The effectiveness of tax policy implementation for enterprises within a two-tier local government structure
NCS, ThS. Trần Văn Mộng
Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: mongtv@tdmu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Hiệu quả thực thi chính sách thuế đối với doanh nghiệp phản ánh năng lực chuyển hóa các quy định thuế thành kết quả quản lý và tuân thủ pháp luật. Bài viết phân tích hiệu quả thực thi chính sách thuế trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ kết quả, hạn chế và nguyên nhân. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện phân định trách nhiệm, quản trị dữ liệu, chuyển đổi số, quản lý theo rủi ro, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và giảm chi phí tuân thủ thuế.
Từ khóa: Chính sách thuế; thực thi chính sách; doanh nghiệp; chính quyền địa phương hai cấp.
Abstract: The effectiveness of tax policy implementation regarding enterprises reflects the capacity to translate tax regulations into management outcomes and legal compliance. This article analyzes the effectiveness of tax policy implementation within the context of a two-tier local government structure, clarifying the results, limitations, and underlying causes. Based on this analysis, the article proposes solutions to refine the division of responsibilities, data governance, digital transformation, and risk-based management, thereby contributing to enhanced implementation effectiveness and reduced tax compliance costs.
Keywords: Tax policy; policy implementation; enterprises; two-tier local government.
1. Đặt vấn đề
Thuế giữ vai trò quan trọng trong huy động nguồn lực cho ngân sách nhà nước và điều tiết hoạt động sản xuất – kinh doanh. Hiệu quả của chính sách thuế không chỉ phụ thuộc vào chất lượng quy định mà còn được quyết định bởi khả năng tổ chức và thực thi trong thực tiễn, thể hiện qua tính thống nhất, minh bạch, mức độ tuân thủ và chi phí thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp. Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đồng thời, tổ chức lại hệ thống cơ quan thuế, tạo ra những thay đổi về không gian quản lý, phân định trách nhiệm và cơ chế phối hợp. Trong khi đó, yêu cầu số hóa, liên thông dữ liệu và quản lý thuế theo rủi ro ngày càng gia tăng. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích chính sách, kết hợp phân tích văn bản và đối chiếu thực tiễn nhằm đánh giá hiệu quả thực thi chính sách thuế đối với doanh nghiệp, nhận diện những kết quả, hạn chế và nguyên nhân, từ đó, đề xuất các giải pháp phù hợp với bối cảnh quản lý mới.
2. Thực trạng hiệu quả thực thi chính sách thuế đối với doanh nghiệp trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp
2.1. Kết quả đạt được
Trên cơ sở những thay đổi về thể chế, tổ chức bộ máy và phương thức quản lý, hiệu quả thực thi chính sách thuế đối với doanh nghiệp trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp được thể hiện qua một số kết quả nổi bật sau:
Thứ nhất, tổ chức thực thi chính sách thuế từng bước thích ứng với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; đồng thời, sắp xếp hệ thống Thuế thành 34 Thuế tỉnh, thành phố và 350 Thuế cơ sở từ ngày 01/7/2025 (Quốc hội, 2025; Cục Thuế, 2025) đã tạo sự tương thích bước đầu giữa tổ chức quản lý và không gian kinh tế mới. Xét về hiệu quả thực thi, giá trị cốt lõi không nằm ở thay đổi cơ cấu mà ở khả năng duy trì tính liên tục và ổn định của quản lý thuế trong quá trình chuyển đổi. Việc duy trì đầu mối Thuế cơ sở giúp bảo đảm doanh nghiệp tiếp tục tiếp cận cơ quan thực thi và thực hiện nghĩa vụ thuế tại địa bàn. Bằng chứng quốc tế cũng cho thấy, phân cấp, đơn giản hóa và số hóa có thể góp phần cải thiện hiệu quả quản lý và thu thuế khi được thiết kế phù hợp với năng lực và trách nhiệm của các cấp thực thi (Caldeira & cộng sự, 2023; Martínez & cộng sự, 2022). Đối với doanh nghiệp Việt Nam, kết quả này có ý nghĩa trực tiếp ở việc hạn chế gián đoạn thủ tục, duy trì tính ổn định của quan hệ quản lý thuế và giảm rủi ro phát sinh từ quá trình chuyển đổi thể chế.
Thứ hai, số hóa tạo chuyển biến rõ nét trong phương thức thực thi chính sách thuế. Giá trị của số hóa không nằm ở số lượng dịch vụ điện tử mà ở sự chuyển đổi phương thức thực thi nghĩa vụ thuế. Riêng năm 2025, hệ thống xử lý hơn 16,4 triệu hồ sơ khai và 5,59 triệu giao dịch nộp thuế điện tử (Quang Minh, 23/01/2026), trong khi đến tháng 6/2026, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử đạt 99,4% (Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, 03/7/2026). Quy mô này cho thấy, nền tảng số đã trở thành phương thức thực thi chủ yếu, góp phần chuẩn hóa quy trình, giảm tương tác trực tiếp và tăng khả năng giám sát nghĩa vụ thuế. Bằng chứng thực nghiệm của Bellon & cộng sự (2022) cũng cho thấy, hóa đơn điện tử làm tăng đáng kể doanh số và nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng được khai báo, nhất là ở nhóm doanh nghiệp có mức tuân thủ thấp. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, hiệu quả cốt lõi của số hóa là giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và khả năng dự báo trong thực hiện nghĩa vụ thuế, qua đó, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách theo hướng thuận lợi và nhất quán hơn.
Thứ ba, liên thông dữ liệu và quản lý thuế theo rủi ro nâng cao năng lực kiểm soát tuân thủ. Việc kết nối dữ liệu đăng ký doanh nghiệp với dữ liệu thuế, tài chính, bảo hiểm và dân cư đã tạo nền tảng chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro (Quang Minh, 23/01/2026). Năm 2025, hệ thống thuế phát hiện 48.834 hóa đơn có dấu hiệu vi phạm, trị giá khoảng 58.160 tỷ đồng cho thấy, dữ liệu đã trở thành công cụ trực tiếp phục vụ kiểm soát tuân thủ (Quang Minh, 23/01/2026). Xét về hiệu quả thực thi, giá trị lớn nhất là khả năng nhận diện sớm rủi ro, phân bổ nguồn lực kiểm tra có trọng tâm, thay vì kiểm soát dàn trải. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy, kiểm tra có trọng điểm cải thiện tuân thủ sau kiểm tra (Kasper & Alm, 2022), trong khi chiến lược thực thi dựa trên rủi ro nâng cao hiệu quả tuân thủ (Mittone & cộng sự, 2021). Kết quả này góp phần minh bạch hóa giao dịch, giảm kiểm tra không cần thiết và tạo môi trường tuân thủ công bằng hơn, qua đó, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách thuế theo hướng quản lý rủi ro thay cho kiểm soát đại trà.
Thứ tư, các điều kiện thúc đẩy tuân thủ và thực hiện nghĩa vụ thuế được cải thiện. Kết quả đáng chú ý không chỉ là hơn 99% doanh nghiệp khai thuế điện tử và gần 8,5 tỷ hóa đơn điện tử được tiếp nhận trong năm 2025 mà còn ở khả năng sử dụng dữ liệu để tăng tính minh bạch và hỗ trợ tuân thủ (Quang Minh, 23/01/2026). Xét về hiệu quả thực thi, số hóa giúp chuyển từ kiểm tra sau vi phạm sang giám sát và hỗ trợ tuân thủ thường xuyên, giảm phụ thuộc vào tương tác trực tiếp. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy, thông tin nhắc nhở, báo cáo của bên thứ ba và các biện pháp thực thi có mục tiêu có thể cải thiện hành vi tuân thủ (Adhikari & cộng sự, 2021; Holz & cộng sự, 2023; Yang & cộng sự, 2024). Kết quả này góp phần giảm tính bất định trong thực hiện nghĩa vụ, nâng tính minh bạch giao dịch và thúc đẩy tuân thủ tự nguyện, qua đó, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách thuế theo hướng thuận lợi, nhất quán và dựa trên dữ liệu.
2.2. Những hạn chế
Một là, phân định trách nhiệm trong thực thi chính sách thuế còn chưa rõ, nhất là đối với các vấn đề liên ngành, liên địa bàn. Việc xác định đầu mối chủ trì, trách nhiệm phối hợp và xử lý cuối cùng trong một số nội dung thực thi chính sách thuế còn chưa thật sự rõ, nhất là với doanh nghiệp có hoạt động hoặc nghĩa vụ thuế trên nhiều địa bàn. Điều này có thể làm phát sinh thêm khâu liên hệ, xác minh và phối hợp giữa các đầu mối. Các nghiên cứu về tuân thủ và tiếp nhận hệ thống thuế điện tử tại Việt Nam cho thấy, chất lượng quản lý, hỗ trợ và hệ thống có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp (Lê Trung Đạo & Vũ Thị Thanh An, 2024; Nguyen & cộng sự, 2025). Do đó, ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian xử lý, chi phí tuân thủ và mức độ thuận lợi của doanh nghiệp khi thực hiện chính sách thuế, qua đó, làm giảm tính nhất quán và hiệu quả thực thi trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Hai là, liên thông dữ liệu chưa chuyển hóa đầy đủ thành hiệu quả thực thi thuế, hiệu quả còn phụ thuộc vào chất lượng thông tin, độ ổn định của hệ thống và khả năng vận hành từ phía doanh nghiệp (Nguyen & cộng sự, 2025). Điều này phù hợp với xu hướng quản trị thuế hiện đại, trong đó hiệu quả của tích hợp dữ liệu phụ thuộc không chỉ vào khả năng kết nối mà còn vào quản trị, chất lượng và khả năng khai thác dữ liệu phục vụ quản lý tuân thủ (OECD, 2025). Thực tế này có thể làm phát sinh khoảng cách giữa khả năng kết nối về kỹ thuật và sự thuận tiện trong thực hiện nghĩa vụ thuế, khi dữ liệu đã được chia sẻ nhưng quy trình xử lý chưa tạo ra trải nghiệm thống nhất. Đối với doanh nghiệp, hạn chế này có thể làm giảm lợi ích của chuyển đổi số, ảnh hưởng đến thời gian xử lý và chi phí tuân thủ. Do đó, vấn đề không còn là dữ liệu có được kết nối hay không mà là mức độ dữ liệu được khai thác thống nhất để đơn giản hóa quy trình và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách thuế, nếu khoảng cách này còn tồn tại, lợi ích của liên thông dữ liệu đối với doanh nghiệp chưa được phát huy đầy đủ.
Ba là, mức độ số hóa cao chưa chuyển hóa đầy đủ thành giảm chi phí tuân thủ thuế. Mức độ số hóa cao chưa đồng nghĩa với chi phí tuân thủ thuế của doanh nghiệp giảm tương ứng, bởi tác động của số hóa còn phụ thuộc vào cách thức hệ thống được thiết kế và vận hành (He & Yi, 2023; Nguyen & cộng sự, 2025). Thực tế này có thể làm phát sinh khoảng cách giữa khả năng thực hiện nghĩa vụ thuế trên nền tảng số và mức độ thuận tiện, tiết kiệm nguồn lực trong thực tế, khi doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ điện tử nhưng lợi ích về thời gian và chi phí chưa được bảo đảm đồng đều. Kết quả này phù hợp với nhận định rằng cải cách thủ tục và quản lý thuế điện tử chỉ thực sự tạo thuận lợi khi đi kèm với tái cấu trúc quy trình theo hướng đơn giản, minh bạch và giảm gánh nặng hành chính đối với người nộp thuế (Đoàn Vĩ Tuyến & Nguyễn Đình Chiến, 2023). Đối với doanh nghiệp, hạn chế này có thể làm giảm phần lợi ích kỳ vọng của chuyển đổi số, nhất là trong quá trình thích ứng và vận hành hệ thống thuế điện tử. Do đó, vấn đề không còn là doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ thuế điện tử hay không mà là mức độ số hóa có thực sự đơn giản hóa quy trình, tiết kiệm thời gian và giảm chi phí tuân thủ. Nếu khoảng cách này còn tồn tại, hiệu quả thực thi chính sách thuế chưa được nâng cao tương xứng với mức độ số hóa.
Bốn là, hiệu quả thúc đẩy tuân thủ thuế chưa đồng đều giữa các nhóm doanh nghiệp. Việc áp dụng các biện pháp quản lý, hỗ trợ và giám sát thuế chưa tạo ra mức độ tuân thủ đồng đều, khả năng đáp ứng và phản ứng của doanh nghiệp đối với chính sách cũng như sự khác biệt về tuân thủ tự nguyện và tuân thủ bắt buộc không giống nhau (Lê Trung Đạo & Vũ Thị Thanh An, 2024; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2024). Mức độ tuân thủ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi hỗ trợ của cơ quan thuế, kiến thức thuế, công khai vi phạm và thanh tra, kiểm tra, do vậy, hiệu quả tuân thủ phụ thuộc vào sự kết hợp của nhiều công cụ quản lý thay vì một biện pháp đơn lẻ (Nguyễn Hoàng Khởi & Nguyễn Văn Nguyện, 2024). Hệ quả là các biện pháp hỗ trợ có thể chưa đến đúng mức độ và đối tượng cần thiết, trong khi yêu cầu quản lý đối với doanh nghiệp có mức độ tuân thủ cao chưa chắc tương xứng với rủi ro thực tế. Do vậy, hạn chế này làm giảm tính chính xác của việc phân bổ nguồn lực quản lý thuế, làm gia tăng chênh lệch về kết quả tuân thủ và ảnh hưởng đến tính công bằng, hiệu quả của thực thi chính sách; đòi hỏi phương thức quản lý và hỗ trợ phải được phân hóa phù hợp hơn với đặc điểm và mức độ tuân thủ của từng nhóm doanh nghiệp.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Thứ nhất, quá trình chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp tạo ra độ trễ trong phân định và phối hợp trách nhiệm thực thi. Việc chuyển từ mô hình chính quyền địa phương ba cấp sang hai cấp tỉnh – xã; đồng thời, tổ chức lại cơ quan thuế theo hệ thống 34 Thuế tỉnh, thành phố và 350 Thuế cơ sở làm thay đổi đáng kể không gian quản lý, đầu mối thực thi và quan hệ phối hợp giữa cơ quan thuế với chính quyền địa phương. Trong khi đó, chính sách thuế vẫn được thực thi trong một hệ thống quản lý ngành dọc, còn nhiều nội dung liên quan đến doanh nghiệp cần sự phối hợp giữa cơ quan thuế, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý chuyên ngành. Sự thay đổi về địa giới, tổ chức và đầu mối quản lý tạo ra độ trễ nhất định trong chuẩn hóa quy trình, phân định thẩm quyền và xác lập trách nhiệm phối hợp, đặc biệt đối với những trường hợp liên ngành, liên địa bàn. Đây là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh tình trạng chưa thật sự rõ về đầu mối chủ trì và trách nhiệm xử lý cuối cùng, qua đó, ảnh hưởng đến tính thống nhất và khả năng dự báo của quá trình thực thi chính sách thuế.
Thứ hai, cơ chế quản trị và khai thác dữ liệu giữa các cơ quan chưa theo kịp yêu cầu quản lý thuế dựa trên dữ liệu. Chuyển đổi số trong quản lý thuế đã tạo ra khối lượng dữ liệu lớn và thúc đẩy kết nối giữa cơ sở dữ liệu thuế với dữ liệu doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm và dân cư. Tuy nhiên, kết nối dữ liệu mới là điều kiện cần, trong khi hiệu quả thực thi phụ thuộc vào khả năng chuẩn hóa, cập nhật, đồng bộ và khai thác dữ liệu trong cùng một quy trình quản lý. Chất lượng thông tin và chất lượng hệ thống được xác định là những yếu tố quan trọng đối với khả năng tiếp nhận và sử dụng hệ thống thuế điện tử của doanh nghiệp (Nguyen & cộng sự, 2025). Khi dữ liệu giữa các hệ thống chưa được chuẩn hóa đầy đủ hoặc chưa được khai thác thống nhất, cán bộ thực thi và doanh nghiệp vẫn phải thực hiện các bước kiểm tra, đối chiếu hoặc xử lý bổ sung. Vì vậy, hạn chế về hiệu quả liên thông dữ liệu bắt nguồn không chỉ từ vấn đề kỹ thuật mà sâu hơn là từ cơ chế quản trị dữ liệu và khả năng chuyển dữ liệu thành thông tin phục vụ quyết định quản lý, làm giảm hiệu quả của mô hình quản lý thuế dựa trên dữ liệu. Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, công nghệ số có thể nâng cao năng lực thu thuế của nhà nước thông qua việc cải thiện khả năng tiếp nhận, xử lý và sử dụng thông tin trong quá trình thực thi (Cohen, 2024).
Thứ ba, năng lực thực thi và khả năng thích ứng với quản trị thuế số chưa đồng đều. Sự phát triển nhanh của thuế điện tử làm thay đổi yêu cầu đối với cả cơ quan thực thi và doanh nghiệp. Hiệu quả của hệ thống không chỉ phụ thuộc vào việc cung cấp dịch vụ trực tuyến mà còn phụ thuộc vào chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống và khả năng hỗ trợ người sử dụng (Nguyen & cộng sự, 2025). Trong thực tế, sự khác biệt về năng lực số, khả năng tiếp cận thông tin và khả năng thích ứng với thay đổi của chính sách khiến doanh nghiệp không hưởng lợi từ số hóa ở cùng một mức độ. Nghiên cứu tại thành phố Đồng Nai cho thấy, chuyển đổi số kế toán thuế tác động đến tuân thủ thông qua nhận thức của doanh nghiệp về lợi ích của chuyển đổi số (Nguyễn Thị Hồng Ngọc, 2026). Điều này cho thấy, quá trình số hóa chưa thể tự động chuyển thành hiệu quả nếu năng lực vận hành và khả năng thích ứng của các chủ thể thực thi không tương xứng. Đây là nguyên nhân quan trọng lý giải vì sao mức độ số hóa rất cao nhưng hiệu quả giảm thời gian và chi phí tuân thủ chưa đồng đều giữa các doanh nghiệp.
Thứ tư, phương thức quản lý tuân thủ chưa được phân hóa đầy đủ theo đặc điểm và mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể về quy mô, lĩnh vực, phương thức kinh doanh, mức độ ứng dụng công nghệ và khả năng tuân thủ. Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam cho thấy, hành vi tuân thủ chịu tác động của nhiều yếu tố và có sự khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp (Lê Trung Đạo & Vũ Thị Thanh An, 2024; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2024). Tuy nhiên, việc chuyển từ quản lý thuế theo phương thức tương đối đồng nhất sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro và đặc điểm người nộp thuế đòi hỏi hệ thống dữ liệu, tiêu chí phân loại và năng lực phân tích đủ chính xác. OECD (2025) cho thấy, quản lý rủi ro ngày càng dựa vào đối chiếu dữ liệu, phân tích dữ liệu và các công cụ điện tử để xác định trường hợp cần kiểm tra, qua đó, chuyển nguồn lực từ kiểm soát đại trà sang xử lý có trọng tâm. Khi khả năng nhận diện và phân nhóm chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, các biện pháp hỗ trợ, giám sát và kiểm tra khó đạt được mức độ phù hợp tối ưu với từng nhóm doanh nghiệp. Bằng chứng thực nghiệm cũng cho thấy cách thức và mức độ thực thi có thể tạo ra tác động khác nhau đến hành vi tuân thủ của người nộp thuế (Kasper & Alm, 2022; Mittone & cộng sự, 2021).
3. Một số giải pháp
Một là, hoàn thiện cơ chế phân định trách nhiệm và phối hợp thực thi chính sách thuế giữa cơ quan thuế với chính quyền địa phương. Cần xác định rõ một đầu mối chịu trách nhiệm chính đối với từng nhóm nhiệm vụ, từng loại thủ tục và từng tình huống phát sinh, đặc biệt đối với doanh nghiệp có hoạt động liên địa bàn hoặc liên quan đến nhiều cơ quan quản lý. Trên cơ sở mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cơ quan thuế cần phối hợp với chính quyền cấp tỉnh, cấp xã và các cơ quan chuyên ngành xây dựng quy trình phối hợp thống nhất, trong đó quy định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn xử lý, trách nhiệm cung cấp thông tin và trách nhiệm xử lý cuối cùng (Nguyễn Quốc Thái, 2024). Đối với các thủ tục có tính liên thông, cần hạn chế tối đa việc doanh nghiệp phải tự xác định cơ quan có thẩm quyền hoặc liên hệ nhiều đầu mối để giải quyết cùng một vấn đề. Trọng tâm không phải là tạo thêm đầu mối mà là làm rõ trách nhiệm trong toàn bộ chuỗi thực thi để doanh nghiệp chỉ cần tiếp cận một đầu mối nhưng vấn đề được xử lý xuyên suốt. Điều này sẽ góp phần giảm thời gian chờ đợi, chi phí giao dịch và tình trạng đùn đẩy trách nhiệm; đồng thời, bảo đảm tính thống nhất của chính sách thuế trong điều kiện không gian quản lý địa phương đã thay đổi.
Hai là, chuyển từ kết nối dữ liệu sang quản trị dữ liệu thống nhất phục vụ thực thi chính sách thuế. Cần xây dựng cơ chế quản trị dữ liệu thuế thống nhất, trong đó xác định rõ tiêu chuẩn dữ liệu, cơ quan chịu trách nhiệm tạo lập và cập nhật dữ liệu, tần suất đồng bộ, quyền khai thác và trách nhiệm bảo đảm chất lượng dữ liệu. Việc kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế với cơ quan đăng ký kinh doanh, bảo hiểm, tài chính và các cơ quan liên quan cần được chuyển từ mục tiêu “chia sẻ dữ liệu” sang “dùng chung dữ liệu trong cùng một quy trình xử lý”. Đồng thời, cần tăng khả năng tự động đối chiếu, cảnh báo sai lệch và cập nhật thay đổi thông tin doanh nghiệp để giảm yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có. Vì chất lượng thông tin và chất lượng hệ thống có ảnh hưởng đáng kể đến việc tiếp nhận hệ thống thuế điện tử của doanh nghiệp (Nguyen & cộng sự, 2025), hiệu quả liên thông cần được đánh giá bằng số lần doanh nghiệp phải khai lại, bổ sung hoặc đối chiếu thông tin và thời gian xử lý thực tế, thay vì chỉ bằng số lượng cơ sở dữ liệu được kết nối. Đây là điều kiện quan trọng để chuyển quản lý thuế từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên dữ liệu.
Ba là, lấy giảm chi phí tuân thủ và trải nghiệm của doanh nghiệp làm tiêu chí đánh giá hiệu quả chuyển đổi số thuế. Cần chuyển cách đánh giá chuyển đổi số từ đo mức độ cung cấp và sử dụng dịch vụ điện tử sang đo kết quả mà doanh nghiệp thực sự nhận được. Bên cạnh các chỉ tiêu về tỷ lệ khai, nộp thuế điện tử, cần theo dõi định kỳ thời gian thực hiện thủ tục, số bước xử lý, số lần phải bổ sung thông tin, tỷ lệ hồ sơ phải xử lý lại, thời gian phản hồi và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp. Các hệ thống thuế điện tử cần được thiết kế theo hướng đơn giản hóa quy trình, thống nhất giao diện và thông tin, tăng khả năng cảnh báo trước sai sót và hỗ trợ doanh nghiệp xử lý ngay trong quá trình thực hiện nghĩa vụ. Đồng thời, cần duy trì các kênh hỗ trợ phù hợp đối với doanh nghiệp có năng lực số hạn chế, tránh để số hóa tạo ra một dạng chi phí thích ứng mới. Như vậy, thành công của chuyển đổi số không nên được xác định bởi việc doanh nghiệp “có thể thực hiện trực tuyến” mà bởi việc doanh nghiệp “có thể thực hiện trực tuyến nhanh hơn, đơn giản hơn và ít tốn kém hơn”.
Thứ tư, đẩy mạnh quản lý thuế theo rủi ro và phân hóa phương thức hỗ trợ, giám sát đối với từng nhóm doanh nghiệp. Cần chuyển mạnh từ phương thức quản lý tương đối đồng nhất sang quản lý theo mức độ rủi ro và đặc điểm tuân thủ của doanh nghiệp. Trên cơ sở dữ liệu thuế, dữ liệu hóa đơn điện tử và các nguồn dữ liệu có liên quan, cơ quan thuế cần hoàn thiện tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo mức độ rủi ro, khả năng tuân thủ và đặc điểm hoạt động; từ đó áp dụng các phương thức quản lý khác nhau. Doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt nên được ưu tiên hỗ trợ, đơn giản hóa và giảm kiểm tra không cần thiết; nhóm có rủi ro trung bình cần được tăng cường hướng dẫn và cảnh báo; nhóm có rủi ro cao cần tập trung kiểm tra, thanh tra và áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp. Cách tiếp cận này vừa giảm nguồn lực quản lý đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt, vừa tập trung nguồn lực vào các trường hợp có nguy cơ vi phạm cao. Mục tiêu không phải tăng mức độ kiểm soát đối với tất cả doanh nghiệp, mà là tăng độ chính xác của kiểm soát đối với đúng đối tượng, qua đó nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực, giảm chi phí tuân thủ không cần thiết và tạo động lực cho tuân thủ tự nguyện.
Thứ năm, thiết lập cơ chế đo lường và phản hồi thường xuyên về hiệu quả thực thi chính sách thuế. Để bảo đảm các giải pháp trên tạo ra thay đổi thực chất, cần xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả thực thi chính sách thuế lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Ngoài các chỉ tiêu truyền thống, như: số thu, số hồ sơ xử lý hoặc tỷ lệ khai thuế điện tử, cần bổ sung các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thực thi như thời gian xử lý thủ tục, số lần doanh nghiệp phải bổ sung hồ sơ, mức độ hài lòng, chi phí tuân thủ, tỷ lệ xử lý đúng hạn, tỷ lệ khiếu nại và thời gian giải quyết vướng mắc. Kết quả đánh giá cần được phân tích theo quy mô, lĩnh vực, địa bàn và mức độ rủi ro của doanh nghiệp để nhận diện những nhóm còn gặp khó khăn. Cơ chế phản hồi này giúp chuyển đánh giá chính sách từ “cơ quan thuế đã thực hiện bao nhiêu” sang “doanh nghiệp thực sự nhận được hiệu quả gì từ quá trình thực thi”; đồng thời, tạo cơ sở dữ liệu để điều chỉnh quy trình, phân bổ nguồn lực và hoàn thiện chính sách theo thực tiễn.
4. Kết luận
Thực thi chính sách thuế đối với doanh nghiệp trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp yêu cầu đổi mới quản lý theo hướng thống nhất, minh bạch và thích ứng với chuyển đổi số. Chuyển biến về tổ chức, số hóa và quản trị dữ liệu hỗ trợ nâng cao hiệu quả thực thi, song năng lực và quản trị rủi ro chưa đồng đều là điểm nghẽn cần khắc phục. Do đó, hiệu quả thực thi cần tiếp cận theo hướng quản trị hiện đại, lấy dữ liệu, tuân thủ và chi phí thuế làm tiêu chí trọng tâm. Hoàn thiện phối hợp và phân bổ nguồn lực theo rủi ro góp phần củng cố hiệu lực, bảo đảm tính nhất quán. Đây là nền tảng xây dựng môi trường thuế công bằng, thuận lợi, thúc đẩy tuân thủ và phát triển doanh nghiệp bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Adhikari, B., Alm, J., & Harris, T. F. (2021). Small business tax compliance under third-party reporting. Journal of Public Economics, 203, 104514. https://doi.org/10.1016/j.jpubeco.2021.104514
Bellon, M., Dabla-Norris, E., Khalid, S., & Lima, F. (2022). Digitalization to improve tax compliance: Evidence from VAT e-invoicing in Peru. Journal of Public Economics, 210, 104661. https://doi.org/10.1016/j.jpubeco.2022.104661
Bộ Tài chính (2025). Quyết định số 381/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế.
Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính (03/7/2026). 6 tháng đầu năm 2026, công tác thuế đạt nhiều kết quả tích cực. https://www.mof.gov.vn/tin-tuc-tai-chinh/tin-tuc-su-kien-8/6-thang-dau-nam-2026-cong-tac-thue-dat-nhieu-ket-qua-tich-cuc
Caldeira, T. C. M., Ehrl, P., & Moreira, T. B. S. (2023). Fiscal decentralization and tax collection: Evidence from the rural property tax in Brazil. European Journal of Political Economy, 78, 102396. https://doi.org/10.1016/j.ejpoleco.2023.102396
Cohen, I. (2024). Technology and the state: Building capacity to tax via text. Journal of Public Economics, 236, 105154. https://doi.org/10.1016/j.jpubeco.2024.105154
Cục Thuế (2025). Quyết định số 1377/QĐ-CT ngày 30/6/2025 ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thuế cơ sở thuộc Thuế tỉnh, thành phố.
Đoàn Vĩ Tuyến & Nguyễn Đình Chiến (2023). Cải cách thể chế và thủ tục hành chính trong quản lý thuế tại Việt Nam: Góc nhìn từ người nộp thuế. Tạp chí Tài chính, 815, 12-15.
He, Y., & Yi, Y. (2023). Digitalization of tax administration and corporate performance: Evidence from China. International Review of Financial Analysis, 90, 102859. https://doi.org/10.1016/j.irfa.2023.102859
Kasper, M., & Alm, J. (2022). Audits, audit effectiveness, and post-audit tax compliance. Journal of Economic Behavior & Organization, 195, 87-102. https://doi.org/10.1016/j.jebo.2022.01.003
Lê Trung Đạo & Vũ Thị Thanh An (2024). Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp có hoạt động thương mại điện tử: Nghiên cứu tại Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, 15(7). https://doi.org/10.52932/jfm.v15i7.628
Martínez, Y. U., Arzoz, P. P., & Arregui, I. Z. (2022). Tax collection efficiency in OECD countries improves via decentralization, simplification, digitalization and education. Journal of Policy Modeling, 44(2), 298-318. https://doi.org/10.1016/j.jpolmod.2022.03.003
Mittone, L., Ploner, M., & Verrina, E. (2021). When the state does not play dice: Aggressive audit strategies foster tax compliance. Social Choice and Welfare, 57, 591-615. DOI 10.1007/s00355-021-01325-y
Nguyen, T. Q., Pham, T. A. N., Hoang, A. P., Do, T. H. N., & Fuller, D. (2025). Factors affecting the acceptance of online tax filing and payment system by micro small medium enterprises in Vietnam. Journal of Asian Public Policy, 18(1), 184-205. https://doi.org/10.1080/17516234.2023.2248640
Nguyễn Hoàng Khởi & Nguyễn Văn Nguyện (2024). Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp sau giai đoạn Covid-19 trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Kế toán, 262, 79-82.
Nguyễn Quốc Thái (2024). Một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/11/15/mot-so-giai-phap-hoan-thien-quan-ly-thu-thue-doi-voi-doanh-nghiep-nho-va-vua-o-viet-nam-hien-nay/
Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2026). Tác động của chuyển đổi số kế toán thuế đến mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp: Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Đồng Nai. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/21/tac-dong-cua-chuyen-doi-so-ke-toan-thue-den-muc-do-tuan-thu-thue-cua-doanh-nghiep-nghien-cuu-truong-hop-tai-tinh-dong-nai/
Nguyễn Thị Phương Hồng (2024). Kiểm định sự khác biệt của đối tượng khảo sát đối với hành vi tuân thủ thuế: Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng châu Á, 219. https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2024.219.98259
OECD (2025). Tax administration 2025: Comparative information on OECD and other advanced and emerging economies. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/cc015ce8-en|
Quang Minh (23/01/2026). Hiện đại hóa, chuyển đổi số trong quản lý thuế. https://mof.gov.vn/chuyen-doi-so/bo-tai-chinh-chuyen-doi-so/hien-dai-hoa-chuyen-doi-so-trong-quan-ly-thue
Quốc hội (2019). Luật Quản lý thuế năm 2019.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Yang, W., Zhao, J., & Zhou, H. (2024). Information nudges and tax compliance: Evidence from a field experiment in China. Journal of Economic Behavior & Organization, 228, 106779. https://doi.org/10.1016/j.jebo.2024.106779



