-inspection reduction, and uneven digital capabilities at the commune level. Based on a business lifecycle management approach, this article proposes five groups of solutions, among which the development of a shared business data system linked to risk-based post-inspection is identified as a breakthrough measure.
Keywords: State management; private economy; digital transformation; Hanoi City People’s Committee; data-driven governance.
1. Đặt vấn đề
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 cả nước có 2 triệu doanh nghiệp và khu vực tư nhân đóng góp khoảng 55-58% GDP (Bộ Chính trị, 2025). Cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2024), hai nghị quyết đặt ra yêu cầu kép đối với chính quyền địa phương: vừa giải phóng tối đa sức sản xuất của khu vực tư nhân, vừa đổi mới căn bản phương thức quản lý trên nền tảng số.
Thành phố Hà Nội hiện có hơn 424.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm 97%; khu vực tư nhân đóng góp khoảng 45-50% GRDP, chiếm gần 58% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tạo gần 80% việc làm mới mỗi năm (Trâm Anh, 2026). Năm 2025, GRDP của Thành phố tăng 8,16%, quy mô kinh tế đạt khoảng 63,5 tỷ USD, đứng thứ hai cả nước (Nguyên Trang, 2026). Thành ủy Hà Nội xác định mục tiêu đến năm 2030 khu vực kinh tế tư nhân chiếm 55-60% GRDP (Thành ủy Hà Nội, 2025). Đồng thời, Ủy ban nhân dân Thành phố đang vận hành trong không gian thể chế mới: mô hình chính quyền địa phương hai cấp với 126 đơn vị hành chính cấp xã từ ngày 01/7/2025 (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025) và Luật Thủ đô năm 2026 với nhiều cơ chế đặc thù, vượt trội (Quốc hội, 2026).
Chuyển đổi số làm thay đổi cả đối tượng, công cụ và phương thức quản lý. Doanh nghiệp ngày càng hoạt động trên nền tảng số, mọi giao dịch đều để lại dấu vết dữ liệu; cơ quan quản lý chuyển từ xử lý hồ sơ giấy sang xử lý dữ liệu. Vấn đề đặt ra vì vậy không còn là có số hóa hay không mà là số hóa có làm thay đổi chất lượng quản lý hay không – tức là có chuyển được từ “quản lý theo hồ sơ” sang “quản trị bằng dữ liệu” hay không. Bài viết tập trung trả lời ba câu hỏi: (1) Cơ sở lý luận, chính trị – pháp lý của quản lý nhà nước về kinh tế tư nhân của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số là gì; (2) Thực trạng hiện nay ra sao và điểm nghẽn cốt lõi nằm ở khâu nào; (3) Giải pháp nào để chuyển hóa dư địa thể chế mới thành hiệu quả quản lý thực chất.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu về quản trị trong thời đại số cho rằng công nghệ số không chỉ tự động hóa quy trình cũ mà còn tạo điều kiện tái tích hợp những chức năng bị chia cắt trong mô hình quản lý công mới, qua đó tổ chức lại dịch vụ công theo nhu cầu trọn vẹn của người sử dụng (Dunleavy et al., 2006). Quan niệm chính phủ như một nền tảng nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc kiến tạo hạ tầng và dữ liệu mở để xã hội và doanh nghiệp cùng tạo lập giá trị (O’Reilly, 2011). OECD (2019, 2020) xác định khu vực công dựa trên dữ liệu là một trụ cột của chính phủ số, trong đó dữ liệu được quản trị như tài sản chiến lược phục vụ hoạch định, thực thi và giám sát chính sách. Chuyển đổi số khu vực công là quá trình thay đổi văn hóa, tổ chức và quan hệ của cơ quan công quyền, chứ không đơn thuần là ứng dụng công nghệ (Mergel et al., 2019); ở cấp độ phát triển cao, chính phủ số có xu hướng được bối cảnh hóa, tức gắn với điều kiện và mục tiêu phát triển của từng địa phương (Janowski, 2015). Ở góc độ quan hệ nhà nước – doanh nghiệp, lý thuyết tự chủ gắn kết chỉ ra rằng nhà nước kiến tạo phát triển hiệu quả khi vừa giữ được tính độc lập, vừa duy trì kênh kết nối thực chất với khu vực tư nhân (Evans, 1995).
Ở trong nước, các nghiên cứu và báo cáo về Hà Nội chủ yếu tiếp cận từ góc độ cải cách thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh. Các kết quả công bố cho thấy Thành phố đã rút ngắn thời gian gia nhập thị trường, nhưng mức độ liên thông thủ tục, chất lượng vận hành hệ thống số và hiệu quả thực thi ở cơ sở vẫn còn không đồng đều. Các báo cáo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cung cấp dữ liệu đánh giá môi trường kinh doanh từ phía doanh nghiệp (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 2026). Tuy nhiên, còn thiếu những công trình nhìn nhận quản lý nhà nước về kinh tế tư nhân ở cấp thành phố như một hệ thống vận hành trên nền dữ liệu, đặt trong khung thể chế mới của chính quyền địa phương hai cấp và Luật Thủ đô năm 2026; đặc biệt, khâu hậu kiểm và tầng dữ liệu nền tảng còn ít được phân tích. Đó là khoảng trống mà bài viết hướng tới.
2.2. Khái niệm công cụ và khung phân tích
Kinh tế tư nhân trong bài viết được hiểu là khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp do tư nhân đầu tư, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh.
Quản lý nhà nước về kinh tế tư nhân của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội là sự tác động có tổ chức, bằng quyền lực nhà nước, của cơ quan hành chính nhà nước ở Thủ đô – được tổ chức theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (Quốc hội, 2025d) và Luật Thủ đô năm 2026 (Quốc hội, 2026), đối với các chủ thể kinh tế tư nhân trên địa bàn. Hoạt động này được thực hiện thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, cung ứng dịch vụ công, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực, kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật nhằm bảo đảm môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch và thúc đẩy khu vực này phát triển đúng định hướng.
Bối cảnh chuyển đổi số không chỉ là việc đưa thủ tục lên môi trường mạng mà còn là sự thay đổi phương thức quản lý dựa trên dữ liệu số, nền tảng số và công nghệ số theo định hướng đã được luật hóa trong Luật Chuyển đổi số năm 2025 (Quốc hội, 2025a).
Bài viết xây dựng khung phân tích “ba chức năng – một tầng nền”. Ba chức năng gồm: (1) Kiến tạo thể chế – ban hành, điều chỉnh chính sách và thủ tục; (2) Phục vụ – hỗ trợ, cung ứng dịch vụ công, hỗ trợ tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ, thị trường; (3) Kiểm tra – giám sát, theo dõi, hậu kiểm và xử lý vi phạm. Cả ba chức năng cùng đặt trên tầng nền dữ liệu, gồm dữ liệu về chủ thể kinh doanh, hạ tầng kết nối và năng lực số của đội ngũ. Giả thuyết làm việc của bài viết là: hiệu quả quản lý bị giới hạn bởi khâu yếu nhất; nếu đầu tư vào khâu tiếp nhận thủ tục mà tầng nền dữ liệu chưa vững, kết quả sẽ dừng ở “số hóa bề mặt”, chưa tạo ra thay đổi về chất trong quản lý.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng kết hợp 4 phương pháp. Phân tích tài liệu được áp dụng đối với văn kiện của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật do Trung ương và thành phố Hà Nội ban hành trong giai đoạn 2024-2026, kể cả các văn bản mới có hiệu lực từ năm 2026. Phân tích chính sách được dùng để đánh giá mức độ nhất quán giữa mục tiêu, công cụ và năng lực thực thi. Tổng hợp dữ liệu thứ cấp dựa trên báo cáo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và Chỉ số Hiệu quả kinh tế tư nhân năm 2025) và số liệu do cơ quan của Thành phố công bố qua báo chí chính thống; các số liệu được đối chiếu chéo giữa nhiều nguồn. So sánh quốc tế được thực hiện với Singapore, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc), Hàn Quốc và Liên minh châu Âu – những trường hợp có tài liệu đánh giá của tổ chức quốc tế và có giá trị tham chiếu với một đô thị đặc biệt. Hạn chế của nghiên cứu là chưa sử dụng dữ liệu khảo sát sơ cấp; một số số liệu là báo cáo nhanh của cơ quan quản lý, cần tiếp tục được kiểm chứng bằng số liệu thống kê chính thức.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Cơ sở chính trị – pháp lý
Về chủ trương, Thành ủy Hà Nội đã ban hành Kế hoạch hành động số 348-KH/TU ngày 03/7/2025 thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, với các chỉ tiêu đến năm 2030: khu vực kinh tế tư nhân chiếm 55–60% GRDP; từ 50% doanh nghiệp trở lên có hoạt động đổi mới sáng tạo; trên 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nền tảng số; kinh tế số chiếm 40% GRDP (Thành ủy Hà Nội, 2025). Trên cơ sở Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 của Chính phủ (Chính phủ, 2025), Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Kế hoạch số 196/KH-UBND ngày 24/7/2025, giao nhiệm vụ theo nguyên tắc “5 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả (Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2025a).
Về pháp luật, khuôn khổ chung đã chuyển mạnh sang tư duy kiến tạo. Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội quy định việc thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp không quá một lần trong năm, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng; ưu tiên kiểm tra từ xa trên cơ sở dữ liệu điện tử; và chấm dứt phương pháp khoán thuế đối với hộ kinh doanh từ ngày 01/01/2026 (Quốc hội, 2025e). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2025 (Quốc hội, 2025c), Luật Đầu tư năm 2025 (Quốc hội, 2025b), Luật Dữ liệu năm 2024 (Quốc hội, 2024) và Luật Chuyển đổi số năm 2025 (Quốc hội, 2025a) tạo nền tảng cho quản lý dựa trên dữ liệu. Đáng chú ý, Nghị định số 296/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026 của Chính phủ yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh khai thác thông tin sẵn có từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp thay vì yêu cầu người dân nộp bản sao giấy tờ; thủ tục được thực hiện bằng tài khoản định danh điện tử, còn người thành lập doanh nghiệp tự kê khai và chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ (Chính phủ, 2026b).
Điểm then chốt là Luật Thủ đô năm 2026 (thông qua ngày 23/4/2026, hiệu lực từ ngày 01/7/2026). Điều 8 cho phép Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành văn bản điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính do văn bản của Trung ương quy định theo hướng đơn giản hóa, không làm phát sinh thêm thành phần hồ sơ, điều kiện. Điều 18 ưu tiên thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cho phép Thành phố áp dụng phương thức quản trị tiên tiến dựa trên dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo và mô hình chia sẻ dữ liệu công – tư. Điều 19 giao Hội đồng nhân dân quy định tiêu chí, trình tự thử nghiệm và giao Ủy ban nhân dân quyết định cho phép thử nghiệm, kể cả “tạm thời không áp dụng một số quy định pháp luật trong phạm vi giới hạn thử nghiệm” (Quốc hội, 2026). Như vậy, cơ sở chính trị – pháp lý đã chuyển từ trạng thái “được phép làm” sang “được trao quyền chủ động”; câu hỏi trung tâm chuyển sang năng lực sử dụng quyền đó của bộ máy.
3.2. Những kết quả bước đầu
Về kiến tạo thể chế, Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND ngày 02/6/2026 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội (hiệu lực từ ngày 01/7/2026) là một trong những văn bản đầu tiên vận dụng thẩm quyền điều chỉnh thủ tục hành chính theo Luật Thủ đô: bỏ một số thành phần hồ sơ như điều lệ công ty, báo cáo tài chính khi giảm vốn điều lệ; thay 7 loại biểu mẫu giấy bằng tra cứu dữ liệu trực tuyến; rút thời hạn đăng ký thành lập doanh nghiệp xuống 2 ngày làm việc, thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động chi nhánh xuống 4 ngày làm việc (Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, 2026; Hạnh Phúc, 2026). Theo báo cáo của lãnh đạo Thành phố, trong năm 2025 Hà Nội đã sửa đổi 3.118 thủ tục hành chính, bãi bỏ 821 thủ tục, liên thông 103 thủ tục và ban hành 13 cơ chế đặc thù (Mai Huyên & Hải Linh, 2026).
Về phục vụ – hỗ trợ, Hà Nội tiên phong mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, với 12 chi nhánh và 131 điểm hỗ trợ dịch vụ công số. Sau khi tổ chức lại, nhân sự giảm hơn 65% (từ gần 3.000 xuống hơn 1.000 người) nhưng vẫn xử lý hơn 3,57 triệu hồ sơ trong năm 2025; điểm chất lượng phục vụ tăng từ 90,43 (năm 2025) lên 95,65 (đầu tháng 4/2026), tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt trên 94%; ứng dụng iHanoi có gần 6 triệu tài khoản (Văn Anh, 08/4/2026).
Toàn bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được thực hiện trực tuyến; 9 tháng năm 2026, Thành phố có 25.562 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 2%), tổng vốn đăng ký 499.872 tỷ đồng (tăng 73%) và 10.027 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 25%) (Mai Hữu, 2026). Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026–2030 với 94 nhiệm vụ được theo dõi trên bảng điều hành thời gian thực, mục tiêu hỗ trợ chuyển đổi số cho khoảng 40.000 doanh nghiệp; Quỹ đầu tư mạo hiểm của Thành phố vận hành theo cơ chế “đầu tư công nhưng quản trị tư” (Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2025b; Hạnh Phúc, 2026). Đối với hộ kinh doanh, sau khi xóa bỏ thuế khoán, khoảng 98% hộ đã có tài khoản giao dịch điện tử, 90,65% hộ thuộc diện bắt buộc đã đăng ký hóa đơn điện tử và 1.151 hộ chuyển đổi lên doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2026 (Linh Anh, 2026).
Về đánh giá từ phía doanh nghiệp, Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2025 ghi nhận Hà Nội dẫn đầu cả nước về chỉ số “Tiếp cận nguồn lực” (6,69 điểm); chỉ số “Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính” (7,77 điểm) và “Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp” (6,0 điểm) cao hơn trung vị toàn quốc; Chỉ số Hiệu quả kinh tế tư nhân lần đầu công bố xếp Hà Nội thứ hai cả nước (5,41 điểm) (Văn Anh, 24/9/2026).
Bảng 1. Một số chỉ báo về quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân của thành phố Hà Nội theo khung “ba chức năng – một tầng nền”
| Hợp phần | Chỉ báo | Giá trị | Nguồn |
| Kiến tạo thể chế | Thời hạn đăng ký thành lập doanh nghiệp (từ ngày 01/7/2026) | 2 ngày làm việc | Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội (2026) |
| Kiến tạo thể chế | Thủ tục hành chính được sửa đổi/bãi bỏ năm 2025 | 3.118/821 | Mai Huyên & Hải Linh (2026) |
| Phục vụ – hỗ trợ | Tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính tiếp nhận trực tuyến (quý I/2026) | 63,41% | Văn Anh (08/4/2026) |
| Phục vụ – hỗ trợ | Tỷ lệ hồ sơ quá hạn trước và sau ba tháng chấn chỉnh | 44,63% → 11,67% | Văn Anh (08/4/2026) |
| Phục vụ – hỗ trợ | Điểm chỉ số “Tiếp cận nguồn lực” (Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2025) | 6,69 (dẫn đầu cả nước) | Văn Anh (24/9/2026) |
| Kiểm tra – giám sát | Hộ kinh doanh thuộc diện bắt buộc đã đăng ký hóa đơn điện tử | 90,65% | Linh Anh (2026) |
| Tầng nền dữ liệu | Người nộp thuế ngừng hoạt động chưa đóng mã số thuế hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký | 150.459 | Trần Linh (2026) |
| Tầng nền dữ liệu | Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP năm 2025 | 17,34% | Minh Sơn (2026) |
3.3. Hạn chế và điểm nghẽn cốt lõi
Đối chiếu các chỉ báo theo khung phân tích cho thấy, những tiến bộ tập trung chủ yếu ở chức năng kiến tạo thể chế và khâu tiếp nhận của chức năng phục vụ; trong khi chức năng kiểm tra – giám sát và tầng nền dữ liệu còn nhiều hạn chế. Có thể nhận diện bốn biểu hiện cụ thể.
Một là, tầng nền dữ liệu doanh nghiệp còn phân tán, chưa thống nhất. Trong khi các báo cáo dẫn con số hơn 424.000 doanh nghiệp đang hoạt động (Trâm Anh, 2026), cơ quan thuế Thành phố phải công khai danh sách 150.459 người nộp thuế (gồm doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh) đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký (Trần Linh, 2026). Bản thân kế hoạch thi đua giai đoạn 2026–2030 của Thành phố đã phải dùng tiêu chí “doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động ổn định, có kê khai nộp thuế” để đặt mục tiêu khoảng 500.000 doanh nghiệp vào năm 2030 (Mai Hữu, 2026). Điều đó cho thấy, chưa có một định nghĩa vận hành thống nhất về “doanh nghiệp đang hoạt động thực chất” dùng chung giữa đăng ký kinh doanh, thuế, bảo hiểm xã hội và thống kê. Độ vênh dữ liệu còn thể hiện ở khâu đặt chỉ tiêu: tỷ trọng kinh tế số năm 2025 mới đạt 17,34% và Ủy ban nhân dân Thành phố đặt mục tiêu năm 2026 “tối thiểu 22%” (Minh Sơn, 2026), trong khi Kế hoạch số 348-KH/TU đặt mốc 35% cho năm 2026 (Trâm Anh, 2026). Khi chỉ tiêu và năng lực đo lường chưa khớp nhau, việc điều hành theo kết quả khó tránh khỏi hình thức. Những biểu hiện trên cho thấy hạn chế về liên thông dữ liệu vẫn là vấn đề mang tính cấu trúc.
Hai là, lệch pha giữa giảm tiền kiểm và năng lực hậu kiểm. Nghị định số 296/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND chuyển mạnh sang cơ chế tự kê khai, tự chịu trách nhiệm; Nghị quyết số 198/2025/QH15 giới hạn tần suất kiểm tra và ưu tiên kiểm tra từ xa. Đây là hướng đi đúng, nhưng chỉ phát huy hiệu quả khi cơ quan quản lý có dữ liệu đủ tin cậy để phân loại rủi ro. Nếu thiếu tầng nền đó, hậu kiểm dễ rơi vào một trong hai cực: hoặc hình thức, bỏ lọt doanh nghiệp “ma”, gian lận hóa đơn; hoặc quay lại kiểm tra dàn trải, gây phiền hà cho doanh nghiệp tuân thủ tốt. Dữ liệu khảo sát trên phạm vi cả nước cho thấy 26% doanh nghiệp được khảo sát vẫn phải chịu chi phí không chính thức và chỉ 6–8% doanh nghiệp dự đoán được thay đổi chính sách (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 2026) – những vấn đề mà hậu kiểm minh bạch, dựa trên dữ liệu có thể góp phần khắc phục.
Ba là, năng lực tầng cơ sở chưa theo kịp khối lượng nhiệm vụ trong mô hình chính quyền hai cấp. Tỷ lệ hồ sơ quá hạn trong hệ thống Trung tâm Phục vụ hành chính công từng ở mức 44,63% trước khi giảm xuống 11,67% sau ba tháng chấn chỉnh; tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận trực tuyến trong quý I/2026 mới đạt 63,41% (Văn Anh, 2026a). Như vậy, ngoài lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp, kênh số chưa trở thành kênh mặc định đối với phần lớn thủ tục liên quan đến hoạt động kinh doanh. Khi biên chế giảm mạnh, năng suất của bộ máy phụ thuộc ngày càng nhiều vào công cụ số và kỹ năng khai thác dữ liệu của cán bộ ở 126 xã, phường – yếu tố hiện chưa đồng đều.
Bốn là, khoảng cách số trong chính khu vực tư nhân. Trên phạm vi cả nước, khoảng 69% doanh nghiệp mới dừng ở mức chuyển đổi số cơ bản như sử dụng thư điện tử, phần mềm kế toán (TTXVN/VietnamPlus, 2025). Ở Hà Nội, khoảng 98% hộ kinh doanh đã có tài khoản giao dịch điện tử nhưng chỉ khoảng 60% thực hiện nghĩa vụ thuế bằng phương thức điện tử (Linh Anh, 2026). Khoảng cách giữa “có tài khoản” và “sử dụng thực chất” cho thấy hiện tượng số hóa bề mặt xuất hiện ở cả phía cơ quan quản lý lẫn phía doanh nghiệp. Trong khi đó, 75,5% doanh nghiệp cho biết khó tiếp cận vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 2026) – một vấn đề có thể được giảm nhẹ nếu dữ liệu hóa đơn, thuế, giao dịch được khai thác để chấm điểm tín dụng.
Từ bốn biểu hiện trên, có thể khái quát: điểm nghẽn cốt lõi không nằm ở chủ trương hay thẩm quyền – vốn đã được mở rộng đáng kể mà ở kiến trúc quản lý vẫn được tổ chức theo từng thủ tục, từng cơ quan, chưa được tổ chức theo vòng đời doanh nghiệp trên nền dữ liệu dùng chung. Đây là nguyên nhân khiến những cải cách ở khâu tiếp nhận chưa lan tỏa tương xứng sang các khâu hỗ trợ và giám sát.
4. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế
Singapore tổ chức dịch vụ công cho doanh nghiệp theo “hành trình kinh doanh” trên cổng GoBusiness. Riêng giai đoạn cấp phép cho ngành dịch vụ ăn uống, số đầu mối doanh nghiệp phải làm việc giảm từ 14 cơ quan xuống còn một; thời gian chờ cấp phép giảm từ 12–16 tuần xuống dưới 4 tuần; số trường thông tin phải kê khai giảm từ tối đa 845 xuống 90. Cổng hiện cung cấp hơn 300 dịch vụ điện tử của hơn 40 cơ quan, kèm công cụ tư vấn điện tử chủ động gợi ý giấy phép, chương trình hỗ trợ phù hợp với từng doanh nghiệp (GovTech Singapore, 2024). Giá trị tham chiếu: tổ chức lại dịch vụ theo vòng đời doanh nghiệp, chuyển từ “doanh nghiệp đi tìm chính sách” sang “chính sách tìm đến doanh nghiệp”.
Tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc) xây dựng nền tảng dịch vụ công trực tuyến tích hợp cho doanh nghiệp, tuân thủ định hướng chung của trung ương nhưng chủ động thử nghiệm sáng kiến riêng, qua đó nâng cao hiệu quả hành chính và trải nghiệm của người sử dụng (Wei, 2024). Giá trị tham chiếu: một địa phương cấp tỉnh hoàn toàn có thể đi trước trong khuôn khổ thống nhất của quốc gia, Luật Thủ đô năm 2026 đã tạo cơ sở pháp lý cho Hà Nội.
Hàn Quốc triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát từ năm 2019 với sự tham gia của nhiều bộ, cho phép doanh nghiệp đưa sản phẩm, dịch vụ mới ra thị trường trước và áp dụng quy định phù hợp sau, thông qua các công cụ như cấp phép tạm thời, ngoại lệ đối với quy định hiện hành (Attrey et al., 2020). Giá trị tham chiếu: để Điều 19 Luật Thủ đô đi vào thực tiễn, cần tiêu chí lựa chọn rõ ràng, thời hạn xác định, cơ chế phối hợp liên ngành và lộ trình chuyển hóa kết quả thử nghiệm thành quy định chính thức.
Liên minh châu Âu xác lập nguyên tắc “chỉ khai một lần” trong Tuyên bố Tallinn về chính phủ điện tử năm 2017, theo đó cơ quan công quyền không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại thông tin đã có trong hệ thống (EU and EFTA Ministers, 2017). Giá trị tham chiếu: Nghị định số 296/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026 của Chính phủ đã đi theo hướng này ở khâu đăng ký doanh nghiệp; Hà Nội cần mở rộng nguyên tắc đó sang toàn bộ vòng đời doanh nghiệp.
Mẫu số chung của các kinh nghiệm trên là tầng nền dữ liệu và kiến trúc tổ chức theo người sử dụng luôn đi trước, dịch vụ đi sau. So với các trường hợp này, Hà Nội có dư địa pháp lý không nhỏ, thậm chí rộng hơn ở một số khía cạnh như quyền tạm thời không áp dụng một số quy định trong phạm vi thử nghiệm; điều còn thiếu là kiến trúc dữ liệu và năng lực vận hành tương xứng.
5. Kết luận và khuyến nghị
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tư nhân trong bối cảnh chuyển đổi số, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần thực hiện đồng bộ năm nhóm giải pháp sau.
Thứ nhất, sử dụng đầy đủ thẩm quyền đặc thù theo Luật Thủ đô để tái thiết kế thủ tục theo vòng đời doanh nghiệp. Mở rộng cách làm của Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND ngày 02/6/2026 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội từ đăng ký doanh nghiệp sang các nhóm thủ tục mà doanh nghiệp phản ánh nhiều nhất như đất đai, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy, môi trường; mỗi “sự kiện” trong vòng đời doanh nghiệp (gia nhập, mở rộng, chuyển đổi, rút lui) được thiết kế thành một gói thủ tục liên thông. Sớm ban hành quy định về tiêu chí, trình tự thử nghiệm có kiểm soát theo Điều 19 Luật Thủ đô, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ số, kinh tế xanh, đô thị thông minh, kèm cơ chế đánh giá độc lập và chuyển hóa kết quả.
Thứ hai, xây dựng hệ dữ liệu doanh nghiệp dùng chung của Thủ đô – khâu đột phá. Hệ dữ liệu này kết nối, đồng bộ dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm xã hội, đất đai, hóa đơn điện tử theo nguyên tắc “chỉ khai một lần”, tuân thủ Luật Dữ liệu và pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trên cơ sở đó, ban hành định nghĩa vận hành thống nhất về “doanh nghiệp đang hoạt động thực chất” để mọi chỉ tiêu, báo cáo dùng chung một thước đo; công bố định kỳ bộ chỉ báo về kinh tế tư nhân trên hệ thống điều hành của Thành phố và cổng dữ liệu mở. Đồng thời, làm sạch dữ liệu bằng cách hỗ trợ các chủ thể đã ngừng hoạt động hoàn tất thủ tục rút lui khỏi thị trường.
Thứ ba, chuyển hậu kiểm sang mô hình dựa trên rủi ro và dữ liệu. Xây dựng bộ tiêu chí và bản đồ rủi ro tuân thủ trên cơ sở hệ dữ liệu dùng chung; thực hiện nghiêm quy định kiểm tra không quá một lần trong năm, ưu tiên kiểm tra từ xa, miễn kiểm tra thực tế đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội; tích hợp kế hoạch thanh tra, kiểm tra của các sở, ngành và xã, phường trên một nền tảng duy nhất để chống chồng chéo và công khai cho doanh nghiệp theo dõi. Nguồn lực được giải phóng từ tiền kiểm cần được chuyển sang tăng cường năng lực phân tích dữ liệu và xử lý nghiêm vi phạm.
Thứ tư, nâng cao năng lực số của bộ máy, nhất là ở cấp xã. Chuẩn hóa quy trình số dùng chung cho 126 xã, phường đối với các thủ tục liên quan đến hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ; tổ chức bồi dưỡng bắt buộc về khai thác dữ liệu cho cán bộ trực tiếp quản lý; gắn đánh giá cán bộ với kết quả đầu ra đo bằng dữ liệu (thời gian giải quyết thực tế, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, mức độ hài lòng); cụ thể hóa cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung trong triển khai các cơ chế thử nghiệm.
Thứ năm, hỗ trợ chuyển đổi số khu vực tư nhân theo phân tầng. Với hộ kinh doanh: tiếp tục đồng hành sau khi xóa bỏ thuế khoán, hỗ trợ hóa đơn điện tử, kế toán số và khuyến khích chuyển đổi lên doanh nghiệp. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa: triển khai thực chất mục tiêu hỗ trợ chuyển đổi số cho khoảng 40.000 doanh nghiệp, tận dụng các chính sách hỗ trợ nền tảng kế toán số, đào tạo quản trị theo Nghị định số 20/2026/NĐ-CP ngày 15/01/2026 của Chính phủ, phát triển tín dụng dựa trên dữ liệu hóa đơn, thuế. Với doanh nghiệp công nghệ và khởi nghiệp sáng tạo: kết hợp cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, Quỹ đầu tư mạo hiểm của Thành phố và đặt hàng giải pháp số cho các bài toán quản trị đô thị. Song song, xây dựng công cụ tư vấn điện tử chủ động gợi ý chính sách phù hợp cho từng doanh nghiệp theo kinh nghiệm của Singapore.
Quản lý nhà nước về kinh tế tư nhân của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đang đứng trước thời cơ đặc biệt: chủ trương của Đảng đã rõ, thẩm quyền đặc thù theo Luật Thủ đô năm 2026 đã được trao, công nghệ số đã sẵn sàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Thành phố đã đạt bước tiến rõ rệt ở chức năng kiến tạo thể chế và khâu tiếp nhận thủ tục; tuy nhiên, điểm nghẽn cốt lõi là khoảng cách giữa số hóa thủ tục và quản trị bằng dữ liệu, thể hiện ở tầng nền dữ liệu phân tán, năng lực hậu kiểm chưa tương xứng, năng lực số cấp cơ sở và của chính khu vực tư nhân chưa đồng đều. Đóng góp mới của bài viết là đề xuất tiếp cận quản lý theo vòng đời doanh nghiệp trên nền dữ liệu, qua khung “ba chức năng – một tầng nền”, từ đó xác định xây dựng hệ dữ liệu doanh nghiệp dùng chung của Thủ đô gắn với hậu kiểm dựa trên rủi ro là khâu đột phá cần ưu tiên trong giai đoạn 2026-2030. Các nghiên cứu tiếp theo cần khảo sát định lượng tác động của từng cơ chế đặc thù theo Luật Thủ đô đối với chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và xây dựng bộ chỉ báo đánh giá chất lượng quản trị dựa trên dữ liệu ở cấp xã.
Tài liệu tham khảo:
Attrey, A., Lesher, M., & Lomax, C. (2020). The role of sandboxes in promoting flexibility and innovation in the digital age (Going Digital Toolkit Note No. 2). OECD Publishing.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2025). Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2026a). Nghị định số 20/2026/NĐ-CP ngày 15/01/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2026b). Nghị định số 296/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 về đăng ký doanh nghiệp.
Dunleavy, P., Margetts, H., Bastow, S., & Tinkler, J. (2006). New public management is dead—Long live digital-era governance. Journal of Public Administration Research and Theory, 16(3), 467–494. https://doi.org/10.1093/jopart/mui057
EU and EFTA Ministers. (2017). Ministerial declaration on eGovernment: The Tallinn Declaration. https://digital-strategy.ec.europa.eu/en/news/ministerial-declaration-egovernment-tallinn-declaration
Evans, P. (1995). Embedded autonomy: States and industrial transformation. Princeton University Press.
GovTech Singapore (2024). GoBusiness: Case study. Government Technology Agency of Singapore. https://www.developer.gov.sg/assets/files/gobusiness-case-study-Jan2024.pdf
Hạnh Phúc (22/7/2026). Luật Thủ đô mở thêm dư địa phát triển doanh nghiệp Hà Nội. Báo Đầu tư. https://baodautu.vn/luat-thu-do-mo-them-du-dia-phat-trien-doanh-nghiep-ha-noi-d650208.html
Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội (2026). Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND ngày 02/6/2026 quy định về việc điều chỉnh thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Janowski, T. (2015). Digital government evolution: From transformation to contextualization. Government Information Quarterly, 32(3), 221–236. https://doi.org/10.1016/j.giq.2015.07.001
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2026). Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025. https://api.vcci.com.vn/storage/filesvcci/6a06e39373a14.pdf
Linh Anh (25/6/2026). Hà Nội tăng tốc số hóa quản lý hộ kinh doanh, 98% hộ đã giao dịch thuế điện tử. Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập. https://doanhnghiephoinhap.vn/ha-noi-tang-toc-so-hoa-quan-ly-ho-kinh-doanh-98-ho-da-giao-dich-thue-dien-tu-141032.html
Mai Huyên, & Hải Linh (01/02/2026). Hà Nội quyết liệt thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW: Khơi thông động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Thủ đô. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn/ha-noi-quyet-liet-thuc-hien-nghi-quyet-68-nqtw-khoi-thong-dong-luc-quan-trong-nhat-cua-nen-kinh-te-thu-do-post940331.html
Mai Hữu (13/10/2026). Tháo điểm nghẽn gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Báo Kinh tế & Đô thị. https://kinhtedothi.vn/thao-diem-nghen-gia-nhap-thi-truong-cua-doanh-nghiep.990192.html
Mergel, I., Edelmann, N., & Haug, N. (2019). Defining digital transformation: Results from expert interviews. Government Information Quarterly, 36(4), Article 101385. https://doi.org/10.1016/j.giq.2019.06.002
Minh Sơn (27/6/2026). Hà Nội phấn đấu nâng tỷ trọng kinh tế số đạt tối thiểu 22% trong năm 2026. VietnamPlus. https://www.vietnamplus.vn/ha-noi-phan-dau-nang-ty-le-trong-kinh-te-so-dat-toi-thieu-22-trong-nam-2026-post1120847.vnp
Nguyên Trang (15/01/2026). Hà Nội cam kết đồng hành, phục vụ doanh nghiệp. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn/ha-noi-cam-ket-dong-hanh-phuc-vu-doanh-nghiep-post937190.html
OECD (2019). The path to becoming a data-driven public sector. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/059814a7-en
OECD (2020). The OECD digital government policy framework: Six dimensions of a digital government (OECD Public Governance Policy Papers No. 2). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/f64fed2a-en
O’Reilly, T. (2011). Government as a platform. Innovations: Technology, Governance, Globalization, 6(1), 13–40. https://doi.org/10.1162/INOV_a_00056
Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024.
Quốc hội (2025a). Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Đầu tư năm 2025.
Quốc hội (2025c). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2025.
Quốc hội (2025d). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quốc hội (2025e). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Quốc hội (2026). Luật Thủ đô năm 2026.
Thành ủy Hà Nội (2025). Kế hoạch hành động số 348-KH/TU ngày 03/7/2025 thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Trần Linh (28/7/2026). Hà Nội công khai hơn 150.000 mã số thuế ngừng hoạt động, cảnh báo nhiều rủi ro pháp lý. Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập. https://doanhnghiephoinhap.vn/ha-noi-cong-khai-hon-150000-ma-so-thue-ngung-hoat-dong-canh-bao-nhieu-rui-ro-phap-ly-144504.html
Trâm Anh (23/02/2026). Hà Nội tích cực khơi dậy động lực cho kinh tế tư nhân bứt phá. VCCI. https://www.vcci.com.vn/tin-tuc/ha-noi-tich-cuc-khoi-day-dong-luc-cho-kinh-te-tu-nhan-but-pha
TTXVN/VietnamPlus (07/8/2025). Chuyển đổi số doanh nghiệp Việt Nam: Chính sách hỗ trợ cần thiết. VietnamPlus. https://www.vietnamplus.vn/chuyen-doi-so-trong-doanh-nghiep-can-su-ho-tro-tu-chinh-sach-post1054268.vnp
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2025a). Kế hoạch số 196/KH-UBND ngày 24/7/2025 thực hiện Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2025b). Quyết định số 5418/QĐ-UBND ngày 01/11/2025 phê duyệt Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026–2030.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hà Nội năm 2025.
Văn Anh (08/4/2026). Hà Nội: Tạo bước chuyển căn bản trong cải cách hành chính, hướng tới phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp. Báo Đại biểu Nhân dân. https://daibieunhandan.vn/ha-noi-tao-buoc-chuyen-can-ban-trong-cai-cach-hanh-chinh-huong-toi-phuc-vu-tot-hon-nguoi-dan-va-doanh-nghiep-10412637.html
Văn Anh (24/9/2026). Hà Nội nâng cao hiệu quả kinh tế tư nhân từ cải thiện môi trường kinh doanh. Báo Đại biểu Nhân dân. https://daibieunhandan.vn/ha-noi-nang-cao-hieu-qua-kinh-te-tu-nhan-tu-cai-thien-moi-truong-kinh-doanh-10431628.html
Wei, W. (2024). Digitalization of government services for a better business environment in China: A case study on the reform experience of Zhejiang Province. World Bank. https://hdl.handle.net/10986/41326



