Heritage based on the satellite account principles and a simulation exercise in Ninh Binh
PGS.TS. Hoàng Văn Hoan
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: hoanhvct@gmail.com
TS. Nguyễn Danh Nam
Trường Đại học Tài chính – Ngân hàng Hà Nội
Email: namnd@fbu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Đóng góp kinh tế của di sản không đồng nhất với doanh thu du lịch vì các hoạt động dựa trên nguồn lực di sản phân bố ở nhiều ngành và sử dụng chi phí trung gian khác nhau. Bài viết đề xuất khung đo lường giá trị gia tăng kinh tế di sản theo nguyên tắc tài khoản vệ tinh, kết hợp giá trị sản xuất, hệ số đóng góp của di sản và hệ số giá trị gia tăng ngành. Mô phỏng tại Ninh Bình cho thấy giá trị gia tăng quy thuộc cho di sản thay đổi theo phạm vi sản xuất và giả định về mức đóng góp của nguồn lực di sản; hoạt động ăn uống chi phối độ nhạy trong các kịch bản được thiết lập. Kết quả chưa phải ước lượng thực chứng về đóng góp của di sản. Đo lường thống kê đòi hỏi đối chiếu chi tiêu du lịch với dữ liệu sản xuất, chuẩn hóa hệ giá và lãnh thổ, đồng thời điều tra chi tiêu của khách theo tình huống đối chứng.
Từ khóa: Kinh tế di sản; giá trị gia tăng; hệ số đóng góp của di sản; tài khoản vệ tinh; Ninh Bình.
Abstract: The economic contribution of heritage is not equivalent to tourism revenue, as heritage-based activities span multiple industries and involve different levels of intermediate consumption. This article proposes a framework for measuring the economic value added attributable to heritage based on the satellite account principles, combining output values, a heritage contribution coefficient, and industry value-added ratios. A simulation exercise in Ninh Binh shows that the value added attributable to heritage varies depending on the production boundary and assumptions regarding the contribution of heritage resources. Food and beverage services are the main driver of sensitivity across the scenarios established. The results do not constitute an empirical estimate of heritage’s economic contribution. Statistical measurement requires reconciling tourism expenditure with production data, harmonizing price and territorial bases, and conducting visitor expenditure surveys using counterfactual scenarios.
Keywords: Heritage economy; value added; heritage contribution coefficient; satellite account; Ninh Binh.
1. Đặt vấn đề
Luật Di sản văn hóa năm 2024 yêu cầu gắn bảo vệ và phát huy giá trị di sản với phát triển kinh tế – xã hội (Quốc hội, 2024), nhưng thống kê hiện hành chưa cho biết nguồn lực di sản đóng góp bao nhiêu vào nền kinh tế địa phương. Ninh Bình sau sắp xếp địa giới hành chính có 1.106 di tích được xếp hạng, Quần thể danh thắng Tràng An là Di sản thế giới (Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình, 2025) và có số cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo nhiều nhất cả nước, 6,3 nghìn cơ sở (Cục Thống kê, 2026b). Năm 2025, tỉnh đón hơn 19,4 triệu lượt khách, tổng thu du lịch ước đạt 21.238 tỷ đồng (Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình, 2025), tương đương 6,19% quy mô GRDP ước tính khoảng 342,9 nghìn tỷ đồng (Cục Thống kê, 2026a). Tỷ lệ này không phản ánh đóng góp của di sản, vì doanh thu chưa loại chi phí trung gian và phần chi tiêu vẫn phát sinh khi không có di sản. Đóng góp của bài viết là đề xuất một quy tắc hạch toán phần giá trị gia tăng gắn với nguồn lực di sản, khả thi với thống kê cấp tỉnh và mở rộng được ra ngoài du lịch, đồng thời thử nghiệm mô phỏng với dữ liệu Ninh Bình năm 2025 để nhận diện tham số chi phối kết quả và dữ liệu phải thu thập.
2. Tổng quan và cơ sở lý thuyết
Kinh tế học tiếp cận di sản văn hóa như một dạng vốn tạo ra dòng lợi ích theo thời gian. Throsby (1999, 2001) xác định vốn văn hóa là tài sản chứa đựng đồng thời giá trị văn hóa và giá trị kinh tế, chịu hao mòn nếu không được duy trì; Greffe (2004) cho rằng giá trị kinh tế của di sản phụ thuộc vào năng lực tổ chức khai thác, và chi phí bảo tồn trở thành gánh nặng nếu không hình thành dòng lợi ích tương ứng. Ở Việt Nam, Dương Văn Sáu (2023) tiếp cận kinh tế di sản qua việc dùng nguồn lực di sản làm đầu vào cho du lịch, tạo ra thu nhập và nguồn tái đầu tư cho bảo tồn. Trong nghiên cứu này, nguồn lực di sản bao gồm các giá trị văn hóa, lịch sử và thiên nhiên được xác định trong phạm vi di sản, có khả năng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ kinh tế. Phân biệt trữ lượng vốn di sản với dòng giá trị tạo ra từ việc sử dụng vốn là điểm xuất phát để xác định đối tượng đo lường.
Hướng lượng giá tập trung vào lợi ích di sản mang lại cho xã hội, kể cả lợi ích phi thị trường. Navrud và Ready (2002), Noonan (2003) vận dụng khung tổng giá trị kinh tế với định giá ngẫu nhiên và mô hình lựa chọn để ước lượng mức sẵn lòng chi trả cho bảo tồn; Choi và cộng sự (2010) dùng mô hình lựa chọn để xác định giá trị biên của các phương án quản lý Tòa nhà Quốc hội cũ tại Australia. Pagiola (1996) phân biệt giá trị của tài sản di sản với thay đổi lợi ích và chi phí do quyết định đầu tư tạo ra; Nguyễn Công Thành (2019) nhấn mạnh vai trò của lượng giá trong phân bổ nguồn lực bảo tồn. Mức sẵn lòng chi trả đo phúc lợi chứ không đo giá trị gia tăng của một kỳ sản xuất, nên không dùng trực tiếp được để xác định đóng góp của di sản trong GRDP.
Hướng nghiên cứu tác động kinh tế tập trung vào chi tiêu của khách, việc làm và hiệu ứng lan tỏa. Bowitz và Ibenholt (2009) chỉ ra khác biệt về phạm vi và cách dùng mô hình đầu vào – đầu ra; Rizzo và Mignosa (2013) nhận diện sự thiếu thống nhất về ranh giới hoạt động liên quan đến di sản; CHCfE Consortium (2015) và Historic England (2020) mở rộng đánh giá sang giá trị gia tăng và việc làm. Crompton (2006) cảnh báo việc thổi phồng tác động khi tính cả chi tiêu không phát sinh từ mục đích tham quan hoặc đồng nhất doanh thu với thu nhập.
Tài khoản vệ tinh du lịch xác định tiêu dùng du lịch từ phía cầu, đối chiếu với tài khoản sản xuất để tính giá trị gia tăng trực tiếp (United Nations và cộng sự, 2010; Frechtling, 2010), với yêu cầu nhất quán với hệ thống tài khoản quốc gia (Smeral, 2006); Phan Thị Thu Hương (2016) đã thử nghiệm tài khoản này ở cấp tỉnh tại Việt Nam. Hệ thống tài khoản quốc gia 2008 quy định xác định giá trị sản xuất của hoạt động phi thị trường theo chi phí (European Commission và cộng sự, 2009), còn khung thống kê văn hóa của UNESCO Institute for Statistics (2009) cung cấp cơ sở phân định lĩnh vực di sản. Vận dụng các nguyên tắc này cho kinh tế di sản đòi hỏi thêm một quy tắc tách phần đóng góp của di sản.
Tách phần đóng góp của di sản là vấn đề đặc thù, bởi không phải mọi chi tiêu của khách tại địa phương có di sản đều phát sinh từ di sản. McKercher (2002) phân biệt khách lấy di sản làm mục đích chính với khách tham quan di sản như hoạt động phụ; Crompton (2006) yêu cầu loại trừ những khoản chi vẫn phát sinh nếu không có điểm tham quan. Trên cơ sở đó, hệ số đóng góp của di sản được định nghĩa là tỷ lệ hoạt động kinh tế phát sinh nhờ nguồn lực di sản, xác định bằng so sánh chi tiêu thực tế với chi tiêu trong tình huống đối chứng; với làng nghề, căn cứ vào mức độ sử dụng tri thức, kỹ năng và biểu tượng di sản trong sản xuất.
Các hướng nghiên cứu trên cung cấp phương pháp lượng giá phúc lợi, cách nhận diện chi tiêu và lan tỏa, và nguyên tắc hạch toán giá trị gia tăng, nhưng chưa có quy tắc thống nhất để xác định phần giá trị gia tăng gắn với nguồn lực di sản trong từng ngành ở cấp địa phương. Ở Việt Nam, kinh tế di sản thường được nhìn qua lăng kính du lịch, nên quy mô của nó dễ bị đồng nhất với doanh thu du lịch.
Tóm lại, kinh tế di sản là tập hợp các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ sử dụng nguồn lực di sản để tạo ra giá trị kinh tế. Giá trị gia tăng kinh tế di sản (sau đây gọi là giá trị gia tăng di sản) được xác định từ giá trị sản xuất của từng hoạt động, hệ số đóng góp của di sản và hệ số giá trị gia tăng ngành; đây là phép đo dòng, khác về bản chất với giá trị tài sản di sản, mức sẵn lòng chi trả, doanh thu du lịch và tác động tính theo hệ số nhân. Trong các thành phần, hệ số đóng góp của di sản là đại lượng đặc thù phải ước lượng từ điều tra.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Khung đo lường
Giá trị gia tăng kinh tế di sản được xác định trên cơ sở giá trị sản xuất của từng hoạt động kinh tế, hệ số đóng góp của di sản và hệ số giá trị gia tăng ngành, theo công thức:
HEVAᵢ = Yᵢ × hᵢ × vᵢ (1)
Trong đó, i là hoạt động kinh tế; HEVAᵢ là giá trị gia tăng di sản của hoạt động i; Yᵢ là giá trị sản xuất; hᵢ là hệ số đóng góp của di sản, tức tỷ lệ hoạt động phát sinh nhờ nguồn lực di sản, nhận giá trị từ 0 đến 1 trong các kịch bản mô phỏng; vᵢ là hệ số giá trị gia tăng của ngành, bằng giá trị gia tăng chia cho giá trị sản xuất của ngành (Miller & Blair, 2009; United Nations và cộng sự, 2010).
Tổng giá trị gia tăng di sản và tỷ lệ so với tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) được tính như sau:
HEVA = Σᵢ HEVAᵢ (2)
Tỷ lệ HEVA so với GRDP = (HEVA/GRDP) × 100 (3)
Chỉ tiêu này chỉ gồm giá trị gia tăng trực tiếp, không gồm tác động gián tiếp và cảm ứng (Crompton, 2006; Frechtling, 2010). Tỷ lệ giá trị gia tăng di sản so với GRDP là chỉ tiêu so sánh quy mô thử nghiệm, chưa phải tỷ trọng hạch toán, vì tử số và mẫu số chưa đồng nhất về hệ giá, thuế sản phẩm và phạm vi sản xuất. Vì vậy, giá trị gia tăng di sản được đối chiếu đồng thời với GRDP và với tổng giá trị tăng thêm theo giá cơ bản.
Phạm vi kinh tế di sản gồm các hoạt động tạo giá trị gia tăng nhờ nguồn lực di sản, cụ thể: tham quan; lưu trú, ăn uống, vận chuyển và lữ hành phục vụ khách đến vì di sản; hàng hóa, quà lưu niệm; làng nghề truyền thống; dịch vụ văn hóa, biểu diễn, lễ hội; bảo tồn, tu bổ. Thu nhập cộng đồng đã nằm trong giá trị gia tăng của các hoạt động tương ứng nên không tính riêng. Khung đo lường vận dụng nguyên tắc hạch toán của tài khoản vệ tinh nhưng chưa phải một tài khoản vệ tinh hoàn chỉnh.
Giá trị gia tăng di sản lõi gồm tham quan, lưu trú, ăn uống và vận chuyển, là các hoạt động có số liệu doanh thu riêng. Giá trị gia tăng di sản mở rộng bổ sung hàng hóa, quà lưu niệm, làng nghề, dịch vụ du lịch khác (lữ hành, văn hóa, biểu diễn, lễ hội) và bảo tồn, tu bổ; do chưa có số liệu sản xuất được xác minh cho các cấu phần này, khả năng áp dụng của khung được minh họa bằng mô phỏng chuẩn hóa trên 100 tỷ đồng doanh thu, không gắn với quy mô thực tế của tỉnh.
Giá trị sản xuất và hệ số giá trị gia tăng lấy từ thống kê hiện hành, còn hệ số đóng góp của di sản về nguyên tắc ước lượng theo công thức (7) nhưng trong phép thử năm 2025 được thiết lập theo kịch bản, nên kết quả là ước tính có điều kiện, không phải đo lường thực chứng. Công thức (1) còn giả định phần sản xuất phát sinh nhờ di sản có cùng hệ số giá trị gia tăng với phần còn lại của ngành; giả định này bị vi phạm nếu dịch vụ phục vụ khách di sản có cơ cấu chi phí khác biệt.
3.2. Dữ liệu, nguyên tắc lãnh thổ và hệ giá
Dữ liệu gồm tổng thu du lịch năm 2025 của Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình (2025); GRDP năm 2025 của tỉnh sau hợp nhất, ước tính khoảng 342,9 nghìn tỷ đồng, suy tính từ GRDP bình quân đầu người (89,2 triệu đồng) và dân số trung bình (3.843,8 nghìn người) do Cục Thống kê (2026a) công bố; số liệu bảo tồn, tu bổ di tích của Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình (2025) và bảng cân đối liên ngành 10 ngành tỉnh Ninh Bình năm 2019 (Bảng 1).
Bảng 1. Định nghĩa biến và nguồn dữ liệu
| Ký hiệu | Định nghĩa | Đơn vị | Nguồn dữ liệu |
| Yᵢ | Giá trị sản xuất của hoạt động i; trong phép thử, được đại diện bằng doanh thu dịch vụ theo giá người mua | Tỷ đồng | Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình (2025) |
| hᵢ | Hệ số đóng góp của di sản, phản ánh tỷ lệ hoạt động kinh tế phát sinh nhờ nguồn lực di sản | Hệ số | Phép thử 2025: tham số kịch bản; về nguyên tắc: ước lượng từ điều tra chi tiêu khách du lịch theo công thức (7) |
| eᵢⱼ | Chi tiêu thực tế của khách j cho hoạt động i | Nghìn đồng | Điều tra chi tiêu khách du lịch theo hoạt động |
| eᵢⱼ⁰ | Chi tiêu giả định của khách j cho hoạt động i khi không có nguồn lực di sản | Nghìn đồng | Điều tra chi tiêu khách du lịch theo tình huống giả định |
| vᵢ | Hệ số giá trị gia tăng, bằng tỷ lệ giữa giá trị gia tăng và giá trị sản xuất của ngành i | Hệ số | Bảng cân đối liên ngành 10 ngành tỉnh Ninh Bình năm 2019 |
| GRDP | Tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2025, theo giá hiện hành | Tỷ đồng | Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2025, Phụ lục: GRDP bình quân đầu người × dân số trung bình (Cục Thống kê, 2026a) |
| HEVAᵢ, HEVA | Giá trị gia tăng di sản của hoạt động i và của toàn bộ phạm vi đo lường | Tỷ đồng | Tính toán từ Yᵢ, hᵢ và vᵢ |
Ghi chú: Trong phép thử năm 2025, hệ số đóng góp của di sản được thiết lập theo kịch bản; chi tiêu thực tế và chi tiêu đối chứng là biến của điều tra đề xuất. GRDP dùng làm mẫu số tính toán là 342.867 tỷ đồng, suy tính từ hai chỉ tiêu đã làm tròn của niên giám.
Phép đo tuân thủ nguyên tắc lãnh thổ, chỉ tính giá trị gia tăng do đơn vị sản xuất trên địa bàn tạo ra. Theo Hệ thống tài khoản quốc gia 2008, giá trị sản xuất của dịch vụ thị trường bằng doanh thu theo giá cơ bản; với tham quan, lưu trú, ăn uống và vận tải hành khách, tồn kho không đáng kể nên doanh thu là thước đo gần của giá trị sản xuất (European Commission và cộng sự, 2009). Tuy nhiên, tổng thu du lịch được ước tính từ phía chi tiêu của khách theo giá người mua, không phải doanh thu của cơ sở cung ứng. Dùng chi tiêu theo giá người mua để đại diện cho giá trị sản xuất theo giá cơ bản có thể tạo ra sai lệch do thuế sản phẩm, phạm vi lãnh thổ và cách phân loại giao dịch. Chiều hướng và quy mô sai lệch phụ thuộc vào cơ cấu từng hoạt động; khi chi tiêu bao gồm thuế sản phẩm và dịch vụ do đơn vị ngoài tỉnh cung cấp, giá trị gia tăng có nguy cơ bị ước tính cao.
Hệ số giá trị gia tăng tính theo giá cơ bản, còn GRDP theo giá thị trường. Năm 2019, chênh lệch giữa GRDP và tổng giá trị tăng thêm của Ninh Bình bằng 14,61% GRDP; tỷ lệ này được dùng để ước tính tổng giá trị tăng thêm năm 2025 (292.774 tỷ đồng) làm mẫu số đối chiếu, với giả định tỷ trọng thuế sản phẩm trừ trợ cấp không đổi.
3.3. Bảng cân đối liên ngành và hệ số giá trị gia tăng
Hệ số giá trị gia tăng được tính từ bảng cân đối liên ngành 10 ngành tỉnh Ninh Bình năm 2019, lập theo phương pháp phi điều tra từ bảng cân đối liên ngành quốc gia năm 2019 (Cục Thống kê, 2025). Giá trị sản xuất (113.693,5 tỷ đồng) và giá trị tăng thêm (52.496,7 tỷ đồng) theo ngành của tỉnh lấy từ niên giám thống kê (Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình, 2020), được gộp về 10 ngành theo phân ngành của bảng quốc gia và dùng làm tổng kiểm soát. Hệ số chi phí trực tiếp nội tỉnh được ước lượng bằng phương pháp thương số định vị của Flegg (Flegg và cộng sự, 1995; Flegg & Tohmo, 2013):
λ = [log₂(1 + Xᴿ/Xᴺ)]ᵟ; FLQᵢⱼ = CILQᵢⱼ × λ (i ≠ j), FLQᵢᵢ = SLQᵢ × λ (4)
aᵢⱼᴿ = aᵢⱼᴺ × min(1; FLQᵢⱼ) (5)
Trong đó, X là giá trị sản xuất, chỉ số R và N lần lượt chỉ tỉnh và cả nước; SLQᵢ là tỷ trọng của ngành i trong giá trị sản xuất của tỉnh chia cho tỷ trọng tương ứng của cả nước, CILQᵢⱼ = SLQᵢ/SLQⱼ; a là hệ số chi phí trực tiếp; δ = 0,30. Phần chênh lệch giữa hệ số quốc gia và hệ số nội tỉnh được hạch toán là đầu vào trung gian mua từ ngoài tỉnh. Ma trận giao dịch nội tỉnh được cân đối bằng thuật toán RAS, tức điều chỉnh lặp đồng thời tổng hàng và tổng cột, theo các đồng nhất thức:
Xᵢᴿ = Σⱼzᵢⱼᴿ + fᵢᴿ; Xⱼᴿ = Σᵢzᵢⱼᴿ + mⱼᴿ + VAⱼᴿ (6)
Trong đó, z là giao dịch trung gian nội tỉnh; f là phần sử dụng ngoài giao dịch trung gian nội tỉnh, gồm cầu cuối cùng tại địa phương và sản phẩm cung ứng ra ngoài tỉnh; m là đầu vào trung gian mua từ ngoài tỉnh và nước ngoài. Do giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm của từng ngành là tổng kiểm soát, hệ số giá trị gia tăng không phụ thuộc vào thương số định vị hay thuật toán RAS; hai kỹ thuật này chỉ phân chia chi phí trung gian giữa nội tỉnh và ngoài tỉnh. Độ tin cậy của hệ số vì vậy phụ thuộc vào số liệu giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm theo ngành, cách gộp ngành và cách gán hoạt động với ngành (Bảng 2): lưu trú và ăn uống dùng chung một hệ số; tham quan, lữ hành và dịch vụ văn hóa dùng hệ số của nhóm dịch vụ khác. Hệ số năm 2019 cho tỉnh sau hợp nhất chỉ được kiểm tra độ nhạy, chưa được xác thực.
Bảng 2. Hệ số giá trị gia tăng theo hoạt động kinh tế di sản
| Hoạt động | Ngành tương ứng trong bảng cân đối liên ngành | Hệ số giá trị gia tăng |
| Tham quan | Các dịch vụ khác | 0,65 |
| Lưu trú | Lưu trú và ăn uống | 0,50 |
| Ăn uống | Lưu trú và ăn uống | 0,50 |
| Vận chuyển | Vận tải, kho bãi | 0,52 |
| Hàng hóa, quà lưu niệm | Bán buôn, bán lẻ | 0,60 |
| Lữ hành | Các dịch vụ khác | 0,65 |
| Văn hóa, biểu diễn, lễ hội | Các dịch vụ khác | 0,65 |
| Bảo tồn, tu bổ | Xây dựng | 0,38 |
| Làng nghề | Công nghiệp chế biến, chế tạo | 0,36 |
3.4. Hệ số đóng góp của di sản và phương pháp điều tra
Hệ số đóng góp của di sản được xác định bằng so sánh chi tiêu thực tế của khách với chi tiêu trong tình huống đối chứng (McKercher, 2002; Crompton, 2006). Tình huống đối chứng giả định các nguồn lực di sản thuộc phạm vi nghiên cứu không còn giữ vai trò thu hút khách, trong khi điều kiện kinh tế, hạ tầng và khả năng cung ứng dịch vụ khác được giữ nguyên; chi tiêu đối chứng phản ánh quyết định thay thế điểm đến, thời gian lưu trú và cơ cấu tiêu dùng của khách:
hᵢ = Σⱼ(eᵢⱼ − eᵢⱼ⁰) / Σⱼeᵢⱼ (7)
Trong đó, eᵢⱼ và eᵢⱼ⁰ là chi tiêu thực tế và chi tiêu đối chứng của khách j cho hoạt động i. Khách không thực hiện chuyến đi trong tình huống đối chứng có chi tiêu đối chứng bằng 0; khách vẫn đến nhưng rút ngắn lưu trú có chi tiêu lưu trú, ăn uống giảm trong khi chi phí vận chuyển không đổi. Chênh lệch âm được giữ nguyên để phản ánh dịch chuyển chi tiêu giữa các hoạt động. Hệ số thu được từ câu trả lời về tình huống giả định là ước lượng phần đóng góp dựa trên hành vi tự khai báo, chưa phải bằng chứng nhân quả được nhận diện độc lập.
Trong điều tra đề xuất, hệ số được ước lượng bằng tổng chênh lệch chi tiêu có trọng số mẫu chia cho tổng chi tiêu thực tế có trọng số mẫu; mẫu gồm khách nội địa, quốc tế, khách lưu trú và trong ngày, phân tầng theo không gian di sản và mùa vụ, có phân biệt đơn vị cung cấp dịch vụ trong và ngoài tỉnh.
Với làng nghề, hệ số đóng góp của di sản là tỷ trọng giá trị sản xuất của sản phẩm sử dụng nghề truyền thống và biểu tượng di sản; với bảo tồn, tu bổ, hệ số bằng 1 khi giá trị sản xuất chỉ gồm công việc trực tiếp bảo tồn di sản.
Trong phép thử năm 2025, hệ số đóng góp của di sản được thiết lập theo các mức kịch bản (Bảng 3); giá trị tham chiếu là mốc so sánh, không phải kết quả ước lượng. Tham quan nhận hệ số bằng 1 theo quy ước doanh thu vé gắn trực tiếp với di sản; quy ước này nhất quán với phạm vi nguồn lực di sản gồm cả giá trị thiên nhiên của Tràng An, nhưng có thể tính cả phần chi tiêu vé phát sinh từ nhu cầu giải trí không gắn với giá trị di sản. Hệ số lưu trú được đặt cao hơn ăn uống và vận chuyển do phụ thuộc nhiều hơn vào khách ngoài tỉnh; mức thấp và cao chênh 0,20 so với tham chiếu. Các ngưỡng này không có cơ sở xác suất, nên khoảng kết quả là biên độ mô phỏng, không phải khoảng tin cậy.
Bảng 3. Hệ số đóng góp của di sản theo các mức giả định
| Hoạt động | Mức giả định thấp | Giá trị tham chiếu | Mức giả định cao |
| Tham quan | 1,00 | 1,00 | 1,00 |
| Lưu trú | 0,35 | 0,55 | 0,75 |
| Ăn uống | 0,30 | 0,50 | 0,70 |
| Vận chuyển | 0,30 | 0,50 | 0,70 |
3.5. Phân tích độ nhạy và xử lý các cấu phần đặc thù
Ảnh hưởng của hệ số đóng góp của di sản được đo bằng mức thay đổi giá trị gia tăng di sản khi hệ số của từng hoạt động thay đổi 0,1 và bằng tỷ trọng của từng hoạt động trong biên độ thay đổi giá trị gia tăng di sản giữa các kịch bản. Với hệ số giá trị gia tăng, phân tích được thực hiện tại mức tham chiếu, cho hệ số thay đổi ±10%. Vì giá trị gia tăng di sản tỷ lệ thuận với tích của giá trị sản xuất và hệ số giá trị gia tăng, sai lệch 10% của giá trị sản xuất tác động lên kết quả đúng bằng sai lệch 10% của hệ số giá trị gia tăng; phép thử này vì vậy đồng thời cho biết độ nhạy với sai số tỷ lệ của giá trị sản xuất.
Các cấu phần mở rộng được xử lý theo nguyên tắc tài khoản quốc gia (European Commission và cộng sự, 2009): giá trị sản xuất của hàng hóa, quà lưu niệm là lề thương mại; doanh thu lữ hành chỉ dùng để đối chiếu, không cộng trực tiếp; bảo tồn, tu bổ tính theo khối lượng công việc thực hiện trong năm, không dùng kinh phí lũy kế.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Giá trị gia tăng và giá trị gia tăng di sản lõi theo các kịch bản
Năm 2025, tổng thu du lịch Ninh Bình ước đạt 21.238 tỷ đồng, tương đương 6,19% quy mô GRDP; doanh thu tham quan, lưu trú, ăn uống và vận chuyển đạt 16.218 tỷ đồng (76,36%). Thu hẹp phạm vi từ tổng thu du lịch xuống doanh thu của các hoạt động lõi và áp dụng hệ số giá trị gia tăng ngành đưa quy mô giá trị gia tăng ước tính xuống 8.367,3 tỷ đồng, tương đương 2,44% GRDP. Khi tiếp tục áp dụng hệ số đóng góp của di sản theo các kịch bản, giá trị gia tăng di sản lõi đạt 3.180,3–6.170,7 tỷ đồng, tương đương 0,93–1,80% GRDP, mức tham chiếu 4.675,5 tỷ đồng, tương đương 1,36% GRDP (Bảng 4).
Bảng 4. Doanh thu, giá trị gia tăng và giá trị gia tăng di sản lõi tại Ninh Bình năm 2025 (tỷ đồng)
| Hoạt động | Doanh thu | Hệ số giá trị gia tăng | Giá trị gia tăng | Giá trị gia tăng di sản lõi – thấp | Giá trị gia tăng di sản lõi – tham chiếu | Giá trị gia tăng di sản lõi – cao |
| Tham quan | 1.371 | 0,65 | 891,2 | 891,2 | 891,2 | 891,2 |
| Lưu trú | 1.852 | 0,50 | 926,0 | 324,1 | 509,3 | 694,5 |
| Ăn uống | 10.363 | 0,50 | 5.181,5 | 1.554,5 | 2.590,8 | 3.627,1 |
| Vận chuyển | 2.632 | 0,52 | 1.368,6 | 410,6 | 684,3 | 958,0 |
| Tổng | 16.218 | – | 8.367,3 | 3.180,3 | 4.675,5 | 6.170,7 |
| Tương đương quy mô GRDP (%) | 4,73 | – | 2,44 | 0,93 | 1,36 | 1,80 |
| So với tổng giá trị tăng thêm ước tính (%) | – | – | – | 1,09 | 1,60 | 2,11 |
| So với tổng thu du lịch (%) | 76,36 | – | 39,40 | 15,0 | 22,0 | 29,1 |
Ghi chú: Giá trị gia tăng di sản lõi bằng giá trị gia tăng nhân hệ số đóng góp của di sản theo Bảng 3 và là kết quả mô phỏng, không phải số liệu thống kê chính thức. Hệ số giá trị gia tăng tính cho phạm vi lãnh thổ Ninh Bình năm 2019, trước hợp nhất, trong khi doanh thu và GRDP thuộc phạm vi năm 2025. Tổng giá trị tăng thêm năm 2025 ước tính với giả định tỷ trọng trong GRDP giữ mức 85,39% của năm 2019. Số liệu làm tròn nên tổng có thể chênh 0,1 tỷ đồng.
Ăn uống tạo ra 61,93% giá trị gia tăng của các hoạt động lõi. Ở mức tham chiếu, ăn uống chiếm 55,4% giá trị gia tăng di sản lõi, tham quan 19,1%, vận chuyển 14,6% và lưu trú 10,9%; từ kịch bản thấp sang cao, tỷ trọng tham quan giảm từ 28,0% xuống 14,4%. Trong các kịch bản, giá trị gia tăng di sản lõi của ăn uống, lưu trú và vận chuyển vượt giá trị gia tăng từ tham quan trực tiếp; cơ cấu này phụ thuộc vào phạm vi và hệ số đã giả định.
4.2. Độ nhạy theo hệ số đóng góp của di sản
Khi hệ số của ăn uống thay đổi 0,1, giá trị gia tăng di sản lõi thay đổi 518,2 tỷ đồng (0,151% GRDP); mức tương ứng của vận chuyển, lưu trú và tham quan là 136,9, 92,6 và 89,1 tỷ đồng. Với cùng biên độ 0,40 cho lưu trú, ăn uống và vận chuyển, giá trị gia tăng di sản lõi chênh 2.990,5 tỷ đồng giữa kịch bản thấp và cao, trong đó ăn uống chiếm 69,3%, vận chuyển 18,3% và lưu trú 12,4% (Bảng 5). Hệ số đóng góp của di sản đối với ăn uống vì vậy là hệ số ưu tiên ước lượng và kiểm chứng.
Bảng 5. Độ nhạy của giá trị gia tăng di sản lõi theo hệ số đóng góp của di sản
| Hoạt động | Giá trị gia tăng của hoạt động (tỷ đồng) | Giá trị gia tăng di sản lõi thay đổi khi hệ số thay đổi 0,1 (tỷ đồng) | Tương đương quy mô GRDP (%) | Chênh lệch giữa mức giả định thấp và cao (tỷ đồng) | Tỷ trọng trong tổng chênh lệch (%) |
| Tham quan | 891,2 | 89,1 | 0,026 | 0,0 | 0,0 |
| Lưu trú | 926,0 | 92,6 | 0,027 | 370,4 | 12,4 |
| Ăn uống | 5.181,5 | 518,2 | 0,151 | 2.072,6 | 69,3 |
| Vận chuyển | 1.368,6 | 136,9 | 0,040 | 547,5 | 18,3 |
| Tổng | 8.367,3 | 836,7 | 0,244 | 2.990,5 | 100,0 |
Ghi chú: Mức thay đổi 0,1 tính riêng cho từng hoạt động; dòng tổng là trường hợp mọi hệ số cùng thay đổi 0,1. Tỷ trọng phản ánh biên độ theo giả định, không phải mức bất định ước lượng từ điều tra.
4.3. Độ nhạy theo hệ số giá trị gia tăng và giá trị sản xuất
Khi hệ số giá trị gia tăng ngành thay đổi ±10%, giá trị gia tăng di sản lõi tham chiếu thay đổi ±467,6 tỷ đồng (0,136% GRDP), trong đó ăn uống chiếm 259,1 tỷ đồng (55,4%), tham quan 89,1 tỷ đồng, vận chuyển 68,4 tỷ đồng và lưu trú 50,9 tỷ đồng. Biên độ thay đổi giá trị gia tăng di sản lõi do hệ số đóng góp của di sản (±1.495,3 tỷ đồng quanh mức tham chiếu) lớn hơn khoảng ba lần biên độ thay đổi do giả định hệ số giá trị gia tăng ngành biến động ±10%. Với giá trị sản xuất, nếu toàn bộ doanh thu lõi bao gồm thuế giá trị gia tăng 8–10%, giá trị gia tăng di sản lõi tham chiếu giảm 7,4–9,1% (346–425 tỷ đồng). Kết hợp kịch bản thấp với hệ số giá trị gia tăng giảm 10%, giá trị gia tăng di sản lõi còn 2.862,3 tỷ đồng (0,83% GRDP); kết hợp kịch bản cao với hệ số tăng 10%, giá trị gia tăng di sản lõi đạt 6.787,8 tỷ đồng (1,98%).
4.4. Mô phỏng chuẩn hóa: khả năng áp dụng ngoài phạm vi lõi
Đối với các hoạt động ngoài phạm vi lõi, số liệu doanh thu hiện có chưa được xác minh đầy đủ, trong đó doanh thu làng nghề chưa được công bố chính thức. Để minh họa khả năng áp dụng của khung mà không phụ thuộc vào dữ liệu này, giá trị gia tăng di sản được mô phỏng trên 100 tỷ đồng doanh thu của mỗi hoạt động, kết hợp hệ số giá trị gia tăng ngành, hệ số đóng góp của di sản và tỷ lệ doanh thu được tính vào giá trị sản xuất theo nguyên tắc hạch toán (Bảng 6).
Bảng 6. Giá trị gia tăng di sản trên 100 tỷ đồng doanh thu theo hoạt động và kịch bản (tỷ đồng)
| Hoạt động | Hệ số giá trị gia tăng | Kịch bản thấp | Tham chiếu | Kịch bản cao |
| Hoạt động lõi | ||||
| Tham quan | 0,65 | 65,0 | 65,0 | 65,0 |
| Lưu trú | 0,50 | 17,5 | 27,5 | 37,5 |
| Ăn uống | 0,50 | 15,0 | 25,0 | 35,0 |
| Vận chuyển | 0,52 | 15,6 | 26,0 | 36,4 |
| Hoạt động mở rộng | ||||
| Làng nghề truyền thống | 0,36 | 10,8 | 18,0 | 25,2 |
| Hàng hóa, quà lưu niệm | 0,60 | 3,6 | 9,0 | 16,8 |
| Dịch vụ du lịch khác | 0,65 | 7,8 | 19,5 | 36,4 |
| Bảo tồn, tu bổ di sản | 0,38 | 38,0 | 38,0 | 38,0 |
Ghi chú: Giá trị gia tăng di sản trên 100 tỷ đồng doanh thu bằng 100 nhân với tỷ lệ doanh thu được tính vào giá trị sản xuất, hệ số giá trị gia tăng và hệ số đóng góp của di sản. Tỷ lệ doanh thu được tính vào giá trị sản xuất là lề thương mại 20–40% với hàng hóa, quà lưu niệm, tỷ lệ không trùng lặp 40–80% với dịch vụ du lịch khác, bằng 1 với các hoạt động còn lại; hệ số đóng góp của làng nghề, hàng hóa và dịch vụ du lịch khác là 0,30–0,70, của bảo tồn, tu bổ bằng 1. Kết quả không phản ánh quy mô thực tế tại Ninh Bình.
Giá trị gia tăng di sản trên một đơn vị doanh thu khác biệt lớn giữa các hoạt động, từ 65,0 tỷ đồng đối với tham quan đến 9,0 tỷ đồng đối với hàng hóa, quà lưu niệm ở mức tham chiếu; khác biệt giữa hai hoạt động này đến từ tỷ lệ doanh thu được tính vào giá trị sản xuất và hệ số đóng góp của di sản, còn hệ số giá trị gia tăng gần tương đương (0,65 và 0,60). Cộng trực tiếp doanh thu hàng lưu niệm hay lữ hành vào phép đo vì vậy làm sai lệch kết quả; quy mô giá trị gia tăng di sản mở rộng của Ninh Bình chỉ xác định được khi có số liệu sản xuất được xác minh.
Tóm lại, mô phỏng năm 2025 xác định giá trị gia tăng kinh tế di sản từ các hoạt động lõi của Ninh Bình đạt 4.675,5 tỷ đồng ở kịch bản tham chiếu, tương đương 1,36% quy mô GRDP; dao động từ 3.180,3 đến 6.170,7 tỷ đồng, tương đương 0,93–1,80% GRDP theo các kịch bản giả định. Ăn uống tạo ra phần giá trị gia tăng lớn nhất, sau đó là tham quan, vận chuyển và lưu trú. Hệ số đóng góp của di sản đối với ăn uống chi phối biến động kết quả mô phỏng. Phạm vi tính toán mới bao gồm các hoạt động lõi, chưa xác định giá trị gia tăng của làng nghề, hàng hóa, dịch vụ văn hóa và bảo tồn di sản trên thực tế. Các mức tính toán phản ánh quy mô giá trị gia tăng kinh tế di sản theo giả định, chưa phải đóng góp kinh tế được xác nhận bằng thống kê của tỉnh.
5. Thảo luận
Doanh thu du lịch, giá trị gia tăng của các hoạt động liên quan và phần giá trị gia tăng quy thuộc cho nguồn lực di sản phản ánh các phạm vi đo lường khác nhau. Thu hẹp phạm vi hoạt động và loại trừ chi phí trung gian làm giảm quy mô tính toán so với tổng thu du lịch, phù hợp với nguyên tắc tài khoản vệ tinh (Smeral, 2006; Frechtling, 2010). Xác định phần giá trị gia tăng quy thuộc cho di sản còn phụ thuộc vào hệ số đóng góp được thiết lập theo kịch bản. Các kết quả mô phỏng chưa phản ánh đóng góp thực tế của di sản và không thể dùng để xác định mức sai lệch của thống kê doanh thu du lịch (Crompton, 2006).
Cebr (2026) đo giá trị gia tăng trực tiếp của khu vực di sản tại Anh theo ngành và nghề, trong khi Oxford Economics (2016) đánh giá cả tác động lan tỏa từ du lịch di sản. Khác biệt về đối tượng, phạm vi sản xuất và phương pháp hạch toán không cho phép sử dụng các kết quả này để kiểm chứng quy mô giá trị gia tăng di sản tại Ninh Bình.
Ăn uống chi phối độ nhạy của kết quả mô phỏng do quy mô giá trị gia tăng và biên độ hệ số giả định. Đây không phải bằng chứng về sai số thực tế của phép đo. Chi tiêu của khách tham quan di sản như hoạt động phụ cũng không thể quy thuộc toàn bộ cho di sản chỉ từ địa điểm phát sinh giao dịch (McKercher, 2002). Chủ thể tạo ra giá trị gia tăng và chủ thể chịu chi phí bảo tồn có thể khác nhau; xác định cơ chế chia sẻ lợi ích và tái đầu tư cần thêm dữ liệu về nguồn thu, chi phí và chủ thể hưởng lợi (Throsby, 2001; Greffe, 2004; Pedersen, 2002).
Giới hạn của nghiên cứu nằm ở hệ số đóng góp giả định, hệ số giá trị gia tăng từ bảng cân đối liên ngành ước lượng cho Ninh Bình trước hợp nhất và chi tiêu của khách theo giá người mua dùng thay giá trị sản xuất theo giá cơ bản. Giả định đồng nhất cơ cấu chi phí giữa phần sản xuất gắn và không gắn với di sản chưa được kiểm chứng. Phân tích độ nhạy chỉ xác định biến thiên theo tham số giả định, không đo sai số thực tế. Giá trị gia tăng di sản không trực tiếp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn di sản hoặc tính bền vững của khai thác (Throsby, 1999; Mason, 2002).
6. Hàm ý chính sách
Thứ nhất, bổ sung giá trị gia tăng kinh tế di sản vào hệ thống theo dõi phát triển kinh tế – xã hội cấp tỉnh. Bên cạnh tổng thu du lịch, theo dõi giá trị gia tăng di sản, tỷ lệ so với tổng sản phẩm trên địa bàn và giá trị gia tăng di sản bình quân trên lượt khách để đánh giá quy mô và mức tạo giá trị. Tỷ lệ chi bảo tồn so với giá trị gia tăng di sản chỉ tính từ dữ liệu cùng kỳ, cùng lãnh thổ. Các chỉ tiêu này không thay thế đánh giá hiệu quả sử dụng vốn di sản và tính bền vững.
Thứ hai, bổ sung nội dung xác định hệ số đóng góp của di sản vào điều tra chi tiêu khách du lịch. Cơ quan thống kê phối hợp với Sở Du lịch thu thập mục đích chuyến đi, cơ cấu chi tiêu và lựa chọn của khách khi nguồn lực di sản không còn là động cơ đến địa phương. Lồng ghép nội dung vào điều tra hiện hành, phân tầng theo điểm đến, loại khách và mùa vụ. Ưu tiên ước lượng hệ số của ăn uống do hoạt động này chi phối độ nhạy trong các kịch bản.
Thứ ba, xây dựng bảng giá trị gia tăng kinh tế di sản trên cơ sở kết nối thống kê du lịch với thống kê sản xuất. Đối chiếu chi tiêu của khách với doanh thu cơ sở cung ứng, xác định giá trị sản xuất theo giá cơ bản và loại phần dịch vụ của đơn vị ngoài tỉnh. Cập nhật hệ số giá trị gia tăng từ thống kê sản xuất; dữ liệu Tổng điều tra kinh tế hỗ trợ hiệu chỉnh cơ cấu ngành, không thay thế trực tiếp bảng cân đối liên ngành. Kết hợp dữ liệu sản xuất với hệ số đóng góp được ước lượng từ điều tra; chỉ công bố khi dữ liệu đạt yêu cầu về phạm vi, hệ giá và độ tin cậy.
Thứ tư, kết hợp giá trị gia tăng kinh tế di sản với các tiêu chí kinh tế và bảo tồn trong lựa chọn chính sách phát triển. Đánh giá sản phẩm cần xét nhu cầu thị trường, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư, sinh kế cộng đồng và chi phí bảo tồn cùng với giá trị gia tăng di sản. Thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích và đồng tài trợ bảo tồn đòi hỏi dữ liệu về chủ thể hưởng lợi, nguồn thu và trách nhiệm bảo tồn. Chỉ tiêu giá trị gia tăng di sản không trực tiếp xác định nghĩa vụ tài chính của từng chủ thể.
7. Kết luận
Kinh tế di sản tạo ra giá trị thông qua các hoạt động sản xuất và dịch vụ sử dụng nguồn lực văn hóa, lịch sử và thiên nhiên. Đo đóng góp kinh tế của di sản cần phân biệt doanh thu, giá trị gia tăng và phần giá trị gia tăng quy thuộc cho nguồn lực di sản. Khung đo lường theo nguyên tắc tài khoản vệ tinh đáp ứng yêu cầu phân định phạm vi sản xuất, loại chi phí trung gian và hạn chế tính trùng. Thử nghiệm tại Ninh Bình cho thấy kết quả phụ thuộc vào hệ số đóng góp của di sản và tính tương thích của dữ liệu sản xuất; các kịch bản chưa thay thế được ước lượng thực chứng. Thống kê giá trị gia tăng di sản đòi hỏi điều tra tình huống đối chứng, cập nhật hệ số ngành và thống nhất hệ giá, lãnh thổ. Chỉ tiêu này có thể hỗ trợ đánh giá đóng góp kinh tế của di sản và nghiên cứu cơ chế tái đầu tư cho bảo tồn, nhưng không trực tiếp đo hiệu quả sử dụng vốn di sản hoặc tính bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Bowitz, E., & Ibenholt, K. (2009). Economic impacts of cultural heritage – Research and perspectives. Journal of Cultural Heritage, 10(1), 1–8. https://doi.org/10.1016/j.culher.2008.09.002
Cebr. (2026). The economic contribution of England’s heritage sector 2026. Historic England. https://cebr.com/wp-content/uploads/2026/08/CEBR-The-economic-contribution-of-Englands-heritage-sector-2026.pdf
CHCfE Consortium. (2015). Cultural heritage counts for Europe: Full report. International Cultural Centre.
Choi, A. S., Ritchie, B. W., Papandrea, F., & Bennett, J. (2010). Economic valuation of cultural heritage sites: A choice modeling approach. Tourism Management, 31(2), 213–220. https://doi.org/10.1016/j.tourman.2009.02.014
Crompton, J. L. (2006). Economic impact studies: Instruments for political shenanigans? Journal of Travel Research, 45(1), 67–82. https://doi.org/10.1177/0047287506288870
Cục Thống kê (2025). Bảng cân đối liên ngành (Bảng I/O) năm 2019 của Việt Nam. Nxb Thống kê.
Cục Thống kê (2026a). Niên giám thống kê Việt Nam năm 2025. Nxb Kinh tế – Tài chính.
Cục Thống kê (2026b). Tổng điều tra kinh tế năm 2026: Kết quả sơ bộ. Bộ Tài chính.
Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình. (2020). Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2019. Nxb Thống kê.
Dương Văn Sáu. (2023). Những vấn đề lí luận về phát triển kinh tế di sản ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Khoa học Đại học Hạ Long, (10), 37–47.
European Commission, International Monetary Fund, Organisation for Economic Co-operation and Development, United Nations, & World Bank. (2009). System of national accounts 2008. United Nations.
Flegg, A. T., Webber, C. D., & Elliott, M. V. (1995). On the appropriate use of location quotients in generating regional input–output tables. Regional Studies, 29(6), 547–561. https://doi.org/10.1080/00343409512331349173
Flegg, A. T., & Tohmo, T. (2013). Regional input–output tables and the FLQ formula: A case study of Finland. Regional Studies, 47(5), 703–721. https://doi.org/10.1080/00343404.2011.592138
Frechtling, D. C. (2010). The tourism satellite account: A primer. Annals of Tourism Research, 37(1), 136–153. https://doi.org/10.1016/j.annals.2009.08.003
Greffe, X. (2004). Is heritage an asset or a liability? Journal of Cultural Heritage, 5(3), 301–309.
Historic England. (2020). Heritage and the economy 2020.
Mason, R. (2002). Assessing values in conservation planning: Methodological issues and choices. In M. de la Torre (Ed.), Assessing the values of cultural heritage (pp. 5–30). Getty Conservation Institute.
McKercher, B. (2002). Towards a classification of cultural tourists. International Journal of Tourism Research, 4(1), 29–38. https://doi.org/10.1002/jtr.346
Miller, R. E., & Blair, P. D. (2009). Input–output analysis: Foundations and extensions (2nd ed.). Cambridge University Press.
Navrud, S., & Ready, R. C. (Eds.). (2002). Valuing cultural heritage: Applying environmental valuation techniques to historic buildings, monuments and artifacts. Edward Elgar.
Nguyễn Công Thành. (2019). Ước lượng giá trị kinh tế di sản văn hóa trong tiến trình phát triển đô thị bền vững. Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: Đô thị hóa trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam: Xu hướng đổi mới và điều kiện phát triển (tr. 117–128). Nxb Lao động – Xã hội.
Noonan, D. S. (2003). Contingent valuation and cultural resources: A meta-analytic review of the literature. Journal of Cultural Economics, 27(3–4), 159–176.
Oxford Economics. (2016). The impact of heritage tourism on the UK economy. Heritage Lottery Fund.
Pagiola, S. (1996). Economic analysis of investments in cultural heritage: Insights from environmental economics. World Bank, Environment Department.
Pedersen, A. (2002). Managing tourism at World Heritage sites: A practical manual for World Heritage site managers (World Heritage Manuals No. 1). UNESCO World Heritage Centre.
Phan Thị Thu Hương (2016). Nghiên cứu ứng dụng tài khoản vệ tinh du lịch ở cấp tỉnh, thành phố: Minh họa tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23 tháng 11 năm 2024.
Rizzo, I., & Mignosa, A. (Eds.). (2013). Handbook on the economics of cultural heritage. Edward Elgar.
Smeral, E. (2006). Tourism satellite accounts: A critical assessment. Journal of Travel Research, 45(1), 92–98. https://doi.org/10.1177/0047287506288887
Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình (24/12/2025). Du lịch Ninh Bình tháng 12 và năm 2025: Tăng trưởng gắn với bảo tồn di sản và nâng cao giá trị điểm đến. https://sodulich.ninhbinh.gov.vn/vi/chien-luoc-dinh-huong-phat-trien/du-lich-ninh-binh-thang-12-va-nam-2025-tang-truong-gan-voi-bao-ton-di-san-va-nang-cao-gia-tri-diem-den-2514.html
Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình (13/11/2025). Công tác bảo tồn, tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. https://vhtt.ninhbinh.gov.vn/vi/tuyen-truyen-phat-trien-du-lich/cong-tac-bao-ton-tu-bo-ton-tao-cac-di-tich-lich-su-van-hoa-tren-dia-ban-tinh-ninh-binh-1796.html
Throsby, D. (1999). Cultural capital. Journal of Cultural Economics, 23(1–2), 3–12.
Throsby, D. (2001). Economics and culture. Cambridge University Press.
UNESCO Institute for Statistics. (2009). The 2009 UNESCO framework for cultural statistics.
United Nations, Eurostat, Organisation for Economic Co-operation and Development, & World Tourism Organization. (2010). Tourism satellite account: Recommended methodological framework 2008 (Studies in Methods, Series F No. 80/Rev.1). United Nations.



