Chuyển đổi số kế toán và quản trị tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa tại vùng Trung Bộ – Tây Nguyên

Digital transformation in accounting and financial management among small and medium-sized enterprises in Central Vietnam and the Central Highlands

                                                                                 ThS. Lê Thị Thúy Hồng
Trường Đại học Điện lực
Email: hongltt@epu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích vai trò của chuyển đổi số kế toán đối với năng lực quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực tư nhân vùng Trung Bộ – Tây Nguyên. Trên cơ sở số liệu thứ cấp về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, chuyển đổi số và quy mô doanh nghiệp, bài viết cho thấy chuyển đổi số kế toán chỉ phát huy tác dụng khi dữ liệu tài chính được chuẩn hóa, liên thông và dùng cho quyết định quản trị. Bốn vấn đề chủ yếu là quy mô nhỏ, nhân lực kế toán kiêm nhiệm, dữ liệu phân tán và chuyển đổi số không đồng đều. Từ đó, đề xuất giải pháp cho cơ quan quản lý địa phương, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cơ sở đào tạo, đơn vị tư vấn và nhà cung cấp nền tảng số.

Từ khóa: Chuyển đổi số kế toán; quản trị tài chính; kinh tế tư nhân; doanh nghiệp nhỏ và vừa; Trung Bộ – Tây Nguyên.

Abstract: This article examines the role of accounting digital transformation in strengthening the financial management capacity of small and medium-sized enterprises in Central Vietnam and the Central Highlands. Drawing on secondary data on provincial competitiveness, digital transformation readiness and enterprise scale, the article shows that digital accounting is effective only when financial data are standardized, interconnected and used for management decisions. The main issues are small business size, part-time accounting staff, fragmented data, and uneven digital transformation levels across localities. The article proposes solutions for local authorities, enterprises, household businesses converting into enterprises, training institutions, accounting advisory firms and digital platform providers.

Keywords: Accounting digital transformation; financial management; private sector; small and medium-sized enterprises; Central Vietnam and the Central Highlands.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế tư nhân giữ vai trò ngày càng rõ trong phát triển kinh tế vùng và địa phương. Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực nội sinh của doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực tư nhân. Năng lực ấy gồm vốn, lao động và thị trường, nhưng cũng gồm trình độ quản trị, năng lực tài chính, khả năng ứng dụng công nghệ và mức độ minh bạch thông tin.

Ở vùng Trung Bộ – Tây Nguyên, khu vực tư nhân tạo việc làm, huy động nguồn lực xã hội và mở rộng thương mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, chế biến. Trên phạm vi cả nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm gần 98% trong tổng số hơn 940 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động, cùng với hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể (Báo điện tử Chính phủ, 2025). Với tỷ trọng áp đảo như vậy, chất lượng quản trị tài chính của nhóm này quyết định phần lớn sức chống chịu của khu vực tư nhân, và chuyển đổi số kế toán là một công cụ để nâng chất lượng đó.

Chuyển đổi số không giản đơn là mua phần mềm, dùng hóa đơn điện tử hay kê khai thuế điện tử. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nó chỉ có ý nghĩa khi giúp tổ chức lại dữ liệu, chuẩn hóa quy trình, kiểm soát hoạt động và nâng cao chất lượng ra quyết định. Kế toán là điểm bắt đầu hợp lý vì là nơi tập hợp và phản ánh thông tin về doanh thu, chi phí, công nợ, dòng tiền và nghĩa vụ thuế.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, vùng có các địa phương với địa giới mới, như: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Lâm Đồng. Dữ liệu và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vì vậy phải cập nhật theo địa giới mới. Ở doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, kế toán vẫn chủ yếu được nhìn nhận như việc ghi chép chứng từ, kê khai thuế và lập báo cáo theo yêu cầu pháp luật. Chức năng cung cấp thông tin cho quản trị, kiểm soát chi phí, quản trị dòng tiền và cảnh báo rủi ro tài chính chưa được khai thác đầy đủ.

Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc độ kế toán, kiểm toán và quản trị tài chính doanh nghiệp, nhằm làm rõ vai trò của chuyển đổi số kế toán đối với năng lực quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhận diện những khó khăn chủ yếu ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên, và đề xuất giải pháp cho 5 nhóm chủ thể: cơ quan quản lý địa phương, doanh nghiệp, hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và tư vấn, nhà cung cấp nền tảng số. Bài viết trả lời hai câu hỏi: chuyển đổi số kế toán tác động thế nào đến các khâu của quản trị tài chính ở doanh nghiệp nhỏ và vừa; và điều kiện địa phương sau sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành chính quyền hai cấp, đòi hỏi cách hỗ trợ doanh nghiệp ra sao.

2. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

2.1. Chuyển đổi số kế toán và năng lực quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, kế toán thường được nhìn nhận trước hết như yêu cầu bắt buộc để ghi nhận chứng từ, kê khai thuế và lập báo cáo tài chính. Cách tiếp cận này không sai nhưng chưa đủ. Khi quy mô giao dịch tăng, công nợ phức tạp hơn, chi phí phát sinh ở nhiều khâu hơn, việc điều hành bằng kinh nghiệm sẽ bộc lộ giới hạn; lúc đó kế toán phải trở thành hệ thống thông tin phục vụ quản trị.

Chuyển đổi số kế toán có thể hiểu là quá trình ứng dụng công nghệ số để tổ chức lại việc thu thập, xử lý, lưu trữ, kết nối, phân tích và cung cấp thông tin kế toán, tài chính trong doanh nghiệp. Điểm cốt lõi không nằm ở việc có dùng phần mềm hay không, mà ở chỗ dữ liệu kế toán có được chuẩn hóa, cập nhật, liên thông và khai thác cho quyết định quản trị hay không. Cách hiểu này phù hợp với Luật Kế toán năm 2015 (Quốc hội, 2015), coi kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển đổi số kế toán thường bắt đầu từ số hóa chứng từ, hóa đơn, hợp đồng, chứng từ ngân hàng và hồ sơ thuế, giúp dễ tra cứu và đối chiếu khi làm việc với cơ quan thuế, ngân hàng hoặc đối tác. Tiếp đến là phần mềm kế toán phù hợp quy mô, dùng để nhập liệu và để theo dõi doanh thu, chi phí, công nợ, tồn kho, tiền lương, nghĩa vụ thuế và báo cáo tài chính. Ở mức cao hơn là kết nối dữ liệu giữa bán hàng, kho, ngân hàng, hóa đơn điện tử, thuế điện tử và kế toán.

Năng lực quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể hiểu là khả năng tổ chức, kiểm soát và sử dụng các nguồn lực tài chính để bảo đảm hoạt động kinh doanh ổn định, hiệu quả và có khả năng phát triển. Năng lực này thể hiện ở lập kế hoạch tài chính, quản trị dòng tiền, kiểm soát chi phí, quản lý công nợ, sử dụng vốn, thực hiện nghĩa vụ thuế, phòng ngừa rủi ro và minh bạch thông tin với ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp. Năng lực này thường bị giới hạn vì bộ máy quản trị gọn, chủ doanh nghiệp kiêm nhiều việc, nhân sự kế toán ít và phụ thuộc vào dịch vụ bên ngoài hoặc kinh nghiệm cá nhân. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 (Quốc hội, 2017) xác định nâng cao năng lực quản trị và khả năng tiếp cận nguồn lực là yêu cầu nền tảng của việc hỗ trợ nhóm doanh nghiệp này.

Thông tin kế toán và quyết định quản trị có quan hệ trực tiếp. Nhận hợp đồng lớn, cho khách hàng nợ dài hơn hay vay vốn đầu tư đều cần số liệu kế toán làm căn cứ; nếu thông tin chậm hoặc thiếu chính xác, quyết định dễ rơi vào cảm tính. Khi chứng từ được lưu trữ có hệ thống, hóa đơn và giao dịch ngân hàng được đối chiếu thường xuyên, doanh nghiệp vừa lập được báo cáo đáng tin cậy, vừa theo dõi được chi phí bất thường, công nợ và tồn kho chậm luân chuyển. Minh bạch tài chính vì vậy gồm báo cáo đúng quy định và khả năng giải trình về doanh thu, chi phí và dòng tiền.

Về khung pháp lý, Thông tư số 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp, còn doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện có chế độ kế toán riêng theo Thông tư số 133/2016/TT-BTC. Bộ Tài chính đã lấy ý kiến về dự thảo thông tư thay thế Thông tư số 133/2016/TT-BTC; theo thông tin báo chí, thông tư mới dự kiến ban hành cuối năm 2026 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2028 (MISA, 2026). Dù thông tư thay thế chưa có hiệu lực, hướng đi đã rõ: dữ liệu kế toán phải chuẩn hóa, truy xuất được và giải trình được.

Từ các nội dung trên có thể hình dung một chuỗi quan hệ: chuyển đổi số kế toán tạo ra dữ liệu tài chính có chất lượng hơn; dữ liệu tốt giúp quản trị dòng tiền, chi phí, công nợ, thuế tốt hơn; quản trị tốt lại nâng cao năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của doanh nghiệp.

2.2. Tổng quan nghiên cứu

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy, kế toán số và hệ thống thông tin kế toán có liên hệ tích cực với chất lượng báo cáo tài chính, tính hữu ích của thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kể cả ở doanh nghiệp nhỏ và vừa (Phornlaphatrachakorn & Kalasindhu, 2021; Al-Hattami & Almaqtari, 2023; Kareem & cộng sự, 2024; Vo Van & cộng sự, 2026). Số hóa và dữ liệu lớn cũng làm thay đổi cách tạo lập và sử dụng thông tin kế toán, từ ghi nhận sang hỗ trợ quyết định (Bhimani & Willcocks, 2014).

Các nghiên cứu trong nước cung cấp bằng chứng định lượng khá nhất quán. Hà Tú Quyên và Vũ Thị Thu Hà (2026) với 268 phiếu hợp lệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa cho thấy chuyển đổi số tác động tích cực đến hiệu quả quản lý tài chính, một phần thông qua chất lượng quyết định tài chính (tác động gián tiếp β = 0,409; p < 0,001); mô hình giải thích 56,3% biến thiên của hiệu quả quản lý tài chính. Lê Thị Hạnh và Hà Thị Thủy (2026) với 260 phiếu khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chuyển đổi số trong kế toán tác động tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính (β = 0,498) và hiệu quả hoạt động (β = 0,185); quy mô và thời gian hoạt động của doanh nghiệp có tác động điều tiết âm, hàm ý doanh nghiệp nhỏ, mới hoạt động có nhiều dư địa hưởng lợi hơn. Đào Thị Hồng Nhung (2026) với 229 đối tượng khảo sát tại các doanh nghiệp sản xuất ở Đồng Nai chỉ ra năng lực thực thi của kế toán viên là biến trung gian có ý nghĩa giữa kế toán số và phát triển bền vững (tác động gián tiếp β = 0,280; p < 0,001). Nguyễn Thị Tô Phượng và Nguyễn Quang Hưng (2025) với 452 phiếu ở Hà Nội cho thấy công nghệ thông tin (β = 0,466) và sự tham gia của nhà quản lý (β = 0,387) tác động mạnh nhất đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán; năng lực đội ngũ kế toán cũng có tác động dương đến chất lượng thông tin (β = 0,164). Vũ Thị Thu Hiền (2026) nhấn mạnh công nghệ số nâng cao chất lượng thông tin kế toán, đồng thời cần giải quyết các vấn đề về chi phí, nhân lực, an toàn dữ liệu và kiểm soát nội bộ.

Phần lớn nghiên cứu tập trung vào các đô thị lớn hoặc phạm vi cả nước. Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên, với đặc điểm doanh nghiệp quy mô nhỏ, nhiều hộ kinh doanh và địa giới hành chính vừa thay đổi, chưa được phân tích riêng. Bài viết đi vào khoảng trống này, đặt chuyển đổi số kế toán trong bối cảnh quản lý nhà nước ở địa phương.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và số liệu thứ cấp, kết hợp so sánh giữa các địa phương, qua bốn bước: hệ thống hóa các văn bản pháp luật về kế toán, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hóa đơn điện tử và phân định thẩm quyền của chính quyền hai cấp; tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước; phân tích số liệu về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh năm 2024 và số liệu về doanh nghiệp, hộ kinh doanh của năm địa phương tiêu biểu là Đà Nẵng, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng; từ đó đề xuất giải pháp theo từng nhóm chủ thể. Các chỉ số được dùng làm thước đo môi trường hỗ trợ và mức độ chuyển đổi số của địa phương, nơi doanh nghiệp hoạt động; trên cơ sở đó, bài viết đánh giá điều kiện chuyển đổi số kế toán của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong vùng.

3. Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Từ các nguồn đã nêu, có thể nhận diện bốn vấn đề chủ yếu đối với chuyển đổi số kế toán và quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Trung Bộ và Tây Nguyên.

Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp nhỏ, khu vực hộ kinh doanh còn lớn, trong khi yêu cầu chuẩn hóa quản trị tài chính ngày càng cao. Cả nước có hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể, tăng 51,5% so với tháng 6/2022; nhiều hộ hoạt động không có hóa đơn chính thức, khiến doanh nghiệp mua hàng khó xác định chi phí được trừ (Báo điện tử Chính phủ, 2025). Các địa phương ven biển, đô thị như: Đà Nẵng, Khánh Hòa có thương mại, dịch vụ khá phát triển. Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng có nhiều hoạt động gắn với nông nghiệp, chế biến, du lịch và kinh tế hộ. Với quy mô như vậy, nhu cầu hỗ trợ ghi chép doanh thu, chi phí, công nợ, dòng tiền và tách bạch tài chính cá nhân với tài chính kinh doanh ở khu vực hộ kinh doanh là rất lớn. Sau sắp xếp, dữ liệu kế toán, thuế, đăng ký kinh doanh và dịch vụ hỗ trợ cũng cần được chuẩn hóa lại theo địa bàn mới.

Thứ hai, nhân lực kế toán và năng lực khai thác thông tin tài chính còn mỏng. Trong doanh nghiệp nhỏ, kế toán thường phải làm cùng lúc chứng từ, hóa đơn, thuế, tiền lương, bảo hiểm, công nợ, ngân hàng và báo cáo tài chính; ở doanh nghiệp siêu nhỏ, đó có thể là nhân sự kiêm nhiệm hoặc dịch vụ thuê ngoài. Nghiên cứu tại Nghệ An với 246 doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cho thấy dịch vụ kế toán thuê ngoài được lựa chọn vì tiết kiệm chi phí lương và đào tạo (Nguyễn Văn Hải & cộng sự, 2024). Để lựa chọn này phát huy giá trị, doanh nghiệp cần nhận từ đơn vị dịch vụ không chỉ báo cáo thuế mà cả thông tin quản trị. Kết quả của Hà Tú Quyên và Vũ Thị Thu Hà (2026) cho thấy giá trị của số hóa đi qua chất lượng quyết định tài chính. Nói cách khác, phần mềm kế toán chỉ tạo giá trị khi chủ doanh nghiệp nhận được thông tin về dòng tiền, biên lợi nhuận, công nợ quá hạn và hiệu quả từng khách hàng.

Thứ ba, mức độ sẵn sàng chuyển đổi số và môi trường kinh doanh giữa các địa phương còn khác nhau. Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh năm 2024 cho thấy điều kiện chuyển đổi số của các địa phương trong vùng không đồng đều (Cục Chuyển đổi số quốc gia, 2024). Chỉ số này phản ánh mức độ chuyển đổi số của chính quyền, kinh tế và xã hội, tức là nền tảng hạ tầng và dịch vụ số mà doanh nghiệp có thể tận dụng; khoảng cách giữa Khánh Hòa (hạng 16/34) và Gia Lai (hạng 31/34) là 15 bậc. Ở xa trung tâm đô thị, doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu thêm chi phí đường truyền, phần mềm và hỗ trợ kỹ thuật, đồng thời còn thói quen quản lý bằng sổ sách (xem Bảng 1).

Bảng 1. Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh năm 2024 của một số địa phương

Địa phươngĐiểm theo 63 tỉnh, thành (địa giới cũ)Điểm theo 34 tỉnh, thành (sau sáp nhập)Thứ hạng trong 34 tỉnh, thành
Khánh Hòa–0,707116
Đà Nẵng0,8335 (hạng 2)0,706917
Lâm Đồng–0,672924
Đắk Lắk–0,641029
Gia Lai–0,612931
Bình Định (địa giới cũ)0,6970 (hạng 37)––
Nguồn: Cục Chuyển đổi số quốc gia (2024).

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xem xét các khía cạnh như gia nhập thị trường, tính minh bạch, chi phí thời gian, cạnh tranh bình đẳng và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Năm 2024, Đà Nẵng đạt 69,24 điểm, xếp thứ 15/63 (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 2025); Đắk Lắk đạt 65,1 điểm, xếp thứ 53/63 theo công bố của tỉnh (Kim Bảo, 2025), thấp hơn Đà Nẵng 4,14 điểm. Cả hai địa phương có điểm tương đối cao về gia nhập thị trường và chi phí thời gian (Bảng 2); khoảng cách lớn nhất nằm ở cạnh tranh bình đẳng (5,57 so với 4,60 điểm) và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (7,66 so với 6,74 điểm), cùng chênh gần một điểm; chính sách hỗ trợ là lĩnh vực mà chuyển đổi số kế toán có thể được lồng ghép. Khi chính quyền địa phương vận hành hai cấp, cải cách thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến và hướng dẫn thuế ở cấp xã, phường, đặc khu sẽ tác động trực tiếp hơn đến hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ (xem Bảng 2).

Bảng 2. Một số chỉ số thành phần của Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2024 (điểm)

Chỉ số thành phầnĐà NẵngĐắk Lắk
Gia nhập thị trường8,057,65
Chi phí thời gian8,077,69
Cạnh tranh bình đẳng5,574,60
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp7,666,74
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2025), hồ sơ tỉnh trên pcivietnam.vn.

Thứ tư, minh bạch tài chính, tiếp cận vốn, tuân thủ thuế và sử dụng dữ liệu cho quản trị còn nhiều dư địa cải thiện. Khi dữ liệu tài chính nằm rải rác giữa phần mềm bán hàng, tệp Excel, tài khoản ngân hàng, hóa đơn điện tử, chứng từ giấy và phần mềm kế toán mà không được kết nối, đối chiếu thường xuyên, doanh nghiệp dễ gặp những nghịch lý quen thuộc: doanh thu tăng nhưng lợi nhuận giảm, có lãi trên sổ sách nhưng thiếu tiền mặt, nhiều khách hàng nhưng công nợ kéo dài. Vũ Thị Thu Hiền (2026) cũng chỉ ra rằng kết nối hệ thống và kiểm soát nội bộ là hai điều kiện để số hóa kế toán phát huy hiệu quả.

Khả năng tiếp cận vốn phụ thuộc nhiều vào chất lượng hồ sơ tài chính. Ngoài tài sản bảo đảm và lãi suất, rào cản còn nằm ở khả năng chứng minh năng lực tài chính: ngân hàng cần báo cáo đáng tin cậy, dòng tiền rõ, doanh thu có căn cứ và công nợ được kiểm soát. Chuyển đổi số kế toán giúp xây dựng hồ sơ tốt hơn, dù không tự động giải quyết vấn đề vốn. Khi hóa đơn điện tử, kê khai thuế điện tử và quản lý thuế dựa trên dữ liệu được mở rộng, nếu hóa đơn, hợp đồng, chứng từ thanh toán và dữ liệu kế toán không khớp nhau, doanh nghiệp dễ gặp rủi ro khi kê khai và giải trình. Với hộ kinh doanh, dùng chung tài khoản cá nhân cho thu, chi kinh doanh và sinh hoạt làm dữ liệu thiếu rõ ràng khi cần vay vốn.

Những vấn đề trên cho thấy chuyển đổi số kế toán ở vùng cần bắt đầu từ chuẩn hóa chứng từ, dữ liệu, dòng tiền, công nợ và nghĩa vụ thuế, thay vì dừng ở việc trang bị phần mềm. Trong bối cảnh chính quyền hai cấp, giải pháp cần chú ý nhiều hơn đến cấp xã, phường, đặc khu, nơi tiếp xúc trực tiếp với hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ.

4. Định hướng và giải pháp chủ yếu

4.1. Đối với cơ quan quản lý địa phương

Cần đưa chuyển đổi số kế toán vào các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì chỉ dừng ở thương mại điện tử, chữ ký số, hóa đơn điện tử hay dịch vụ công trực tuyến. Chủ thể thực hiện cần xác định theo mô hình hai cấp, gồm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, đặc khu, cơ quan thuế, trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp. Nghị định số 125/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính cho thấy việc hỗ trợ doanh nghiệp về tài chính, ngân sách, giá, kế toán, thuế và tài sản công cần được tổ chức lại cho phù hợp.

Các địa phương nên tập huấn ngắn, thiết thực, theo nhóm ngành và quy mô doanh nghiệp: với thương mại, nhấn vào hàng tồn kho, công nợ, hóa đơn và biên lợi nhuận; với dịch vụ, chú ý hợp đồng, doanh thu theo kỳ và chi phí nhân công; với nông nghiệp, chế biến, chú ý chi phí đầu vào, mùa vụ và dòng tiền gián đoạn. Cần phối hợp với cơ quan thuế hướng dẫn hóa đơn điện tử, kê khai thuế điện tử, lưu trữ chứng từ số và cập nhật chế độ kế toán doanh nghiệp từ năm 2026, bằng tài liệu ngắn, có ví dụ cụ thể, tránh phổ biến văn bản theo lối hành chính.

4.2. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Định hướng cốt lõi là chuyển từ “kế toán để tuân thủ” sang “kế toán để quản trị”. Chủ doanh nghiệp, bộ phận kế toán và các nhân sự quản lý cần coi kế toán là hệ thống thông tin phục vụ điều hành, không chỉ là bộ phận làm sổ sách và kê khai thuế. Doanh nghiệp nên chuẩn hóa quy trình chứng từ, doanh thu, chi phí, công nợ và dòng tiền trước khi đầu tư sâu vào phần mềm: ai lập, ai kiểm tra, ai phê duyệt chứng từ, lưu ở đâu, thanh toán qua tài khoản nào, công nợ cập nhật theo kỳ nào.

Công cụ kế toán số cần phù hợp với quy mô, không nhất thiết phức tạp, nhưng phải theo dõi được doanh thu, chi phí, công nợ phải thu, phải trả, dòng tiền, hàng tồn kho, nghĩa vụ thuế và kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp nên có bộ báo cáo quản trị tối thiểu gồm dòng tiền theo tuần hoặc tháng, công nợ theo tuổi nợ, doanh thu theo khách hàng, chi phí theo nhóm và lãi, lỗ theo đơn hàng hoặc dịch vụ.

4.3. Đối với hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp

Chuyển đổi hình thức pháp lý cần đi cùng chuẩn bị năng lực kế toán, thuế và quản trị tài chính ban đầu, vì khi lên doanh nghiệp, yêu cầu về hóa đơn, chứng từ, tài khoản, báo cáo và nghĩa vụ thuế chặt chẽ hơn. Trong mô hình hai cấp, Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu và cơ quan thuế khu vực cần là điểm hỗ trợ gần, nhất là hướng dẫn ban đầu về hóa đơn điện tử, thuế và ghi chép kế toán. Cần hỗ trợ hộ kinh doanh mở tài khoản riêng cho hoạt động kinh doanh và ghi nhận doanh thu, chi phí, công nợ, nghĩa vụ thuế. Công cụ càng đơn giản càng dễ duy trì: có thể bắt đầu bằng phần mềm kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ, kết hợp ứng dụng hóa đơn điện tử và bảng theo dõi dòng tiền, công nợ, chi phí; khi dữ liệu ổn định mới nâng cấp hệ thống quản trị.

4.4. Đối với cơ sở đào tạo, hiệp hội nghề nghiệp và đơn vị tư vấn kế toán

Các trường đại học, cao đẳng, cơ sở đào tạo nghề kế toán, hội kế toán, hội kiểm toán, hiệp hội doanh nghiệp và đơn vị tư vấn cần tham gia nâng cao năng lực kế toán số cho doanh nghiệp. Cơ sở đào tạo nên mở khóa ngắn hạn, thiên về thực hành, dùng tình huống gần với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, cập nhật chế độ kế toán mới, hóa đơn điện tử, dữ liệu thuế, báo cáo quản trị và kiểm soát nội bộ. Đơn vị tư vấn cần chuyển từ dịch vụ kê khai thuế đơn thuần sang tư vấn quản trị tài chính cơ bản: báo cáo quản trị định kỳ, quy trình chứng từ, cảnh báo công nợ, lựa chọn phần mềm và lưu trữ chứng từ số.

4.5. Đối với nhà cung cấp phần mềm kế toán và nền tảng số

Sản phẩm cần được thiết kế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, không chỉ cho doanh nghiệp có bộ máy quản trị hoàn chỉnh: dễ dùng, chi phí hợp lý, triển khai nhanh, có hướng dẫn đơn giản và hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, nền tảng phải cập nhật mã địa bàn, thông tin cơ quan thuế, địa chỉ hành chính mới và phân quyền người dùng. Mức độ tích hợp dữ liệu hóa đơn điện tử, bán hàng, kho, ngân hàng, công nợ, thuế và báo cáo tài chính có thể theo từng gói, miễn là giảm nhập liệu lặp lại và sai sót. Cần có báo cáo quản trị dễ đọc cho chủ doanh nghiệp và gói riêng cho hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, kèm hướng dẫn sau triển khai.

4.6. Lộ trình và chỉ tiêu theo dõi

Lộ trình ba giai đoạn giúp doanh nghiệp bắt đầu với chi phí thấp và mở rộng dần. Giai đoạn đầu chuẩn hóa chứng từ và tài khoản thanh toán; giai đoạn hai chọn công cụ phù hợp và xây dựng báo cáo quản trị tối thiểu; giai đoạn ba liên thông dữ liệu giữa bán hàng, kho, ngân hàng, hóa đơn điện tử, thuế và kế toán. Về phía quản lý, nên bắt đầu từ các xã, phường, đặc khu có nhiều hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, kết hợp tập huấn với hướng dẫn thuế tại chỗ. Tiến độ có thể theo dõi bằng ba chỉ tiêu: tỷ lệ doanh nghiệp có báo cáo dòng tiền và công nợ theo tháng, tỷ lệ hộ kinh doanh có tài khoản riêng cho hoạt động kinh doanh, và tỷ lệ hồ sơ vay vốn có báo cáo tài chính hợp lệ.

5. Kết luận

Phân tích cho thấy chuyển đổi số kế toán chỉ phát huy tác dụng khi dữ liệu tài chính được chuẩn hóa, liên thông và dùng cho quyết định quản trị; trang bị phần mềm chưa đủ. Các khảo sát gần đây khá nhất quán về điều này: chuyển đổi số trong kế toán tác động dương đến chất lượng báo cáo tài chính (β = 0,498) và hiệu quả hoạt động (β = 0,185), còn mô hình của Hà Tú Quyên và Vũ Thị Thu Hà giải thích 56,3% biến thiên của hiệu quả quản lý tài chính. Ở vùng Trung Bộ – Tây Nguyên, nhu cầu này lớn vì doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm gần 98% số doanh nghiệp cả nước, hộ kinh doanh cá thể vượt 5 triệu, trong khi điều kiện số giữa các địa phương cách nhau tới 15 bậc: Khánh Hòa đứng thứ 16, Gia Lai thứ 31 trong 34 tỉnh, thành phố.

Từ đó, bài viết kiến nghị đưa chuyển đổi số kế toán thành một nội dung của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp ở địa phương, thiết kế theo nhóm đối tượng và mức độ sẵn sàng của từng nơi. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, cấp tỉnh xây dựng chương trình, cấp xã, phường, đặc khu và cơ quan thuế hướng dẫn trực tiếp hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ; cơ sở đào tạo, hiệp hội và đơn vị tư vấn cung cấp tri thức chuyên môn; nhà cung cấp phần mềm làm công cụ dễ dùng, chi phí hợp lý. Điểm khởi đầu không đòi hỏi vốn lớn: chuẩn hóa chứng từ, tách tài khoản kinh doanh khỏi tài khoản cá nhân và lập bộ báo cáo quản trị tối thiểu là ba việc doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh có thể thực hiện thuận lợi, góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả kinh doanh trong kỷ nguyên mới./.

Tài liệu tham khảo:
Al-Hattami, H. M., & Almaqtari, F. A. (2023). What determines digital accounting systems’ continuance intention? An empirical investigation in SMEs. Humanities and Social Sciences Communications, Vol. 10, Article 814.
Báo điện tử Chính phủ (11/4/2025). Thêm một triệu doanh nghiệp: Tiềm năng lớn từ 5 triệu hộ kinh doanh. https://baochinhphu.vn/them-mot-trieu-doanh-nghiep-tiem-nang-lon-tu-5-trieu-ho-kinh-doanh-102250411152125423.htm
Bhimani, A., & Willcocks, L. (2014). Digitisation, “Big Data” and the transformation of accounting information. Accounting and Business Research, Vol. 44, No. 4, pp. 469 – 490.
Bộ Tài chính (2025). Thông tư số 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp.
Cục Chuyển đổi số quốc gia (2024). Xếp hạng mức độ chuyển đổi số năm 2024 các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. https://dti.gov.vn/xep-hang-2024
Đào Thị Hồng Nhung (30/6/2026). Ảnh hưởng của kế toán số đến phát triển bền vững của doanh nghiệp sản xuất tại thành phố Đồng Nai. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/30/anh-huong-cua-ke-toan-so-den-phat-trien-ben-vung-cua-doanh-nghiep-san-xuat-tai-thanh-pho-dong-nai/
Hà Tú Quyên, & Vũ Thị Thu Hà (10/9/2026). Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả quản lý tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Vai trò trung gian của chất lượng quyết định tài chính. https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/tac-dong-cua-chuyen-doi-so-den-hieu-qua-quan-ly-tai-chinh-cua-doanh-nghiep-nho-va-vua-vai-tro-trung-gian-cua-chat-luong-quyet-dinh-tai-chinh-166615.html
Kareem, H. M., Alsheikh, A. H., Alsheikh, W. H., Dauwed, M., & Meri, A. (2024). The mediating role of accounting information systems in small and medium enterprise strategies and organizational performance in Iraq. Humanities and Social Sciences Communications, Vol. 11, Article 745.
Kim Bảo (06/5/2025). Công bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2024 của Đắk Lắk: Nhiều chỉ số thành phần có sự cải thiện. Cổng thông tin điện tử tỉnh Đắk Lắk. https://daklak.gov.vn
Lê Thị Hạnh & Hà Thị Thủy (10/9/2026). Tác động của chuyển đổi số trong kế toán đến chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/09/10/tac-dong-cua-chuyen-doi-so-trong-ke-toan-den-chat-luong-bao-cao-tai-chinh-va-hieu-qua-hoat-dong-cua-cac-doanh-nghiep-nho-va-vua-tai-tp-ho-chi-minh/
MISA (2026). Hơn 3.000 kế toán doanh nghiệp bàn thảo về dự thảo thông tư thay thế Thông tư 133. MISA. https://www.misa.vn
Nguyễn Thị Tô Phượng & Nguyễn Quang Hưng (10/6/2025). Nghiên cứu về chất lượng hệ thống thông tin kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/06/10/nghien-cuu-ve-chat-luong-he-thong-thong-tin-ke-toan-trong-cac-doanh-nghiep-nho-va-vua-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi/
Nguyễn Văn Hải, Bùi Văn Thụy, Nguyễn Như Hoàng, Nguyễn Việt Thái, Nguyễn Thị Phương Mai, & Lê Thị Thanh Thanh (18/9/2024). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn dịch vụ kế toán của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trên địa bàn tỉnh Nghệ An. https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/nghien-cuu-cac-nhan-to-anh-huong-de-n-su-lu-a-cho-n-di-ch-vu-ke-toa-n-cu-a-ca-c-doanh-nghiep-nho-va-sieu-nho-tren-dia-ban-tinh-nghe-an-80386.html
Phornlaphatrachakorn, K., & Kalasindhu, K. N. (2021). Digital accounting, financial reporting quality and digital transformation: Evidence from Thai listed firms. Journal of Asian Finance, Economics and Business, Vol. 8, No. 8, pp. 409 – 419.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2025). Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2024. https://pcivietnam.vn
Quốc hội (2015). Luật Kế toán năm 2015.
Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.
Vo Van, H., Abu Afifa, M., & Saleh, I. (2026). Accounting information systems and organizational performance in the cloud computing era: Evidence from SMEs. Sustainability Accounting, Management and Policy Journal, Vol. 17, No. 1, pp. 267 – 299. https://doi.org/10.1108/SAMPJ-01-2024-0044
Vũ Thị Thu Hiền (29/8/2026). Ứng dụng công nghệ số trong kế toán tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/08/29/ung-dung-cong-nghe-so-trong-ke-toan-tai-chinh-cua-doanh-nghiep-nho-va-vua-o-viet-nam/.