State management of tourism oriented toward green growth in the Red River Delta region
ThS. Trần Thị An Huyền
Email: anhuyen@fbu.edu.vn
TS. Nguyễn Danh Nam
Email: namnd@fbu.edu.vn
Trường Đại học Tài chính – Ngân hàng Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng quản lý nhà nước về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh tại Vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2024-2026 trên 5 nội dung: xây dựng và thực hiện chính sách, quy hoạch; tổ chức bộ máy và phối hợp quản lý; điều tiết, huy động và phân bổ nguồn lực; quản lý tài nguyên, môi trường và hoạt động du lịch; kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả. Trên cơ sở phân tích tài liệu thứ cấp và các văn bản quản lý, kết quả cho thấy, công tác quản lý đã có những chuyển biến tích cực trong hoàn thiện thể chế, tăng cường liên kết vùng, huy động nguồn lực và bảo vệ tài nguyên du lịch. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những bất cập về phối hợp liên ngành, phân bổ nguồn lực, kiểm soát tác động môi trường và hiệu quả thực thi chính sách. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển du lịch gắn với sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh bền vững.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; tăng trưởng xanh; du lịch; phát triển bền vững; Vùng đồng bằng sông Hồng.
Abstract: This study examines state management of tourism toward green growth in Vietnam’s Red River Delta from 2024 to 2026. The analysis focuses on five key dimensions: policy and planning formulation and implementation; administrative organization and management coordination; resource mobilization, regulation, and allocation; tourism resource and environmental management; and inspection, monitoring, and performance evaluation. Drawing on secondary data and official policy documents, the findings reveal positive developments in institutional improvement, regional cooperation, resource mobilization, and tourism resource conservation. However, challenges remain in intersectoral coordination, resource allocation, environmental impact control, and policy implementation effectiveness. Accordingly, the study proposes solutions to strengthen the effectiveness and efficiency of state management, promote efficient resource utilization, enhance environmental protection, and support sustainable green growth in the region’s tourism sector.
Keywords: State management; green growth; tourism; sustainable development; Red River Delta region.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và gia tăng sức ép môi trường, phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh trở thành yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, bảo vệ môi trường và năng lực cạnh tranh của điểm đến. Quá trình này đòi hỏi vai trò định hướng, điều tiết và giám sát của Nhà nước thông qua chính sách, quy hoạch, công cụ kinh tế và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể (UNEP & WTO, 2005; Bramwell & Lane, 2011).
Tại Việt Nam, Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2030 và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 đã xác định định hướng phát triển du lịch bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường (Thủ tướng Chính phủ, 2020, 2021). Vùng đồng bằng sông Hồng có tiềm năng du lịch đa dạng, khả năng liên kết cao và giữ vai trò quan trọng trong phát triển du lịch cả nước. Tuy nhiên, sự gia tăng hoạt động du lịch đặt ra yêu cầu giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo tồn tài nguyên và kiểm soát tác động môi trường, đặc biệt trong bối cảnh quản lý còn phân tán theo ngành và địa giới hành chính. Vì vậy, bài viết phân tích thực trạng quản lý nhà nước về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh tại Vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2024-2026, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong thời gian tới.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Quản lý nhà nước về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh
Tăng trưởng xanh trong du lịch là quá trình nâng cao giá trị kinh tế trên cơ sở sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm thiểu tác động môi trường và bảo đảm lợi ích cộng đồng (UNEP, 2011; UNEP & UNWTO, 2012). Khác với tăng trưởng truyền thống chủ yếu chú trọng lượng khách và doanh thu, tăng trưởng xanh nhấn mạnh chất lượng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng nguồn lực (UNEP, 2011). Theo Mihalic (2016), phát triển du lịch bền vững đòi hỏi chuyển hóa các cam kết thành hành động cụ thể và kết quả có thể đánh giá.
Dưới góc độ quản lý, quản lý nhà nước về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh là quá trình Nhà nước sử dụng chính sách, quy hoạch, công cụ kinh tế và cơ chế giám sát nhằm định hướng, điều tiết hoạt động du lịch theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường và lợi ích xã hội. Hoạt động quản lý này có ba đặc điểm cơ bản: tích hợp mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội; tăng cường phối hợp liên ngành, liên địa phương; kết hợp công cụ quản lý hành chính với các cơ chế khuyến khích chuyển đổi xanh. Theo Hall (2011), hiệu quả quản lý du lịch bền vững phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa mục tiêu chính sách thành những thay đổi thực chất trong hoạt động quản lý.
Trên cơ sở đó, bài viết xác định năm nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh: (1) Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, quy hoạch; (2) Tổ chức bộ máy và phối hợp quản lý; (3) Điều tiết, huy động và phân bổ nguồn lực; (4) Quản lý tài nguyên, môi trường và hoạt động du lịch; (5) iểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên phân tích tài liệu thứ cấp, kết hợp tổng hợp chính sách và phân tích thể chế. Nguồn tài liệu bao gồm các công trình nghiên cứu về quản lý du lịch bền vững, quản lý công và tăng trưởng xanh; văn bản pháp luật, chiến lược và quy hoạch phát triển có liên quan đến du lịch và Vùng đồng bằng sông Hồng.
Phương pháp phân tích nội dung được sử dụng để nhận diện mục tiêu, công cụ và cơ chế thực hiện chính sách tăng trưởng xanh trong du lịch. Phương pháp tổng hợp và đối chiếu được vận dụng nhằm làm rõ mức độ kết nối giữa định hướng chính sách quốc gia, quy hoạch vùng và yêu cầu tổ chức quản lý tại các địa phương. Đồng thời, cách tiếp cận theo chức năng quản lý nhà nước được sử dụng để phân tích những kết quả, hạn chế và xác định các nhóm giải pháp phù hợp.
3. Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh tại Vùng đồng bằng sông Hồng
3.1. Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, quy hoạch
Giai đoạn 2024-2026, công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, quy hoạch phát triển du lịch tại Vùng đồng bằng sông Hồng có sự chuyển biến theo hướng tích hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế với bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường và tổ chức lại không gian phát triển du lịch. Hoạt động quản lý chuyển từ định hướng khai thác lợi thế của từng địa phương sang chú trọng liên kết các không gian du lịch, hình thành chuỗi sản phẩm và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trên phạm vi vùng.
Năm 2024, Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 04/5/2024, tạo cơ sở pháp lý để tổ chức phát triển các ngành kinh tế, trong đó có du lịch, gắn với việc sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Kế hoạch thực hiện quy hoạch được ban hành tại Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 09/10/2024 tiếp tục cụ thể hóa nhiệm vụ và trách nhiệm tổ chức thực hiện, hình thành cơ sở điều phối giữa các địa phương và cơ quan quản lý.
Trong năm 2025, quá trình sắp xếp đơn vị hành chính làm thay đổi phạm vi quản lý và tổ chức không gian phát triển du lịch. Việc hợp nhất một số địa phương đã kết nối những không gian tài nguyên trước đây thuộc các đơn vị hành chính khác nhau. Bắc Ninh mở rộng không gian du lịch văn hóa, tâm linh và sinh thái từ khu vực Kinh Bắc đến Tây Yên Tử; Hưng Yên kết nối hệ thống di sản, làng nghề với không gian ven biển thuộc Thái Bình trước đây; Ninh Bình hình thành không gian du lịch rộng hơn, kết hợp các trung tâm di sản Tràng An – Bái Đính, Tam Chúc, Phủ Dầy và các khu vực sinh thái ven biển. Đối với Hải Phòng, việc hợp nhất với Hải Dương tạo điều kiện kết nối du lịch biển, đảo với hệ thống di sản Côn Sơn – Kiếp Bạc và các điểm du lịch văn hóa nội địa.
Những thay đổi trên dẫn đến yêu cầu điều chỉnh các quy hoạch phát triển du lịch, rà soát danh mục dự án, thống nhất chính sách quản lý điểm đến và tổ chức lại các tuyến du lịch trong phạm vi địa phương mới. Ngày 04/4/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 612/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng. Quy hoạch xác định phát triển du lịch chất lượng cao, xanh và bền vững, tập trung hình thành các cụm du lịch liên kết theo đặc điểm tài nguyên và lợi thế cạnh tranh. Trong đó, cụm du lịch biển, đảo Hải Phòng – Quảng Ninh lấy Vịnh Lan Hạ – Hạ Long – Bái Tử Long làm hạt nhân; cụm du lịch tâm linh, sinh thái phía Nam sông Hồng lấy Chùa Hương, Tam Chúc, Tràng An – Bái Đính làm trung tâm. Bên cạnh đó, các hành lang du lịch kết nối Hà Nội với Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh và Ninh Bình được định hướng phát triển gắn với hệ thống giao thông, di sản văn hóa và đô thị.
Định hướng này thể hiện sự thay đổi trong cách tổ chức không gian phát triển du lịch: từ khai thác các điểm đến tương đối độc lập sang phát triển theo cụm, hành lang và chuỗi giá trị. Trong đó, liên kết tài nguyên và hạ tầng được đặt trong mối quan hệ với bảo tồn di sản và sử dụng hiệu quả không gian phát triển.
Cùng với điều chỉnh quy hoạch vùng, các địa phương đã cụ thể hóa chính sách quản lý phù hợp với đặc điểm hoạt động du lịch. Tại Bắc Ninh, Quyết định số 108/2025/QĐ-UBND ban hành quy định về mô hình và nội dung quản lý khu du lịch cấp tỉnh, điểm du lịch, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, đồng thời thay thế các quy định tương ứng của Bắc Giang và Bắc Ninh trước sáp nhập. Quyết định xác định trách nhiệm của cơ quan chuyên môn, chính quyền cơ sở và đơn vị quản lý điểm đến trong bảo vệ tài nguyên, bảo tồn di sản, quản lý kinh doanh dịch vụ và bảo vệ môi trường. Đây là hoạt động thống nhất thể chế quản lý trên phạm vi địa phương mới, khắc phục tình trạng tồn tại song song nhiều quy định được ban hành trước sáp nhập.
Tại Hải Phòng, đầu năm 2026, UBND thành phố ban hành quy chế quản lý hoạt động du lịch và phương tiện thủy nội địa phục vụ khách du lịch trên các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà. Quy chế quy định phạm vi hoạt động, trách nhiệm của chủ thể kinh doanh, yêu cầu an toàn và bảo vệ môi trường, tạo khuôn khổ quản lý thống nhất đối với các hoạt động vận chuyển khách, tham quan, vui chơi, lưu trú và dịch vụ trên vịnh. Qua đó có thể thấy, công tác chính sách và quy hoạch đã có hai kết quả nổi bật: hình thành định hướng phát triển du lịch xanh trên không gian liên kết vùng, và từng bước thống nhất công cụ quản lý tại các địa phương sau sắp xếp hành chính. Những hoạt động này tạo cơ sở để chuyển từ quản lý riêng từng điểm đến sang quản lý theo hệ thống tài nguyên và chuỗi sản phẩm.
Vấn đề thực tiễn nổi bật trong quá trình thực hiện là sự khác biệt về mức độ hoàn thiện chính sách giữa các không gian du lịch. Các khu vực di sản biển, đảo có hệ thống quy định tương đối cụ thể về phương tiện, hoạt động kinh doanh và môi trường; trong khi những không gian du lịch văn hóa, làng nghề và nông thôn đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế tổ chức điểm đến, quản lý lễ hội và phát triển dịch vụ. Sự khác biệt này tạo ra yêu cầu thống nhất tiêu chuẩn và trách nhiệm quản lý trong quá trình thực hiện quy hoạch vùng.
3.2. Thực trạng tổ chức bộ máy và phối hợp quản lý
Trong giai đoạn 2024-2026, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch tại Vùng đồng bằng sông Hồng có sự điều chỉnh đáng kể, gắn với quá trình hoàn thiện cơ chế điều phối vùng và sắp xếp chính quyền địa phương. Hoạt động quản lý từng bước được tổ chức theo hướng phối hợp giữa các cơ quan phụ trách du lịch, văn hóa, giao thông, tài nguyên, môi trường và chính quyền cơ sở nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong khai thác tài nguyên và phát triển dịch vụ.
Ở cấp vùng, Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng tiếp tục thực hiện vai trò kết nối các bộ, ngành và chính quyền địa phương trong triển khai quy hoạch, phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư và thúc đẩy liên kết kinh tế. Tại Hội nghị lần thứ 6 ngày 20/9/2025, Hội đồng đã đánh giá tiến độ triển khai các nhiệm vụ phát triển vùng, giải ngân đầu tư công, thu hút vốn đầu tư và những yêu cầu điều phối sau sắp xếp đơn vị hành chính. Hoạt động này duy trì cơ chế điều hành chung đối với các nhiệm vụ có tính liên tỉnh, tạo điều kiện phối hợp phát triển hệ thống hạ tầng và dịch vụ du lịch trong vùng.
Ở cấp địa phương, quá trình sắp xếp hành chính thúc đẩy việc tổ chức lại bộ máy quản lý các khu, điểm du lịch và di tích. Trường hợp Bắc Ninh cho thấy quá trình này được cụ thể hóa bằng hệ thống quy định về quản lý điểm du lịch, phân cấp quản lý di tích và trách nhiệm của chính quyền cơ sở. Quyết định số 110/2025/QĐ-UBND ngày 25/12/2025 quy định phân cấp quản lý di tích trên địa bàn tỉnh, làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích theo từng cấp độ xếp hạng. Việc phân cấp góp phần xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm đối với các di sản được khai thác phục vụ du lịch, đồng thời tạo cơ sở tổ chức kiểm tra và xử lý những vấn đề phát sinh tại địa phương.
Trong quản lý liên địa phương, sự chuyển biến rõ nét nhất được thể hiện ở không gian Vịnh Hạ Long – Vịnh Lan Hạ. Sau quá trình phối hợp giữa Quảng Ninh và Hải Phòng trong năm 2025, hai địa phương đã ký quy chế phối hợp quản lý phương tiện thủy nội địa vận chuyển khách du lịch ngày 26/3/2026, tạo cơ sở tổ chức các hành trình kết nối giữa hai vịnh. Việc xác định trách nhiệm trong quản lý tuyến, phương tiện, cảng bến và giám sát hành trình giúp giải quyết những khác biệt trong tổ chức hoạt động vận chuyển khách giữa hai địa phương.
Sự chuyển biến này có ý nghĩa đối với quản lý nhà nước cấp vùng, bởi một không gian tài nguyên có tính liên thông đã được tổ chức quản lý thông qua cơ chế phối hợp thống nhất giữa hai chính quyền, thay vì chỉ dựa vào các quyết định quản lý độc lập. Đồng thời, việc quản lý hành trình liên vịnh tạo điều kiện kết nối chuỗi sản phẩm du lịch biển, đảo, phân bố lại hoạt động dịch vụ và khai thác hiệu quả hơn hệ thống cảng bến.
Tại các không gian du lịch văn hóa, làng nghề và lễ hội, cơ chế phối hợp được triển khai theo hướng gắn trách nhiệm của cơ quan chuyên môn với chính quyền cấp xã, đơn vị quản lý di tích và các tổ chức liên quan. Trong năm 2026, Bắc Ninh yêu cầu chính quyền xã, phường xây dựng kế hoạch quản lý lễ hội, xác định đơn vị chủ trì, phân công trách nhiệm bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường và quản lý dịch vụ. Hoạt động này thể hiện vai trò ngày càng trực tiếp của chính quyền cơ sở trong quản lý hoạt động du lịch gắn với di sản văn hóa và tín ngưỡng.
Nhìn chung, công tác tổ chức bộ máy và phối hợp quản lý trong vùng đã có sự chuyển dịch theo hướng rõ hơn về trách nhiệm và tăng cường liên kết giữa các địa phương, đặc biệt trong quản lý di sản và hoạt động du lịch có tính liên thông. Các quy chế và quyết định phân cấp được ban hành sau sắp xếp hành chính góp phần thống nhất tổ chức quản lý, giảm sự phân tán về đầu mối thực hiện và tạo điều kiện xử lý các nhiệm vụ liên ngành.
Bất cập thực tiễn đáng chú ý vẫn tập trung ở những hoạt động chịu sự quản lý đồng thời của nhiều cơ quan. Báo cáo công tác văn hóa, du lịch của Hải Phòng trong năm 2026 ghi nhận tình trạng chồng chéo trong quản lý, bảo tồn di sản và một số nhiệm vụ chậm tiến độ. Đây là biểu hiện cho thấy yêu cầu phân định thẩm quyền và phối hợp thực thi tiếp tục được đặt ra ngay cả sau khi đã kiện toàn cơ chế quản lý.
3.3. Thực trạng điều tiết, huy động và phân bổ nguồn lực
Giai đoạn 2024-2026, Vùng đồng bằng sông Hồng duy trì vị thế là một trong những khu vực có khả năng huy động nguồn lực tài chính và đầu tư lớn nhất cả nước. Hoạt động điều tiết và phân bổ nguồn lực được thực hiện thông qua ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư công, chính sách thu phí khai thác tài nguyên, thu hút đầu tư tư nhân và các chương trình hợp tác quốc tế. Trong lĩnh vực du lịch, các nguồn lực này được sử dụng để phát triển hạ tầng, bảo tồn di sản, tổ chức dịch vụ, quản lý môi trường và nâng cao chất lượng điểm đến.
Theo báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 của Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng, trong 8 tháng đầu năm 2025, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn vùng đạt trên 814,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 46,8% tổng thu ngân sách cả nước. Vốn FDI đăng ký mới đạt 5,4 tỷ USD, tương đương 49,2% tổng vốn đăng ký mới cả nước. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 53,6% kế hoạch, cao hơn mức bình quân cả nước là 46,3%. Cùng kỳ, gần 42.800 doanh nghiệp được thành lập mới với tổng vốn đăng ký 512,6 nghìn tỷ đồng.
Về chính sách điều tiết, các địa phương sử dụng công cụ phí, lệ phí và cơ chế tài chính để quản lý hoạt động khai thác tài nguyên du lịch. Tại các khu di sản có quy mô khách lớn, phí tham quan tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách và hoạt động quản lý. Năm 2025, số thu phí tham quan Vịnh Hạ Long ước đạt hơn 988 tỷ đồng, trong khi khu vực Yên Tử đạt khoảng 22 tỷ đồng. Việc duy trì nguồn thu từ khai thác di sản phản ánh khả năng chuyển hóa giá trị tài nguyên thành nguồn lực tài chính phục vụ hoạt động quản lý công theo các quy định hiện hành.
Tại các địa bàn du lịch văn hóa và tâm linh, cơ chế huy động nguồn lực được thực hiện thông qua ngân sách địa phương kết hợp nguồn thu phí tham quan, tiền công đức, tài trợ và đóng góp của các tổ chức, cá nhân. Cuối năm 2025, Bắc Ninh ban hành Quyết định số 112/2025/QĐ-UBND quy định quản lý thu, chi tài chính cho tổ chức lễ hội và quản lý tiền công đức, tài trợ cho di tích. Quy định này đặt việc huy động và sử dụng nguồn lực xã hội vào khuôn khổ quản lý tài chính thống nhất trên địa bàn tỉnh mới, tăng tính công khai và trách nhiệm trong tổ chức hoạt động tại di tích, lễ hội.
Một xu hướng đáng chú ý là việc huy động nguồn lực cho hạ tầng môi trường ngày càng được gắn với những nhiệm vụ phát triển có tính liên ngành. Trong các đô thị, khu vực ven biển và trung tâm du lịch, đầu tư hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, thu gom chất thải và cải thiện kết nối giao thông đồng thời phục vụ nhiều hoạt động kinh tế. Đối với vùng đồng bằng sông Hồng, tính liên kết này đặc biệt rõ ở các hành lang đô thị – công nghiệp – dịch vụ, nơi hoạt động du lịch sử dụng chung hệ thống hạ tầng với dân cư và các ngành kinh tế khác.
Thực tế thực hiện đầu tư cho thấy những khó khăn trong việc chuyển hóa kế hoạch vốn thành công trình môi trường. Cuối năm 2025, Quảng Ninh ghi nhận vướng mắc đối với dự án thoát nước và xử lý nước thải Hạ Long sử dụng vốn vay ODA, dẫn đến việc điều chỉnh phương án tài chính. Đồng thời, địa phương đề xuất danh mục đầu tư xử lý nước thải giai đoạn 2026-2030 với quy mô vốn lớn. Thực trạng này phản ánh yêu cầu quản lý tiến độ, lựa chọn nguồn vốn và điều phối thực hiện những dự án hạ tầng môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng không gian du lịch đô thị và ven biển.
Đối với huy động nguồn lực xã hội, các địa phương trong vùng đã thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp trong phát triển cơ sở lưu trú, khu nghỉ dưỡng, vận tải khách, cơ sở dịch vụ và các sản phẩm du lịch. Hoạt động đầu tư này tập trung tương đối lớn tại các trung tâm du lịch biển, đảo, đô thị và di sản; đồng thời từng bước mở rộng sang những không gian du lịch sinh thái, nông nghiệp, văn hóa và cộng đồng. Điều đó góp phần đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ, đồng thời gia tăng yêu cầu kiểm soát tiêu chuẩn môi trường đối với các dự án và cơ sở kinh doanh.
Quy hoạch điều chỉnh năm 2026 xác định sử dụng vốn đầu tư công để dẫn dắt, thu hút nguồn vốn xã hội hóa và thúc đẩy hợp tác công tư trong phát triển hạ tầng chiến lược. Đây là định hướng điều tiết nguồn lực phù hợp với đặc điểm phát triển của vùng, nơi các trung tâm du lịch có khả năng huy động vốn thị trường tương đối lớn nhưng những địa bàn du lịch nông thôn, sinh thái và làng nghề vẫn cần đầu tư hạ tầng công cộng để nâng cao chất lượng điểm đến.
Nhìn chung công tác điều tiết, huy động và phân bổ nguồn lực thể hiện sự kết hợp giữa năng lực tài chính công, nguồn vốn đầu tư tư nhân và công cụ khai thác giá trị tài nguyên. Trong đó, cơ chế thu phí di sản tạo nguồn thu tại các điểm đến trọng điểm, chính sách xã hội hóa hỗ trợ tổ chức hoạt động văn hóa và lễ hội, còn đầu tư công giữ vai trò nền tảng đối với hạ tầng giao thông, môi trường và bảo tồn.
Bất cập lớn trong tổ chức thực hiện là sự chênh lệch về khả năng huy động và hấp thụ nguồn lực giữa các không gian du lịch. Những trung tâm có lợi thế về lượng khách và doanh thu thu hút đầu tư thuận lợi hơn, trong khi các điểm du lịch nông thôn, sinh thái và văn hóa phân tán cần nhiều hỗ trợ về hạ tầng, năng lực quản lý và tổ chức kinh doanh. Bên cạnh đó, việc kéo dài tiến độ một số dự án hạ tầng môi trường làm chậm quá trình cải thiện điều kiện phục vụ du lịch. Đây là vấn đề quản lý cần được giải quyết thông qua xác định thứ tự ưu tiên đầu tư và tăng cường phối hợp thực hiện các dự án có tác động liên vùng.
3.4. Thực trạng quản lý tài nguyên, môi trường và hoạt động du lịch
Trong giai đoạn 2024-2026, quản lý tài nguyên, môi trường và hoạt động du lịch tại Vùng đồng bằng sông Hồng được triển khai trên các nhóm không gian có đặc điểm khác nhau, bao gồm du lịch đô thị, văn hóa, làng nghề, sinh thái, biển và đảo. Hoạt động quản lý tập trung vào bảo vệ giá trị di sản, kiểm soát khai thác tài nguyên, xử lý những tác động đến môi trường và tổ chức hoạt động du lịch phù hợp với điều kiện từng điểm đến.
Đối với không gian du lịch biển, đảo, công tác quản lý gắn với bảo tồn hệ sinh thái, quản lý phương tiện vận chuyển khách, kiểm soát dịch vụ trên mặt nước và xử lý chất thải. Khu vực Vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà tiếp tục là trọng điểm quản lý do tập trung các hoạt động du lịch và có giá trị đa dạng sinh học cao. Trong năm 2025, Ban Quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long – Yên Tử triển khai thu gom rác, giám sát môi trường, tuần tra bảo vệ tài nguyên và phối hợp với các tổ chức quốc tế trong hoạt động bảo tồn. Cơ quan quản lý cũng thực hiện các hoạt động nghiên cứu, giám sát tại di sản nhằm phục vụ công tác bảo vệ tài nguyên và tổ chức khai thác du lịch.
Đầu năm 2026, tại Hải Phòng quy chế quản lý hoạt động du lịch trên các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà xác định rõ yêu cầu đối với vận chuyển khách, tổ chức tham quan, vui chơi giải trí, dịch vụ lưu trú và bảo vệ cảnh quan. Việc triển khai quy chế giúp thống nhất trách nhiệm của chủ phương tiện, doanh nghiệp cũng như các đơn vị quản lý trong hoạt động khai thác du lịch biển, đảo.
Đối với không gian du lịch văn hóa và di sản, quản lý nhà nước tập trung vào bảo tồn di tích, tổ chức lễ hội, kiểm soát hoạt động kinh doanh và gìn giữ cảnh quan. Tại các địa bàn Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Ninh Bình, những nhiệm vụ này được thực hiện thông qua quản lý di tích, cấp phép hoạt động, phân công trách nhiệm cho chính quyền cơ sở và kiểm soát các dịch vụ phục vụ khách.
Trong năm 2026, Bắc Ninh tăng cường quản lý hệ thống lễ hội, di tích trên địa bàn tỉnh, tổ chức phân luồng khách, bảo đảm vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và kiểm soát kinh doanh dịch vụ. Báo cáo tổng kết Lễ đón nhận Bằng của UNESCO và Festival “Về miền di sản Bắc Ninh năm 2026” cho thấy các lễ hội cơ bản được tổ chức an toàn, các hoạt động tại di tích diễn ra nền nếp và gắn với quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa. Đồng thời, chính quyền địa phương ghi nhận tình trạng kinh doanh dịch vụ tự phát, thu phí không đúng quy định và một số hành vi ảnh hưởng đến môi trường văn hóa lễ hội.
Đối với các điểm đến sinh thái, nông thôn và làng nghề, hoạt động quản lý gắn với bảo vệ cảnh quan, cải thiện vệ sinh môi trường, phát triển hạ tầng phục vụ khách và tổ chức các hoạt động trải nghiệm. Sau sắp xếp hành chính, Hưng Yên có thêm không gian sinh thái ven biển và đất ngập nước; Ninh Bình mở rộng các khu vực du lịch văn hóa, tâm linh, nông thôn và ven biển; Bắc Ninh kết nối tài nguyên văn hóa Kinh Bắc với các không gian sinh thái và di tích Tây Yên Tử. Các không gian này làm phong phú thêm hệ thống tài nguyên du lịch vùng, đồng thời mở rộng phạm vi quản lý về môi trường và hoạt động dịch vụ.
Tại các khu vực ven biển và đất ngập nước, nhiệm vụ quản lý không chỉ là bảo vệ cảnh quan phục vụ du lịch mà còn gắn với kiểm soát sử dụng đất, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý hoạt động kinh tế ven biển và duy trì sinh kế cộng đồng. Đối với các làng nghề và điểm du lịch nông thôn, quản lý du lịch gắn trực tiếp với vệ sinh môi trường, xử lý chất thải, duy trì không gian văn hóa và kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong điều kiện hoạt động du lịch tiếp tục mở rộng, sức ép lên hạ tầng và môi trường được thể hiện rõ tại những không gian tập trung đông khách. Tại Cát Hải, 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận 2.504.372 lượt khách, tăng 21,27% so với cùng kỳ năm 2025; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 2.771,1 tỷ đồng, tăng 23,46%. Quy mô khách gia tăng kéo theo nhu cầu lớn hơn về vận chuyển, lưu trú, cấp nước, vệ sinh môi trường và sử dụng không gian tại các bãi tắm, tuyến tham quan và khu vực trên vịnh.
Nhìn chung, công tác quản lý tài nguyên, môi trường và hoạt động du lịch tại vùng đã có chuyển biến theo hướng gắn quản lý khai thác với bảo tồn và kiểm soát những tác động phát sinh. Các khu vực di sản và biển, đảo đã triển khai những quy chế, biện pháp chuyên biệt, trong khi các địa bàn du lịch văn hóa, làng nghề và nông thôn chú trọng quản lý di tích, lễ hội, cảnh quan và vệ sinh môi trường.
Những bất cập hiện nay tập trung vào việc kiểm soát hoạt động kinh doanh tự phát tại các điểm du lịch văn hóa, sức ép đối với hạ tầng tại các khu vực đông khách và yêu cầu phối hợp xử lý các vấn đề môi trường liên ngành. Đặc biệt, sự phát triển đồng thời của công nghiệp, đô thị, nông nghiệp và du lịch tại Vùng đồng bằng sông Hồng đòi hỏi quản lý môi trường du lịch phải được thực hiện trong mối quan hệ với quản lý nguồn nước, chất thải, giao thông và sử dụng đất trên phạm vi rộng hơn.
3.5. Thực trạng kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện
Giai đoạn 2024-2026, hoạt động kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực du lịch tại Vùng đồng bằng sông Hồng được tăng cường trên các phương diện quản lý di sản, kinh doanh dịch vụ, trật tự xây dựng, an toàn vận chuyển khách và bảo vệ môi trường. Cơ chế giám sát được triển khai thông qua hoạt động của các cơ quan quản lý chuyên ngành, lực lượng chức năng và chính quyền địa phương, kết hợp kiểm tra thường xuyên với xử lý những vấn đề phát sinh tại các điểm đến.
Trong quản lý di sản thiên nhiên, năm 2025, Ban Quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long – Yên Tử thực hiện 138 đợt giám sát môi trường định kỳ, gần 900 lượt tuần tra bảo vệ tài nguyên rừng, biển và đề nghị xử lý gần 160 trường hợp vi phạm, với số tiền phạt được báo cáo là 940 triệu đồng. Công tác kiểm tra được thực hiện đồng thời với thu gom chất thải, quản lý hoạt động tham quan và bảo vệ tài nguyên tại các khu vực di sản. Những kết quả này thể hiện việc sử dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát thường xuyên trong quản lý tài nguyên du lịch.
Tại không gian du lịch biển, đảo Hải Phòng, công tác giám sát năm 2026 được tăng cường thông qua quản lý phương tiện thủy nội địa, bảo đảm điều kiện kinh doanh và kiểm tra an toàn. Ngày 16/6/2026, UBND đặc khu Cát Hải tiếp tục ban hành văn bản yêu cầu các cơ quan, doanh nghiệp và chủ phương tiện tuân thủ nghiêm quy định trong hoạt động vận chuyển khách trên các vịnh. Việc kiểm soát phương tiện và điều kiện hoạt động góp phần tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp, bảo đảm trật tự trong khai thác dịch vụ tại không gian biển, đảo.
Đối với không gian du lịch văn hóa, lễ hội và tâm linh, hoạt động kiểm tra tập trung vào quản lý dịch vụ, niêm yết giá, an toàn thực phẩm, trật tự kinh doanh và bảo vệ di tích. Tại Bắc Ninh, ngày 26/02/2026, UBND tỉnh ban hành văn bản số 1601/UBND-KGVX chỉ đạo chấn chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ tại các lễ hội Xuân Bính Ngọ. Văn bản được ban hành sau khi xuất hiện tình trạng trông giữ phương tiện tự phát, thu phí cao hơn quy định, kinh doanh hàng quán không phép và một số cơ sở chưa bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm.
Đến tháng 4/2026, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh tiếp tục tăng cường quản lý, điều hành và bình ổn giá dịch vụ du lịch, yêu cầu các cơ sở lưu trú, vận chuyển khách, khu điểm du lịch, nhà hàng và cơ sở dịch vụ thực hiện việc niêm yết và chấp hành quy định về giá. Những hoạt động này cho thấy việc kiểm tra, giám sát đã được mở rộng từ quản lý di tích, lễ hội sang kiểm soát hoạt động kinh doanh trong chuỗi dịch vụ du lịch.
Ở cấp liên địa phương, việc ban hành các quy chế quản lý phương tiện và hoạt động du lịch trên không gian Vịnh Hạ Long – Vịnh Lan Hạ tạo cơ sở phối hợp giữa lực lượng quản lý của Quảng Ninh và Hải Phòng. Đây là chuyển biến đáng chú ý đối với hoạt động giám sát các tuyến du lịch liên tỉnh, nhất là trong quản lý an toàn phương tiện, giám sát hành trình và xử lý các hành vi vi phạm.
Đối với công tác đánh giá kết quả thực hiện chính sách, quy hoạch vùng giai đoạn 2024-2026 đã đặt ra yêu cầu theo dõi các nhiệm vụ phát triển kinh tế, đầu tư hạ tầng, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Các hội nghị điều phối vùng định kỳ thực hiện việc tổng hợp kết quả phát triển, tiến độ giải ngân và những vấn đề phát sinh trong tổ chức thực hiện. Quy hoạch điều chỉnh năm 2026 tiếp tục giao trách nhiệm cho Hội đồng điều phối vùng trong chỉ đạo, đôn đốc và hướng dẫn triển khai các chương trình, dự án liên kết vùng.
Từ thực tiễn trên có thể thấy, công tác kiểm tra, giám sát đã góp phần duy trì trật tự hoạt động du lịch, nâng cao trách nhiệm của chủ thể kinh doanh và tăng cường kiểm soát khai thác tài nguyên. Các biện pháp được áp dụng tương đối đa dạng, từ kiểm tra thực địa, xử lý vi phạm, quản lý giá đến giám sát hoạt động vận chuyển và bảo vệ môi trường.
Bất cập nổi bật nằm ở tính liên tục và hiệu lực thực thi tại một số nhóm điểm đến. Việc phải chấn chỉnh hoạt động kinh doanh tự phát và thu phí không đúng quy định tại các lễ hội cho thấy quản lý dịch vụ tại một số địa bàn chưa chủ động ngăn ngừa được vi phạm. Tình trạng chồng chéo trong quản lý di sản, chậm triển khai nhiệm vụ và áp lực tại các khu du lịch đông khách tiếp tục đặt ra yêu cầu nâng cao trách nhiệm phối hợp và kiểm soát hoạt động tại cơ sở. Đồng thời, việc đánh giá kết quả quản lý cần chuyển mạnh hơn từ theo dõi hoạt động kiểm tra và xử lý vi phạm sang đánh giá mức độ cải thiện chất lượng dịch vụ, bảo tồn tài nguyên và điều kiện môi trường điểm đến.
4. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh tại Vùng đồng bằng sông Hồng
Thứ nhất, hoàn thiện chính sách và quy hoạch phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh. Cần tiếp tục cụ thể hóa định hướng phát triển du lịch xanh trong Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng và quy hoạch các địa phương sau sắp xếp đơn vị hành chính, bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển du lịch với sử dụng đất, bảo tồn di sản và bảo vệ môi trường. Đồng thời, chuyển trọng tâm quản lý từ mở rộng quy mô khách sang nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng tài nguyên và giá trị kinh tế của điểm đến. Các mục tiêu xanh cần được cụ thể hóa thành nhiệm vụ, tiêu chí và trách nhiệm thực hiện phù hợp với từng không gian du lịch.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả tổ chức bộ máy và phối hợp quản lý liên ngành, liên địa phương. Cần phát huy vai trò của Hội đồng điều phối vùng trong triển khai các chương trình phát triển du lịch có tính liên tỉnh, nhất là quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và kết nối hạ tầng. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện phân cấp quản lý khu, điểm du lịch, di tích và lễ hội; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn và chính quyền cơ sở, khắc phục tình trạng chồng chéo trong tổ chức thực hiện. Đối với các cụm và hành lang du lịch liên vùng, cần thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên, thống nhất quy trình quản lý và chia sẻ thông tin giữa các địa phương.
Thứ ba, đổi mới công cụ điều tiết, huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển du lịch xanh. Cần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, nguồn thu từ khai thác tài nguyên du lịch và vốn đầu tư xã hội, ưu tiên các công trình xử lý nước thải, chất thải rắn, giao thông thân thiện với môi trường và bảo tồn di sản. Việc phân bổ nguồn lực cần căn cứ vào mức độ khai thác, sức ép môi trường và nhu cầu phát triển của từng địa bàn, chú trọng các điểm du lịch nông thôn, sinh thái và làng nghề còn hạn chế về hạ tầng. Đồng thời, tăng cường quản lý tiến độ đầu tư công, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiết kiệm tài nguyên và nâng cao tính minh bạch trong sử dụng nguồn thu từ hoạt động du lịch.
Thứ tư, tăng cường quản lý tài nguyên, môi trường và hoạt động du lịch. Cần thực hiện quản lý phù hợp với đặc điểm từng không gian du lịch, trong đó chú trọng bảo vệ hệ sinh thái biển, đảo, đất ngập nước, kiểm soát hoạt động xây dựng tại khu vực di sản và cải thiện môi trường tại các điểm du lịch đô thị, làng nghề, nông thôn. Đẩy mạnh các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm, kiểm soát chất thải và quản lý sức chứa tại những điểm đến tập trung đông khách. Đồng thời, gắn trách nhiệm bảo vệ tài nguyên với hoạt động kinh doanh du lịch, phát huy vai trò của doanh nghiệp và cộng đồng địa phương trong việc duy trì chất lượng môi trường điểm đến.
Thứ năm, nâng cao hiệu lực kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện. Cần tăng cường kiểm tra việc chấp hành quy định về bảo vệ môi trường, khai thác tài nguyên, kinh doanh dịch vụ và quản lý di sản; xử lý kịp thời, dứt điểm các hành vi vi phạm, gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý với kết quả khắc phục. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và kết nối dữ liệu giữa các địa phương, từng bước xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng xanh trong du lịch, kết hợp kết quả kinh tế với hiệu quả sử dụng tài nguyên, chất lượng môi trường và mức độ tuân thủ pháp luật.
5. Kết luận
Giai đoạn 2024-2026, quản lý nhà nước về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh tại Vùng đồng bằng sông Hồng đã có những chuyển biến tích cực trong hoàn thiện chính sách, quy hoạch, tổ chức bộ máy, huy động nguồn lực và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn những bất cập về phối hợp liên ngành, liên địa phương, phân bổ nguồn lực, kiểm soát hoạt động du lịch và đánh giá kết quả tăng trưởng xanh. Để khắc phục những hạn chế này, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả điều phối vùng, sử dụng hợp lý nguồn lực và tăng cường trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Qua đó, thúc đẩy phát triển du lịch theo hướng nâng cao giá trị kinh tế, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và bảo đảm tăng trưởng xanh bền vững tại Vùng đồng bằng sông Hồng.
Tài liệu tham khảo:
Bramwell, B., & Lane, B. (2011). Critical research on the governance of tourism and sustainability. Journal of Sustainable Tourism, 19(4–5), 411–421. https://doi.org/10.1080/09669582.2011.580586
Hall, C. M. (2011). Policy learning and policy failure in sustainable tourism governance: From first- and second-order to third-order change? Journal of Sustainable Tourism, 19(4–5), 649–671. https://doi.org/10.1080/09669582.2011.555555
Mihalic, T. (2016). Sustainable-responsible tourism discourse – Towards ‘responsustable’ tourism. Journal of Cleaner Production, 111, 461–470. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2014.12.062
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030.
Thủ tướng Chính phủ (2024a). Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 04/5/2024 phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ. (2024b). Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 09/10/2024 ban hành Kế hoạch thực hiện Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
UNEP, & UNWTO. (2005). Making tourism more sustainable: A guide for policy makers. United Nations Environment Program. https://wedocs.unep.org/handle/20.500.11822/8741
UNEP (2011). Towards a green economy: Pathways to sustainable development and poverty eradication – Tourism. United Nations Environment Program.
UNEP, & UNWTO. (2012). Tourism in the green economy: Background report. United Nations Environment Program.



