Liên kết chủ thể trong phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam: Tiếp cận cộng sinh công nghiệp

Actor linkages in circular economy development in Vietnam: An industrial symbiosis perspective

PGS.TS Nguyễn Thế Kiên
Viện Nghiên cứu kinh tế, kinh doanh và đổi mới sáng tạo
Email: nguyenthekien@vnu.edu.vn
TS. Vũ Thị Bích Ngọc, ThS. Nguyễn Chu Du
Trường Đại học Công đoàn
TS. Trần Thị Mai
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanươc.vn) – Bài viết phân tích liên kết chủ thể trong phát triển kinh tế tuần hoàn ở lĩnh vực công nghiệp tại Việt Nam theo tiếp cận cộng sinh công nghiệp. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát năm 2025 của đề tài cấp quốc gia với 1.600 trường hợp tại 8 tỉnh, thành phố và thống kê mô tả các kết quả liên quan trực tiếp đến công nghiệp. Kết quả cho thấy liên kết mạnh nhất ở xử lý – thu gom, trong khi chia sẻ công nghệ, kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực thấp hơn. Bài viết chỉ ra khoảng cách giữa liên kết tác nghiệp và liên kết kiến tạo năng lực, đồng thời xác định ba điều kiện chuyển liên kết tài nguyên thành cộng sinh: tương thích kỹ thuật, năng lực phối hợp và thể chế hóa quan hệ hợp tác.

Từ khóa: Liên kết chủ thể; kinh tế tuần hoàn; cộng sinh công nghiệp; quản trị môi trường.

Abstract: This article examines actor linkages in circular economy development in Vietnam’s industrial sector from an industrial symbiosis perspective. The study draws on documentary research and part of the 2025 survey data from a national research project covering 1,600 cases in eight provinces and cities; quantitative evidence is used descriptively for results directly related to industry. The findings show that linkages are strongest in waste collection and treatment, while technology and technical knowledge sharing and human resource training are weaker. The article identifies a gap between operational linkages and capability-building linkages and proposes three conditions for transforming resource exchanges into sustainable industrial symbiosis: technical compatibility, coordination capacity, and the institutionalization of cooperative relationships.

Keywords: Actor linkages; circular economy; industrial symbiosis; environmental governance.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế tuần hoàn không chỉ là giảm chất thải ở cấp doanh nghiệp mà còn là quá trình tổ chức lại cách tài nguyên được sử dụng, thu hồi và tái đưa vào sản xuất – tiêu dùng. Ở cấp độ trung gian, tính tuần hoàn phụ thuộc vào khả năng kết nối dòng vật chất, năng lượng, nước, thông tin và tri thức giữa nhiều tổ chức. Kirchherr et al. (2017) nhấn mạnh cách tiếp cận vượt khỏi doanh nghiệp đơn lẻ; Chertow (2000, 2007) xác định cộng sinh công nghiệp là hợp tác giữa các doanh nghiệp thông qua trao đổi vật chất, năng lượng, nước và phụ phẩm. Xét theo logic hệ thống, điểm cốt lõi của kinh tế tuần hoàn nằm ở việc dịch chuyển đơn vị phân tích từ doanh nghiệp đơn lẻ sang mạng lưới quan hệ giữa các chủ thể. Một doanh nghiệp có thể cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên trong nội bộ, nhưng khả năng khép kín vòng vật chất thường chỉ xuất hiện khi đầu ra, phụ phẩm hoặc năng lực dư thừa của doanh nghiệp này có thể được nhận diện và hấp thụ bởi một chủ thể khác. Vì vậy, hiệu quả tuần hoàn không chỉ phụ thuộc vào công nghệ của từng doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào cấu trúc kết nối, chất lượng thông tin và khả năng phối hợp của toàn mạng lưới. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với bối cảnh công nghiệp, nơi sự phụ thuộc lẫn nhau về nguyên liệu, năng lượng, nước, logistics và xử lý chất thải khiến giá trị của một liên kết không thể được đánh giá chỉ từ một giao dịch riêng lẻ.

Sự gần gũi địa lý có thể giảm chi phí vận chuyển và tìm kiếm đối tác nhưng không tự động tạo ra cộng sinh. Doanh nghiệp ở gần nhau vẫn có thể thiếu thông tin, tiêu chuẩn kỹ thuật, hạ tầng kết nối hoặc cơ chế phân bổ trách nhiệm. Các nghiên cứu theo cách tiếp cận quá trình cho thấy cộng sinh thường tiến triển từ những trao đổi riêng lẻ tới các quan hệ được điều phối và thể chế hóa hơn (Jensen et al., 2011; Chertow & Ehrenfeld, 2012; Boons et al., 2014). Vì vậy, cần phân biệt mật độ liên kết với mức trưởng thành của liên kết. Điều này cũng hàm ý rằng lợi thế địa lý chỉ tạo ra điều kiện cần, chứ chưa phải điều kiện đủ. Khi các doanh nghiệp ở gần nhau nhưng không có ngôn ngữ dữ liệu chung, không biết rõ đặc tính kỹ thuật của dòng phụ phẩm hoặc không có cơ chế bảo đảm trách nhiệm khi chất lượng đầu vào biến động, chi phí phối hợp có thể vẫn rất cao. Ngược lại, một mạng lưới có khoảng cách địa lý lớn hơn nhưng sở hữu thông tin minh bạch, tiêu chuẩn ổn định và cơ chế điều phối đáng tin cậy vẫn có thể duy trì trao đổi hiệu quả. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu không dừng ở câu hỏi các chủ thể có liên kết hay không, mà cần đi sâu vào câu hỏi liên kết đó được tổ chức như thế nào, dựa trên loại nguồn lực nào và có đủ khả năng vượt qua các rủi ro kỹ thuật, giao dịch và môi trường để trở thành quan hệ lặp lại hay không.

Ở Việt Nam, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các không gian tái chế đều có mật độ chủ thể cao nhưng khác biệt về hạ tầng và năng lực quản trị. Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 và Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 của Chính phủ tạo khung thể chế cho quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế và cụm công nghiệp. Bài viết trả lời hai câu hỏi: liên kết công nghiệp hiện tập trung ở những dạng nào, và điều kiện nào giúp chuyển liên kết vật chất thành cộng sinh bền vững. Đóng góp của bài viết là tiếp cận liên kết như một quá trình chuyển từ giao dịch sang phối hợp và thể chế hóa cộng sinh, qua đó giải thích vì sao trao đổi vật chất chưa đồng nghĩa với mức trưởng thành cao của mạng lưới.

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Từ liên kết chủ thể đến cộng sinh công nghiệp

Trong kinh tế tuần hoàn, liên kết chủ thể được hiểu là hệ thống quan hệ hợp tác, phối hợp và tương tác giữa các bên tương đối độc lập nhưng phụ thuộc lẫn nhau thông qua trao đổi nguồn lực, thông tin, tri thức, vật liệu và lợi ích nhằm tạo giá trị kinh tế, môi trường và xã hội. Có thể phân biệt ba mức độ. Liên kết giao dịch chủ yếu gồm mua bán nguyên liệu thứ cấp, thu gom, vận chuyển hoặc thuê xử lý chất thải. Liên kết phối hợp xuất hiện khi các chủ thể chia sẻ thông tin, công nghệ, hạ tầng, tiêu chuẩn, logistics hoặc đào tạo. Liên kết cộng sinh hình thành khi đầu ra của chủ thể này trở thành đầu vào có giá trị đối với chủ thể khác và quan hệ trao đổi được duy trì bằng cơ chế kỹ thuật, tổ chức và quản trị tương đối ổn định.

Do đó, không phải mọi liên kết trong kinh tế tuần hoàn đều là cộng sinh công nghiệp. Chertow và Ehrenfeld (2012) mô tả sự phát triển từ các trao đổi ban đầu tới giai đoạn nhận diện lợi ích chung và sau đó là nhúng sâu quan hệ vào các thiết chế phối hợp. Paquin và Howard-Grenville (2012) cũng cho thấy vai trò của tác nhân hỗ trợ chuyển từ tạo nhận thức, kết nối đối tác tới đồng kiến tạo hạ tầng và năng lực. Cách nhìn này gợi ý rằng chiều sâu của liên kết không chỉ nằm ở số quan hệ trao đổi mà ở mức độ các quan hệ đó được tiêu chuẩn hóa, đầu tư và thể chế hóa.

2.2. Khung phân tích quá trình từ liên kết tài nguyên đến cộng sinh công nghiệp bền vững

Trên cơ sở lý thuyết về cộng sinh công nghiệp, bài viết xem liên kết chủ thể như một quá trình phát triển từ những quan hệ trao đổi ban đầu đến cộng sinh công nghiệp bền vững. Khung phân tích gồm ba giai đoạn có liên hệ với nhau nhưng không hoàn toàn diễn ra theo một trình tự cứng. Giai đoạn thứ nhất là hình thành liên kết, dựa trên sự gần gũi không gian, khả năng kết nối đầu vào – đầu ra, nhu cầu thu gom, xử lý, tái sử dụng và khả năng tiếp cận các chủ thể hỗ trợ. Giai đoạn thứ hai là nâng cấp liên kết, khi các chủ thể cần bảo đảm sự phù hợp về kỹ thuật, chia sẻ dữ liệu, công nghệ, nhân lực, tiêu chuẩn, hạ tầng dùng chung và sự hỗ trợ của các chủ thể trung gian. Giai đoạn thứ ba là duy trì cộng sinh, đòi hỏi cơ chế điều phối, phân bổ lợi ích và trách nhiệm, kiểm soát môi trường, độ ổn định của dòng vật chất và khả năng đầu tư dài hạn.

Theo khung này, một quan hệ trao đổi chỉ có thể phát triển thành cộng sinh bền vững khi đáp ứng ba nhóm điều kiện chính. Thứ nhất là điều kiện kỹ thuật: phụ phẩm phải phù hợp về chất lượng, khối lượng, độ ổn định và công nghệ tiếp nhận. Thứ hai là điều kiện phối hợp: các chủ thể cần có thông tin đáng tin cậy, tiêu chuẩn chung, cơ chế kết nối và cách thức chia sẻ chi phí, lợi ích và rủi ro. Thứ ba là điều kiện duy trì lâu dài: quan hệ phải đủ ổn định để tạo ra đầu tư, cam kết và trách nhiệm môi trường rõ ràng. Ba nhóm điều kiện này không nhất thiết xuất hiện tuần tự, nhưng giúp xác định liên kết đang ở mức nào, còn thiếu điều kiện gì và vì sao một số quan hệ dừng ở giao dịch ngắn hạn trong khi những quan hệ khác có thể phát triển thành cộng sinh công nghiệp.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng dữ liệu và kết quả khảo sát năm 2025 của đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cấp Quốc gia “Tăng cường liên kết các chủ thể trong phát triển kinh tế tuần hoàn trong bối cảnh mới ở Việt Nam”. Nguồn dữ liệu của đề tài được hình thành thông qua nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu bán cấu trúc và điều tra bằng bảng hỏi. Cuộc khảo sát định lượng gồm 1.600 trường hợp tại 8 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Đắk Lắk, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Cần Thơ và Bến Tre. Các nhóm khảo sát gồm cán bộ quản lý nhà nước 256 phiếu, chuyên gia 80 phiếu, doanh nghiệp/trang trại 256 phiếu, cá nhân 752 phiếu và tổ chức đoàn thể xã hội 256 phiếu. Phỏng vấn sâu cũng được thực hiện đối với các nhóm khách thể để bổ sung cho dữ liệu định lượng.

Bài viết chỉ khai thác các kết quả tổng hợp liên quan trực tiếp đến lĩnh vực công nghiệp và liên kết chủ thể. Phân tích định lượng ở mức thống kê mô tả, sử dụng điểm trung bình, độ lệch chuẩn và tỷ lệ lựa chọn; kết quả được diễn giải theo khung ba giai đoạn và ba nhóm điều kiện chuyển đổi nêu trên, đồng thời đối chiếu với tài liệu của đề tài.  

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Bất cân xứng cấu trúc: liên kết vận hành mạnh hơn liên kết kiến tạo năng lực

Bảng 1. Đánh giá của doanh nghiệp về thực trạng liên kết phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành công nghiệp

STTNội dungMSD
1Liên kết với Nhà nước trong xây dựng hạ tầng tái chế, xử lý chất thải và dự án công nghệ sạch3,170,73
2Liên kết trong tái sử dụng nguyên vật liệu và chất thải3,390,60
3Liên kết trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực2,840,79
4Liên kết trong chia sẻ công nghệ, kỹ thuật3,070,76
5Liên kết trong tư vấn phương pháp, cách thức triển khai3,360,48
6Liên kết trong xử lý và thu gom4,000,64
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài.

Liên kết trong xử lý và thu gom đạt cao nhất (M = 4,00; SD = 0,64), tiếp đến là tái sử dụng nguyên vật liệu và chất thải (M = 3,39; SD = 0,60) và tư vấn phương pháp triển khai (M = 3,36; SD = 0,48). Liên kết với Nhà nước về hạ tầng và dự án công nghệ sạch đạt M = 3,17; chia sẻ công nghệ, kỹ thuật M = 3,07; thấp nhất là đào tạo nguồn nhân lực M = 2,84. Do dữ liệu sử dụng chưa cung cấp đầy đủ mô tả thang đo, các giá trị này chỉ được dùng để so sánh tương đối. Đáng chú ý, chúng phân thành hai nhóm: liên kết xử lý – thu gom – tái sử dụng gắn với nhu cầu tác nghiệp trước mắt; công nghệ – hạ tầng – nhân lực gắn với đầu tư năng lực dài hạn.

Sự bất cân xứng trên phản ánh khác biệt về độ khó phối hợp. Thu gom hoặc thuê xử lý có thể được tổ chức như giao dịch song phương, thời gian ngắn và trách nhiệm tương đối rõ. Ngược lại, chia sẻ công nghệ hay cùng đào tạo nhân lực đòi hỏi bộc lộ thông tin kỹ thuật, chi phí ban đầu, điều chỉnh quy trình và cam kết dài hơn, đồng thời liên quan tới quyền sở hữu tri thức, tiêu chuẩn và phân chia lợi ích. Vì vậy, điểm thấp hơn của công nghệ và đào tạo gợi ý rằng mạng lưới đã hình thành liên kết tác nghiệp nhưng chưa đạt cùng mức độ nhúng sâu về tổ chức. Nói cách khác, liên kết kinh tế tuần hoàn có xu hướng phát triển nhanh hơn về chiều rộng giao dịch so với chiều sâu tổ chức.

Từ góc nhìn chi phí phối hợp, kết quả này còn cho thấy các liên kết hiện hữu dường như ưu tiên những hoạt động có đầu ra dễ quan sát và lợi ích ngắn hạn tương đối rõ. Thu gom, vận chuyển hoặc xử lý thường có thể xác định khối lượng, đơn giá và trách nhiệm theo hợp đồng dịch vụ; trong khi đầu tư cho công nghệ, đào tạo hay hạ tầng dùng chung tạo ra lợi ích phân tán, xuất hiện chậm và khó quy hoàn toàn cho một chủ thể. Khi lợi ích tập thể lớn hơn lợi ích có thể chiếm hữu riêng, doanh nghiệp có thể có động cơ chờ đợi chủ thể khác đầu tư trước. Đây là một cơ chế có thể lý giải vì sao liên kết kiến tạo năng lực phát triển chậm hơn ngay cả khi doanh nghiệp nhận thức được nhu cầu chuyển đổi. Do dữ liệu hiện có chỉ cho phép mô tả, lập luận này cần được hiểu như một cách giải thích lý thuyết phù hợp với cấu trúc kết quả, chứ không phải bằng chứng nhân quả trực tiếp.

Từ góc độ tiến hóa của cộng sinh công nghiệp, cấu trúc này gần với giai đoạn các trao đổi riêng lẻ đã xuất hiện nhưng chưa được thể chế hóa thành năng lực chung. Chertow và Ehrenfeld (2012) và Boons et al. (2014) đều nhấn mạnh quá trình chuyển từ trao đổi riêng lẻ sang nhận diện lợi ích chung, phối hợp và duy trì quan hệ. Do đó, vấn đề không đơn thuần là “thiếu liên kết” mà là khoảng cách giữa liên kết tác nghiệp và liên kết kiến tạo năng lực; tăng số giao dịch thu gom chưa chắc làm tăng tương ứng mức trưởng thành của cộng sinh.

3.2. Sự bổ sung chức năng và khoảng trống điều phối trong mạng lưới đa chủ thể

Bảng 2. Đánh giá của doanh nghiệp về ưu tiên liên kết khi cần hỗ trợ năng lực kỹ thuật để tham gia kinh tế tuần hoàn (%)

Nội dungDoanh nghiệpChính quyềnNhà khoa họcHiệp hộiCá nhân
Kiến thức chuyên môn22,812,928,113,716,8
Hiểu biết công nghệ tái chế, tái sử dụng16,826,618,418,020,0
Kỹ năng kỹ thuật vận hành mô hình8,623,027,018,023,4
Sử dụng nền tảng hỗ trợ liên kết10,517,622,325,024,6
Kinh nghiệm đào tạo/hợp tác liên ngành17,619,516,428,118,4
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài.

Kết quả cho thấy nhu cầu hỗ trợ không quy tụ vào một chủ thể duy nhất. Nhà khoa học được ưu tiên cao nhất ở kiến thức chuyên môn (28,1%) và kỹ năng vận hành (27,0%); chính quyền nổi bật ở hiểu biết về công nghệ tái chế và tái sử dụng (26,6%); hiệp hội cao nhất ở sử dụng nền tảng hỗ trợ liên kết (25,0%) và kinh nghiệm đào tạo, hợp tác liên ngành (28,1%). Cộng đồng cũng có tỷ trọng đáng kể ở kỹ năng vận hành và sử dụng nền tảng. Các tỷ lệ phản ánh kỳ vọng của doanh nghiệp về nguồn hỗ trợ, không chứng minh mức độ thực hiện chức năng của từng chủ thể. Do dữ liệu không làm rõ cách xử lý câu trả lời thiếu hoặc phương án khác, tỷ lệ được đọc theo từng ô, không coi là phân bố khép kín bắt buộc bằng 100%.

Sự phân tán chức năng này đặt ra thách thức quản trị: ai xác minh chất lượng phụ phẩm, chuẩn hóa dữ liệu, kết nối cung – cầu, xử lý giao dịch không đạt yêu cầu và đầu tư hạ tầng dùng chung? Nếu các chức năng không được gắn với cơ chế điều phối cụ thể, nhiều bên cùng hiện diện chưa chắc tạo thành năng lực tập thể. Vì vậy, kết quả khảo sát không chỉ phản ánh tính đa tác nhân mà còn gợi ý một khoảng trống điều phối tiềm tàng giữa các nguồn lực phân tán. Khoảng trống điều phối trở nên rõ hơn khi đặt các kết quả này trong cấu trúc nhiệm vụ của một mạng lưới cộng sinh. Một chủ thể có kiến thức chuyên môn chưa chắc đồng thời có thẩm quyền xác lập tiêu chuẩn; chủ thể có năng lực quản lý nhà nước chưa chắc trực tiếp nắm công nghệ vận hành; hiệp hội có lợi thế tập hợp thành viên nhưng có thể thiếu dữ liệu kỹ thuật chi tiết của từng dòng vật chất. Vì vậy, vấn đề không nằm ở việc tìm một chủ thể có thể thay thế tất cả các chủ thể khác, mà ở việc thiết kế một cấu trúc phân công có khả năng kết nối các năng lực bổ sung. Nếu không có cơ chế chuyển giao thông tin giữa các mắt xích, mạng lưới dễ rơi vào trạng thái mỗi bên thực hiện một phần nhiệm vụ nhưng không tạo ra một quy trình hoàn chỉnh từ nhận diện cơ hội đến kiểm chứng, thử nghiệm, ký kết và giám sát quan hệ cộng sinh.

Vai trò của chủ thể trung gian vì thế cần được hiểu rộng hơn kết nối đơn thuần. Tác nhân trung gian có thể hỗ trợ chuẩn hóa thông tin, xác minh dòng vật chất và năng lực công nghệ, đồng thời tập hợp nhu cầu riêng lẻ thành dự án đủ quy mô cho đầu tư chung. Paquin và Howard-Grenville (2012) cho thấy hỗ trợ cộng sinh có thể tiến từ tạo không gian tương tác tới kết nối có mục tiêu và đồng kiến tạo hạ tầng. Kết quả nghiên cứu vì vậy gợi ý rằng chất lượng liên kết phụ thuộc đáng kể vào khả năng phối hợp các năng lực phân tán thành một cơ chế tương đối ổn định. Theo đó, cộng sinh công nghiệp có thể được nhìn như một kiến trúc mạng lưới bổ trợ chức năng: dòng vật chất chỉ được duy trì bền vững khi đồng thời có dòng thông tin, công nghệ và tri thức đủ tin cậy để các chủ thể phối hợp và ra quyết định.

3.3. Cơ chế chuyển hóa từ liên kết vật chất sang cộng sinh bền vững

Khung phân tích trên giúp làm rõ vì sao cùng là quan hệ trao đổi vật chất nhưng mức độ phát triển có thể khác nhau. Trước hết, quan hệ phải đáp ứng điều kiện kỹ thuật: phụ phẩm cần phù hợp về thành phần, khối lượng, độ ổn định và yêu cầu xử lý với công nghệ tiếp nhận. Tiếp theo là điều kiện phối hợp: các bên cần thông tin đáng tin cậy, tiêu chuẩn, hợp đồng và cơ chế chia sẻ chi phí, lợi ích và trách nhiệm. Cuối cùng là điều kiện duy trì lâu dài: quan hệ phải đủ ổn định để tạo đầu tư chuyên dụng, điều chỉnh quy trình và cam kết giữa các bên. Ba nhóm điều kiện này không phải ba bước bắt buộc theo thứ tự, mà là cơ sở để giải thích vì sao một giao dịch có thể chỉ tồn tại ngắn hạn hoặc phát triển thành quan hệ cộng sinh ổn định. Ba điều kiện cũng có quan hệ tương tác thay vì tồn tại độc lập. Một cải tiến kỹ thuật có thể làm tăng mức tương thích của phụ phẩm, nhưng chỉ phát huy giá trị khi thông tin về chất lượng được chia sẻ kịp thời và bên tiếp nhận tin tưởng vào cơ chế kiểm soát. Tương tự, một hợp đồng dài hạn có thể tạo động lực đầu tư thiết bị chuyên dụng, nhưng hợp đồng chỉ bền vững khi dòng vật chất đủ ổn định và trách nhiệm môi trường được phân định rõ. Như vậy, quá trình chuyển hóa có tính đồng tiến hóa: kỹ thuật, tổ chức và thể chế phải được điều chỉnh tương ứng với nhau. Nếu một chiều phát triển nhanh hơn các chiều còn lại, quan hệ có thể xuất hiện nhưng khó đạt độ bền. Logic này giúp giải thích trực tiếp sự bất cân xứng quan sát được trong dữ liệu giữa các hoạt động tác nghiệp và các hoạt động đòi hỏi kiến tạo năng lực chung.

Cách tiếp cận này giải thích vì sao “gần nhau về địa lý” chưa đủ mà cần “gần nhau về tổ chức”. Khoảng cách địa lý liên quan chủ yếu tới vận chuyển; khoảng cách tổ chức liên quan tới khả năng hiểu và tin cậy dữ liệu, tương thích quy trình và cùng xử lý rủi ro. khu công nghiệp có hạ tầng tập trung có thể thuận lợi hơn nếu đơn vị hạ tầng thực hiện chức năng điều phối. Ngược lại, không gian tái chế có thể duy trì dòng vật liệu dày đặc nhưng thiếu tiêu chuẩn và kiểm soát phát thải; khi đó, liên kết vật chất cao chưa thể đồng nhất với cộng sinh bền vững.

Một hệ quả quan trọng là tuần hoàn vật chất không tự động đồng nghĩa với cải thiện môi trường. Nếu vật liệu tiếp tục lưu chuyển nhưng chi phí ô nhiễm bị chuyển sang cộng đồng hoặc khâu khác của chuỗi, hệ thống có thể tuần hoàn về vật chất nhưng chưa đạt chất lượng cộng sinh về môi trường. Nghiên cứu không trực tiếp đo lường ô nhiễm hay tranh chấp tại từng địa bàn, nên đây chỉ là cơ chế rủi ro cần kiểm chứng tiếp, không phải kết luận nhân quả. Điều này cho thấy quản trị môi trường vẫn là điều kiện nền tảng của quá trình thể chế hóa cộng sinh.

Có thể khái quát quá trình chuyển đổi thành năm thao tác: nhận diện dòng vật chất; kiểm chứng tương thích kỹ thuật; thử nghiệm trao đổi; chuẩn hóa bằng tiêu chuẩn, hợp đồng và trách nhiệm; mở rộng thành mạng lưới có hạ tầng và dữ liệu dùng chung. Dữ liệu hiện có chưa cho phép xác định doanh nghiệp đang dừng ở thao tác nào, nhưng mức thấp hơn tương đối của công nghệ và đào tạo cho thấy cần chú ý hơn tới các năng lực ở giai đoạn giữa và sau. Vì vậy, ưu tiên không nên chỉ là tạo thêm kết nối mà phải nâng khả năng biến kết nối thành quan hệ lặp lại, có đầu tư và trách nhiệm môi trường rõ ràng.

4. Hàm ý chính sách

Thứ nhất, quản trị khu công nghiệp và cụm công nghiệp cần chuyển từ cung cấp mặt bằng và xử lý cuối đường ống sang điều phối dòng tài nguyên. Đơn vị phát triển hạ tầng có thể thu thập thông tin đầu vào – đầu ra, kết nối cung – cầu phụ phẩm và tổ chức tiện ích dùng chung như nước tuần hoàn, điểm trung chuyển vật liệu thứ cấp, hệ thống xử lý tập trung và logistics nội khu. Dữ liệu dòng vật chất cần được chuẩn hóa để doanh nghiệp đánh giá tính tương thích trước khi đầu tư vào quan hệ trao đổi. Việc chuẩn hóa dữ liệu cũng có thể tiến tới xây dựng bản đồ dòng vật chất, giúp nhận diện nguồn phát sinh, đặc tính phụ phẩm và nhu cầu tiếp nhận, qua đó giảm chi phí tìm kiếm đối tác; tuy nhiên cần đi kèm nguyên tắc bảo mật và trách nhiệm cập nhật dữ liệu.

Thứ hai, cần chuyển từ “liên kết để xử lý chất thải” sang “liên kết để xây dựng năng lực cộng sinh”. Chính sách nên ưu tiên kiểm định phụ phẩm, chuẩn hóa vật liệu thứ cấp, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và thử nghiệm mô hình trao đổi. Đây là các can thiệp trực tiếp vào khoảng cách giữa liên kết tác nghiệp và liên kết kiến tạo năng lực phản ánh bên trên.

Thứ ba, cần thiết kế rõ chức năng của chủ thể trung gian. Cơ quan quản lý, hiệp hội, trường đại học, viện nghiên cứu và đơn vị hạ tầng cần được phân vai theo chuỗi nhiệm vụ: xác minh dữ liệu, kết nối đối tác, tư vấn kỹ thuật, xây dựng tiêu chuẩn, hỗ trợ thử nghiệm và giám sát. Khi vai trò được cụ thể hóa, mạng lưới đa chủ thể mới có khả năng chuyển từ hiện diện song song sang phối hợp thực chất. Việc phân vai cũng cần gắn với trách nhiệm đầu ra cụ thể. Cơ quan quản lý có thể tập trung vào khung tiêu chuẩn, giám sát và cơ chế khuyến khích; trường đại học và viện nghiên cứu cung cấp kiểm định, tư vấn và giải pháp kỹ thuật; hiệp hội hỗ trợ tập hợp nhu cầu, phổ biến thông tin và duy trì tương tác giữa các thành viên; đơn vị hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp tổ chức dữ liệu và tiện ích dùng chung. Cấu trúc này không hàm ý một mô hình duy nhất cho mọi địa bàn, nhưng cho thấy nguyên tắc quan trọng là mỗi chức năng thiết yếu của quá trình cộng sinh phải có một chủ thể chịu trách nhiệm chính và một cơ chế phối hợp với các chủ thể còn lại. Khi trách nhiệm bị phân tán mà không có đầu mối, chi phí phối hợp dễ bị chuyển ngược trở lại cho doanh nghiệp và làm suy yếu động lực tham gia.

5. Kết luận

Bài viết cho thấy, liên kết chủ thể trong kinh tế tuần hoàn khác nhau không chỉ về mức độ mà còn về độ sâu tổ chức. Dữ liệu nghiên cứu cho thấy liên kết mạnh hơn ở xử lý – thu gom và tái sử dụng, trong khi công nghệ và đào tạo thấp hơn. Sự bất cân xứng này gợi ý rằng liên kết tác nghiệp đã hình thành rõ hơn so với các năng lực duy trì cộng sinh ở cấp mạng lưới; chiều rộng giao dịch đang phát triển nhanh hơn chiều sâu tổ chức.

Đóng góp phân tích của bài viết là làm rõ quá trình chuyển từ liên kết tài nguyên sang cộng sinh công nghiệp bền vững thông qua ba nhóm điều kiện: phù hợp kỹ thuật, năng lực phối hợp và khả năng duy trì lâu dài. Cách tiếp cận này giúp lý giải vì sao sự gần gũi địa lý và trao đổi phụ phẩm mới chỉ tạo cơ hội ban đầu; để quan hệ trở nên bền vững còn cần công nghệ phù hợp, dữ liệu đáng tin cậy, cơ chế điều phối, khả năng đầu tư và trách nhiệm môi trường. Vì vậy, trọng tâm chính sách không chỉ là tăng số lượng kết nối mà còn phải nâng chất lượng và độ bền của các quan hệ liên kết hiện có.

Từ góc độ quản trị, kết quả còn cho thấy cộng sinh công nghiệp nên được xem là một năng lực mạng lưới hơn là tập hợp các giao dịch xanh riêng lẻ. Năng lực đó hình thành khi các chủ thể có thể liên tục nhận diện cơ hội, kiểm chứng tính khả thi, thử nghiệm, chuẩn hóa và duy trì trao đổi trong điều kiện biến động. Điều này làm rõ ý nghĩa của khoảng cách giữa các chỉ báo trong khảo sát: mức liên kết cao ở thu gom và xử lý cho thấy nền tảng giao dịch đã hiện hữu, nhưng mức thấp hơn ở công nghệ và đào tạo cho thấy các điều kiện để tái tạo và nâng cấp mạng lưới vẫn cần được củng cố. Vì vậy, hướng phát triển tiếp theo không chỉ là mở rộng phạm vi tham gia mà là làm cho các quan hệ hiện hữu trở nên có khả năng học hỏi, đầu tư và thích ứng. Đây là điều kiện để kinh tế tuần hoàn chuyển từ các thực hành rời rạc sang một cấu trúc cộng sinh có tính bền vững hơn ở cấp hệ thống.

Tài liệu tham khảo:
* Bài viết là sản phẩm của Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Quốc gia “KX.01.06/21-30 “Tăng cường liên kết các chủ thể trong phát triển kinh tế tuần hoàn trong bối cảnh mới ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Kinh tế, Kinh doanh và Đổi mới sáng tạo (Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) chủ trì.
Chính phủ (2022). Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.
Chính phủ (2024). Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 về quản lý, phát triển cụm công nghiệp.
Nhóm nghiên cứu đề tài (2026). Kết quả khảo sát về liên kết các chủ thể trong phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam. Tài liệu nghiên cứu của đề tài.
Nhóm nghiên cứu đề tài (2026). Nội dung 2: Đánh giá thực trạng liên kết các chủ thể trong phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam hiện nay. Tài liệu nghiên cứu của đề tài.
Boons, F., Spekkink, W., & Jiao, W. (2014). A process perspective on industrial symbiosis: Theory, methodology, and application. Journal of Industrial Ecology, 18(3), 341–355. https://doi.org/10.1111/jiec.12116
Chertow, M. R. (2000). Industrial symbiosis: Literature and taxonomy. Annual Review of Energy and the Environment, 25, 313–337. https://doi.org/10.1146/annurev.energy.25.1.313
Chertow, M. R. (2007). “Uncovering” industrial symbiosis. Journal of Industrial Ecology, 11(1), 11–30. https://doi.org/10.1162/jiec.2007.1110
Chertow, M. R., & Ehrenfeld, J. (2012). Organizing self-organizing systems: Toward a theory of industrial symbiosis. Journal of Industrial Ecology, 16(1), 13–27. https://doi.org/10.1111/j.1530-9290.2011.00450.x
Jensen, P. D., Basson, L., Hellawell, E. E., Bailey, M. R., & Leach, M. (2011). Quantifying “geographic proximity”: Experiences from the United Kingdom’s National Industrial Symbiosis Programme. Resources, Conservation and Recycling, 55(7), 703–712. https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2011.02.003
Kirchherr, J., Reike, D., & Hekkert, M. (2017). Conceptualizing the circular economy: An analysis of 114 definitions. Resources, Conservation and Recycling, 127, 221–232. https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2017.09.005
Mirata, M., Lindfors, A., & Kambanou, M. L. (2024). A business value framework for industrial symbiosis. Journal of Industrial Ecology, 28(6), 1541–1553. https://doi.org/10.1111/jiec.13545
Paquin, R. L., & Howard-Grenville, J. (2012). The evolution of facilitated industrial symbiosis. Journal of Industrial Ecology, 16(1), 83–93. https://doi.org/10.1111/j.1530-9290.2011.00437.x
UNIDO, World Bank Group, & GIZ. (2021). An international framework for eco-industrial parks (Version 2.0). United Nations Industrial Development Organization.
Velenturf, A. P. M. (2017). Initiating resource partnerships for industrial symbiosis. Regional Studies, Regional Science, 4(1), 117–124. https://doi.org/10.1080/21681376.2017.1328285