Phát triển giáo dục trung học phổ thông gắn với xã hội hóa tại TP. Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp

Development of upper secondary education associated with socialization in Ho Chi Minh City: current situation and solutions

ThS. Trịnh Thị Như Quỳnh
Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: quynhttn.ktcn@tdmu.edu.vn
TS. Đào Bích Hạnh
Trường Đại học Quy Nhơn
Email: Daobichhanh@qnu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Giáo dục trung học phổ thông giữ vai trò quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tại TP. Hồ Chí Minh, áp lực đô thị hóa và sắp xếp đơn vị hành chính làm gia tăng nhu cầu trường lớp và sĩ số học sinh. Phân tích số liệu năm học 2025 – 2026 cho thấy, mạng lưới 305 trường trung học phổ thông phân bố không đều giữa nội thành và ngoại thành, cùng nguy cơ bất bình đẳng tiếp cận. Bài viết đề xuất hoàn thiện khung pháp lý, quy hoạch mạng lưới, bảo đảm công bằng, phát triển đội ngũ, đổi mới giám sát và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển bền vững giáo dục trung học phổ thông gắn với xã hội hóa.

Từ khóa: Giáo dục trung học phổ thông; phát triển giáo dục; xã hội hóa; TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: Upper secondary education plays a pivotal role in the development of high-quality human resources. In Ho Chi Minh City, the pressures of urbanization and the reorganization of administrative units have intensified demand for school facilities and increased student enrollment. Analysis of data for the 2025-2026 academic year reveals a network of 305 upper secondary schools, characterized by uneven distribution between inner-city and suburban areas and accompanying risks of unequal access. This article proposes the refinement of the legal framework, network planning, equity assurance, human resource development, innovation in oversight mechanisms, and digital transformation in order to enhance the effectiveness of state management and to foster the sustainable development of upper secondary education in conjunction with socialization.

Keywords: High school education; educational development; socialization; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

Theo quan điểm chung, giáo dục trung học phổ thông (THPT) giữ vai trò then chốt trong hệ thống giáo dục quốc dân, bởi đây không chỉ là bậc học hoàn thiện trình độ văn hóa mà còn là giai đoạn hình thành, phát triển năng lực; đồng thời, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn quốc tế đã khẳng định, giáo dục THPT là nền tảng của hệ thống giáo dục, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội. Theo UNESCO (2015), phổ cập giáo dục trung học là một trong những mục tiêu quan trọng nhằm thực hiện Chương trình nghị sự giáo dục 2030, nhấn mạnh đến việc bảo đảm cơ hội tiếp cận công bằng và chất lượng cho mọi người học. Tương tự, giáo dục THPT là “trụ cột nhân lực” trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu (OECD, 2020), khi lực lượng lao động cần được trang bị kiến thức nền tảng, kỹ năng mềm và năng lực thích ứng với thị trường lao động thay đổi nhanh chóng.

Tại Việt Nam, đặc biệt ở TP. Hồ Chí Minh – đô thị trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả nước, giáo dục THPT đóng vai trò chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh và tăng dân số cơ học đã tạo ra áp lực rất lớn cho hệ thống trường lớp, từ cơ sở vật chất đến đội ngũ giáo viên, trong khi đó, ngân sách công chưa đủ đáp ứng cả yêu cầu mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng. Thực tế này đặt ra nhu cầu cấp thiết phải tìm kiếm và huy động các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục THPT.

Xã hội hóa giáo dục đã được xác định là giải pháp chiến lược nhằm huy động sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong phát triển giáo dục, dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Thông qua xã hội hóa, hệ thống giáo dục không chỉ được bổ sung nguồn lực tài chính mà còn được tăng cường về sự đa dạng mô hình, tạo điều kiện nâng cao chất lượng dạy và học. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai xã hội hóa giáo dục tại TP. Hồ Chí Minh còn bộc lộ nhiều hạn chế. Cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan trong xã hội hóa chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng chồng chéo trong tổ chức, sự tham gia của xã hội còn mang tính tự phát, thiếu cơ chế quản lý hiệu quả, công tác giám sát chưa minh bạch, gây nên những bất cập về công bằng giáo dục và hiệu quả sử dụng nguồn lực (Đỗ Phú Hải, 2020).

Mặc dù đã có nhiều công trình trong và ngoài nước bàn luận về vai trò, chức năng và thách thức của giáo dục phổ thông nhưng khoảng trống nghiên cứu về cơ chế phát triển giáo dục THPT tại các đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa được làm rõ. Bài viết bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn, góp phần đề xuất các giải pháp, gợi mở chính sách nhằm phát triển giáo dục THPT gắn với xã hội hóa trong xu thế đổi mới hiện nay.

2. Thực trạng phát triển giáo dục trung học phổ thông tại TP. Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa và giáo dục lớn nhất cả nước. Tính đến đầu năm 2026, quy mô dân số thành phố vượt 14 triệu người, trong đó tỷ lệ dân số cơ học chiếm hơn 30%. Sau sắp xếp đơn vị hành chính (bao gồm sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu), không gian quản lý giáo dục của Thành phố được mở rộng đáng kể. Điều này làm thay đổi cả quy mô và cơ cấu mạng lưới trường THPT.

Theo Phụ lục 5503 – Thống kê khảo sát Trường học hạnh phúc năm học 2025 – 2026 của Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh, toàn thành phố có 305 trường THPT (bao gồm trường THPT độc lập và trường phổ thông nhiều cấp có tổ chức cấp THPT). Trong đó có 177 trường công lập (58,03%) và 128 trường ngoài công lập (41,97%). Thống kê tại 305 trường ghi nhận tổng cộng 697.833 học sinh, tương ứng bình quân khoảng 2.288 học sinh/trường. Tổng số học sinh ghi nhận tại 305 trường là 697.833 em, bình quân khoảng 2.288 học sinh/trường (Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh, 2026). Các chỉ tiêu này phản ánh quy mô quản lý sau sắp xếp địa giới hành chính.

2.1. Phân bố mạng lưới trường lớp chưa đồng đều giữa nội thành và ngoại thành

Bảng 1. Thống kê số trường THPT phân theo khu vực nội thành và ngoại thành tại TP. Hồ Chí Minh năm học 2025 – 2026

Khu vựcTrường công lậpTrường ngoài công lậpTổng số trườngTỷ lệ
Nội thành (thuộc các phường)12111623779%
Ngoại thành (thuộc các xã và Đặc khu Côn Đảo56126821%
Tổng cộng177128305100%
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Phụ lục 5503 của Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh.

Năm học 2025 – 2026, TP. Hồ Chí Minh có 305 trường THPT. Trong đó, 237 trường thuộc các phường, được xác định là khu vực nội thành; 68 trường thuộc các xã hoặc Đặc khu Côn Đảo, được xác định là khu vực ngoại thành. Khu vực nội thành chiếm 79%, trong khi khu vực ngoại thành chiếm 21%. Như vậy, số trường THPT ở nội thành cao gấp khoảng 3,76 lần khu vực ngoại thành. Kết quả này cho thấy, mạng lưới trường THPT tập trung chủ yếu tại các phường, nơi có mật độ dân cư cao và điều kiện kinh tế – xã hội thuận lợi hơn.

Sự chênh lệch thể hiện rõ hơn ở khu vực ngoài công lập. Trong tổng số 128 trường ngoài công lập, có 116 trường thuộc nội thành, chiếm 90,63%; chỉ có 12 trường thuộc ngoại thành, chiếm 9,38%. Số trường ngoài công lập ở nội thành cao gấp khoảng 9,67 lần số trường ngoài công lập ở ngoại thành. Ngược lại, trong 177 trường công lập, 121 trường thuộc nội thành (68,36%) và 56 trường thuộc ngoại thành (31,64%). Xét trong từng khu vực, ngoài công lập chiếm 48,95% số trường nội thành nhưng chỉ chiếm 17,65% số trường ngoại thành. Kết quả cho thấy, khu vực công lập vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm khả năng tiếp cận giáo dục THPT tại các xã và địa bàn ngoại thành, trong khi nguồn lực xã hội hóa tập trung mạnh hơn tại khu vực đô thị.

2.2. Quy mô và mức độ xã hội hóa giai đoạn 2018 – 2026

Bảng 2. Số lượng và tỷ trọng trường THPT ngoài công lập tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2018 – 2026

Năm họcSố trường ngoài công lậpTăng/giảm so với mốc trước (trường)Tốc độ tăng/giảm (%)Tổng số trường THPTTỷ trọng trường ngoài công lập (%)
2018 – 201992––28132,74
2019 – 202095+3+3,2628733,10
2020 – 202197+2+2,1129233,22
2021 – 2022100+3+3,0929833,56
2022 – 2023102+2+2,0030233,77
2025 – 2026128+26+25,4930541,97
Thay đổi toàn giai đoạn+ 36 cơ sở+ 36+ 39,13+ 24 cơ sở+ 9,23%
Nguồn: Tác giả tổng hợp, năm 2026.

Giai đoạn 2018 – 2023, theo chuỗi số liệu tổng hợp của tác giả, số trường THPT ngoài công lập tăng từ 92 lên 102 trường, tương đương 10,87%; tỷ trọng ngoài công lập tăng từ 32,74% lên 33,77%. Đến năm học 2025 – 2026, 128 trường ngoài công lập/305 trường trường THPT, tương ứng 41,97%. Sự thay đổi lớn ở mốc cuối kỳ phản ánh sự mở rộng phạm vi địa giới, thay đổi phạm vi thống kê và biến động của mạng lưới sau sắp xếp, do đó, không nên xem toàn bộ chênh lệch 26 trường so với năm học 2022 – 2023 là số trường mới thành lập.

Chất lượng giáo dục giữa trường công và trường tư có sự chênh lệch đáng kể, đặc biệt ở học phí, đội ngũ giáo viên và điều kiện học tập (Nguyễn Quang Sáng, 2021). Điều này đặt ra nguy cơ bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục THPT, nhất là với học sinh thuộc nhóm yếu thế.

Một vấn đề khác là áp lực thi cử và phân luồng học sinh. Mặc dù Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã định hướng phân luồng sau THPT, song thực tế tỷ lệ học sinh thi vào THPT ở TP. Hồ Chí Minh vẫn rất cao (trên 80%), tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt trong tuyển sinh. Điều này vừa phản ánh nhu cầu xã hội đối với giáo dục THPT, vừa cho thấy, những thách thức trong triển khai chính sách phân luồng và gắn kết giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp.

Tóm lại, giáo dục THPT tại TP. Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả trong mở rộng quy mô và huy động xã hội tham gia, song vẫn tồn đọng những hạn chế về phân bổ nguồn lực đầu tư, chất lượng đào tạo và công bằng giáo dục. Đây chính là những vấn đề cốt lõi cần được giải quyết thông qua hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước gắn với xã hội hóa, bảo đảm hệ thống giáo dục phổ thông vừa đáp ứng nhu cầu quy mô, vừa nâng cao chất lượng và tính bền vững.

Bảng 3. Thống kê về giáo dục THPT TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2018 – 2026

Năm họcTrường công lậpTrường ngoài công lậpTổng số trường THPTTổng số học sinh (nghìn)Học sinh bình quân/trường
2018 – 201918992281270961
2019 – 202019295287280976
2020 – 202119597292290993
2021 – 20221981002983001.007
2022 – 20232001023023101.026
2025 – 2026177128305697,833*2.288*
* Dữ liệu học sinh có giá trị tại 305 trường. Nguồn: Tác giả tổng hợp, năm 2026.

Trong giai đoạn 2018 – 2019 đến năm học 2022 – 2023, số học sinh bình quân trên một trường THPT tăng tương đối ổn định, từ 961 lên 1.026 học sinh/trường. Năm học 2025 – 2026, ghi nhận 697.833 học sinh tại 305 trường, tương ứng khoảng 2.288 học sinh/trường. Mức chênh lệch lớn so với mốc 2022 – 2023 cần được xem xét thận trọng vì năm học 2025 – 2026 phản ánh không gian TP. Hồ Chí Minh sau sắp xếp và bao gồm cả trường THPT độc lập lẫn trường phổ thông nhiều cấp có tổ chức cấp THPT. Vì vậy, chỉ tiêu này phù hợp để mô tả áp lực quy mô tại thời điểm hiện tại hơn là khẳng định một tốc độ tăng thuần túy theo thời gian. Điều này có thể được giải thích bởi tác động mạnh mẽ của gia tăng dân số cơ học và chủ trương sáp nhập đơn vị hành chính của TP. Hồ Chí Minh.

Sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, địa giới TP. Hồ Chí Minh mở rộng đáng kể và kéo theo sự chuyển dịch học sinh THPT. Sự sáp nhập một số trường THPT, điểm trường THPT cho phù hợp với quy mô đơn vị hành chính mới thành lập, số trường THPT giảm xuống khiến tỷ lệ bình quân học sinh của từng nhà trường tăng lên. Thực trạng nêu trên gây áp lực không nhỏ lên sự phát triển giáo dục THPT gắn với xã hội hóa vì sức ép lên cơ sở vật chất của các nhà trường đang đặt ra nhu cầu nâng cấp hạ tầng giáo dục. Khi ngân sách giáo dục của địa phương có hạn thì giải pháp xã hội hóa lại càng chứng minh được giá trị thực tiễn. Vấn đề đặt ra là làm sao xã hội hóa giáo dục mạnh hơn nữa để đủ đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn giáo dục THPT ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay. Xây dựng thêm trường THPT mới hay mở rộng các cơ sở hiện có, xác định cho phù hợp loại hình trường công hay trường ngoài công lập đang là bài toán đặt ra để thích ứng với sự thay đổi.

Bảng 4. Biến động số học sinh bình quân trên một trường THPT

Giai đoạn so sánhHọc sinh/trường đầu kỳHọc sinh/trường cuối kỳMức tăng tuyệt đốiTốc độ tăng
Từ 2018 – 2019 đến 2019 – 2020961976151,56%
Từ 2019 – 2020 đến 2020 – 2021976993171,74%
Từ 2020 – 2021 đến 2021 – 20229931.007141,41%
Từ 2021 – 2022 đến 2022 – 20231.0071.026191,89%
Từ 2022 – 2023 đến 2025 – 20261.0262.2881,270123,78%
Tính chung cả giai đoạn9612.2881.335138,92%
Nguồn: Tác giả tổng hợp, năm 2026.

Trong giai đoạn từ năm học 2018 – 2019 đến năm học 2022 – 2023, số học sinh bình quân trên một trường THPT tăng tương đối ổn định, từ 961 lên 1.026 học sinh/trường. Mức tăng giữa các mốc thống kê dao động từ 1,41% đến 1,89%, phản ánh quy mô học sinh tăng nhanh hơn mức độ mở rộng mạng lưới trường học. Đến năm học 2025 – 2026, tổng số học sinh tại 305 trường đạt 697.833 em, tương ứng bình quân khoảng 2.288 học sinh/trường. So với năm học 2022 – 2023, số học sinh bình quân tăng 1.270 em/cơ sở, tương đương 123,78%. Tính chung cả giai đoạn 2018 – 2026, chỉ tiêu này tăng từ 961 lên 2.288 học sinh/trường, tức tăng 1.335 học sinh, tương đương 138,92%.

Mức tăng mạnh tại mốc 2025 – 2026 không nên được hiểu hoàn toàn là sự gia tăng tự nhiên của quy mô học sinh. Kết quả này chịu tác động của việc mở rộng địa giới TP. Hồ Chí Minh sau sắp xếp, sự gia tăng phạm vi quản lý và việc thống kê cả trường THPT độc lập lẫn trường phổ thông nhiều cấp có tổ chức cấp THPT.

2.3. Một số hạn chế trong phát triển giáo dục THPT gắn với xã hội hóa

Một là, cơ chế phối hợp chưa đồng bộ. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước các cấp với các chủ thể tham gia xã hội hóa còn thiếu khung pháp lý rõ ràng, dẫn đến chồng chéo trong tổ chức và khó khăn trong công tác giám sát.

Hai là, chênh lệch chất lượng giữa trường công lập và ngoài công lập. Sự khác biệt về học phí, đội ngũ giáo viên và điều kiện học tập tạo nguy cơ bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục chất lượng cao, đặc biệt đối với học sinh thuộc nhóm yếu thế và khu vực ngoại thành.

Ba là, áp lực thi cử và phân luồng. Mặc dù Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 định hướng phân luồng sau THPT, tỷ lệ học sinh thi vào THPT tại TP. Hồ Chí Minh vẫn rất cao (trên 80%). Điều này vừa phản ánh nhu cầu xã hội lớn đối với bậc học này, vừa cho thấy thách thức trong việc gắn kết giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp.

3. Giải pháp phát triển giáo dục trung học phổ thông gắn với xã hội hóa tại TP. Hồ Chí Minh

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách về xã hội hóa giáo dục. Hệ thống văn bản hiện hành còn chồng chéo, thiếu đồng bộ giữa các cấp quản lý. Do đó, cần rà soát và bổ sung các quy định pháp luật để tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch cho xã hội hóa giáo dục THPT. Luật Giáo dục năm 2019 và các nghị định hướng dẫn cần được cụ thể hóa hơn về cơ chế huy động, quản lý và giám sát các nguồn lực xã hội. Đây là cơ sở bảo đảm sự thống nhất trong quản lý và nâng cao tính khả thi trong thực tiễn.

Thứ hai, quy hoạch mạng lưới gắn với phân bố dân cư và tăng cường phối hợp liên ngành. Kết quả năm học 2025 – 2026 cho thấy, 79% trường THPT tập trung ở các phường và khu vực ngoài công lập đặc biệt tập trung tại nội thành. Vì vậy, quy hoạch cần ưu tiên nhận diện các xã, địa bàn ngoại thành và khu vực tăng dân số nhanh còn thiếu chỗ học, trên cơ sở đó, lựa chọn phù hợp giữa đầu tư công, mở rộng trường hiện hữu và thu hút đầu tư ngoài công lập. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan giáo dục, tài chính, quy hoạch – xây dựng, chính quyền địa phương và nhà đầu tư cần gắn với bộ chỉ tiêu nhu cầu chỗ học, quỹ đất, quy mô dân số học đường và khả năng tiếp cận.

Thứ ba, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Một trong những thách thức lớn của xã hội hóa giáo dục là nguy cơ bất bình đẳng, khi học sinh ở ngoại thành hoặc con em lao động nhập cư ít có cơ hội tiếp cận các trường chất lượng cao (Nguyễn Gia Kiệm, 2010). Thành phố cần có các chính sách học bổng, hỗ trợ học phí, phát triển trường bán công hoặc trường công lập chất lượng cao ở vùng khó khăn. Đây cũng là giải pháp để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong giáo dục mà UNESCO (2015) và OECD (2020) đã nhấn mạnh.

Thứ tư, phát triển đội ngũ quản lý và giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới. Giáo viên và cán bộ quản lý giữ vai trò quyết định trong nâng cao chất lượng giáo dục. Thành phố cần đẩy mạnh bồi dưỡng năng lực quản trị trường học, năng lực số và kỹ năng xã hội cho cán bộ quản lý; đồng thời, tăng cường đào tạo giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh (OECD, 2019). Đây là yêu cầu tất yếu để thích ứng với Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và xu thế chuyển đổi số trong giáo dục.

Thứ năm, đổi mới cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình. Một hạn chế của xã hội hóa giáo dục tại TP. Hồ Chí Minh là công tác giám sát chưa minh bạch, thiếu các công cụ đánh giá độc lập. Do đó, cần thiết lập hệ thống giám sát đa tầng, kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội và phụ huynh. Bên cạnh đó, áp dụng cơ chế công khai kết quả đánh giá và tăng cường trách nhiệm giải trình từ phía nhà trường và các đơn vị tham gia xã hội hóa là giải pháp quan trọng để tạo dựng niềm tin xã hội, bảo đảm sự tham gia bền vững (Bruns & cộng sự (2011).

Thứ sáu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý giáo dục. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, việc ứng dụng công nghệ vào quản lý giáo dục giúp nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng giám sát. TP. Hồ Chí Minh cần xây dựng cơ sở dữ liệu giáo dục thống nhất, áp dụng AI và phân tích dữ liệu lớn để dự báo nhu cầu, quy hoạch mạng lưới trường lớp và phân bổ nguồn lực hợp lý.

4. Kết luận

Giáo dục THPT đóng vai trò nền tảng trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển bền vững. Tại TP. Hồ Chí Minh, hệ thống THPT những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu trong mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình trường lớp và nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt nhờ sự tham gia tích cực của xã hội thông qua chủ trương xã hội hóa. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn những hạn chế rõ nét: mạng lưới phân bố không đều, áp lực sĩ số cao sau sắp xếp đơn vị hành chính, chênh lệch chất lượng giữa trường công lập và ngoài công lập, cơ chế phối hợp chưa đồng bộ cùng công tác giám sát còn thiếu minh bạch. Những vấn đề này tiềm ẩn nguy cơ bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, nhất là với học sinh ngoại thành và nhóm yếu thế.

Để khắc phục, cần triển khai đồng bộ các giải pháp: hoàn thiện khung pháp lý về xã hội hóa; quy hoạch mạng lưới gắn với phân bố dân cư và nhu cầu chỗ học; bảo đảm công bằng tiếp cận qua chính sách hỗ trợ và phát triển trường công chất lượng ở vùng khó khăn; bồi dưỡng đội ngũ quản lý, giáo viên; đổi mới cơ chế giám sát – trách nhiệm giải trình và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý. Việc thực hiện các giải pháp này sẽ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy tối đa nguồn lực xã hội; đồng thời, bảo đảm công bằng, chất lượng và tính bền vững của giáo dục THPT tại TP. Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013) và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của thành phố trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:
Bruns, B., Filmer, D., & Patrinos, H. A. (2011). Making schools work: New evidence on accountability reforms. World Bank Publications.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Chính phủ (2005). Nghị định số 69/2005/NĐ-CP về chính sách xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao.
Đỗ Phú Hải (2020). Quản lý nhà nước về xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Lý luận Chính trị, (5), 45-53.
Nguyễn Gia Kiệm (2010). Xã hội hóa giáo dục phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh: Thành tựu và hạn chế. Tạp chí Khoa học Giáo dục, (62), 32-39.
Nguyễn Quang Sáng (2021). Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa giáo dục trong bối cảnh mới. Tạp chí Quản lý Giáo dục, 13(2), 20-28.
Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh (2026). Phụ lục 5503 – Thống kê khảo sát Trường học hạnh phúc năm học 2025 – 2026 [Dữ liệu thống kê].
OECD (2019). Future of education and skills 2030: OECD learning compass 2030. OECD Publishing.
OECD (2020). Education at a glance 2020: OECD indicators. OECD Publishing.
Quốc hội (2019). Luật Giáo dục năm 2019.
UNESCO (2015). Incheon declaration and framework for action for the implementation of Sustainable Development Goal 4, UNESCO Publishing.