Evaluation criteria for political communication with workers in private-sector enterprises
NCS. Đặng Anh Phương
Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư và Sản xuất Đại Việt (Daveco Group)
Email: phuong@daveco.com.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nhằm xây dựng khung lý luận và bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông chính trị đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân tại thành phố Hà Nội. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết, đối chiếu văn bản chính trị, pháp lý cập nhật đến tháng 9/2026 và tiếp cận chuỗi kết quả, bài viết phân biệt 5 tầng: đầu vào, quá trình, đầu ra, kết quả và tác động. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất 30 tiêu chí thuộc 5 nhóm: năng lực quản trị; chất lượng nội dung; khả năng tiếp cận và tương tác; thay đổi nhận thức, niềm tin và hành vi; tác động, hiệu suất và tính bền vững. Bài viết thiết lập 3 “điểm chặn” về tính chính xác của thông tin, không phân biệt đối xử và bảo vệ dữ liệu cá nhân; đo lường niềm tin có căn cứ thay vì mức độ tán thành; yêu cầu phân tách dữ liệu theo nhóm lao động và quy mô doanh nghiệp; cung cấp công cụ tham chiếu để thiết kế, giám sát và cải thiện truyền thông chính trị dành cho người lao động.
Từ khóa: Truyền thông chính trị; tiêu chí đánh giá; người lao động; doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân; Hà Nội.
Abstract: This article develops a theoretical framework and criteria to evaluate the effectiveness of political communication targeting workers in private-sector enterprises in Hanoi. Using methods of theoretical analysis and synthesis, comparison of political and legal texts updated through September 2026, and a results-chain approach, the paper distinguishes five levels: inputs, processes, outputs, outcomes, and impacts. Based on this framework, the paper proposes 30 criteria organized into five groups: governance capacity; content quality; accessibility and interaction; changes in perception, beliefs, and behavior; and impact, performance, and sustainability. The paper establishes three “checkpoints” regarding the accuracy of information, non-discrimination, and the protection of personal data; measures evidence-based trust rather than levels of agreement; requires the disaggregation of data by worker group and business size; and provides reference tools for designing, monitoring, and improving political communication aimed at workers.
Keywords: Political communication; evaluation criteria; workers; private-sector enterprises; Hanoi.
1. Đặt vấn đề
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị khẳng định kinh tế tư nhân là “động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, đồng thời đặt yêu cầu củng cố niềm tin, cải thiện môi trường thể chế và phát huy vai trò của doanh nhân, doanh nghiệp, người lao động; Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội đã thể chế hóa một số cơ chế, chính sách đặc biệt để thực hiện yêu cầu này (Bộ Chính trị, 2025; Quốc hội, 2025g). Kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 cho thấy đến cuối năm 2025, cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất – kinh doanh, trong đó khoảng 827,5 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài Nhà nước; khu vực doanh nghiệp sử dụng gần 17,6 triệu lao động (Cục Thống kê, 2026; Nguyễn Thu Huyền, 2026). Tại Hà Nội, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 45-50% tổng sản phẩm trên địa bàn và tạo ra gần 80% việc làm mới mỗi năm (Thùy Linh, 2026).
Ngày 19/8/2026, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân, thay thế Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 18/3/2019, với nhiệm vụ “tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo chuyển biến trong nhận thức, thống nhất trong hành động” của cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chính trị – xã hội, cán bộ, đảng viên và người lao động (Ban Bí thư, 2026). Tuy nhiên, môi trường truyền thông số gắn với yêu cầu chuyển đổi số quốc gia theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, khiến thông điệp chính thống phải cạnh tranh với các nội dung ngắn, được thuật toán phân phối và có thể sai lệch (Bộ Chính trị, 2024). Nếu chỉ đếm số tin, số buổi tuyên truyền hay lượt xem, việc đánh giá sẽ dễ nhầm lẫn giữa hoạt động và hiệu quả. Vì thế, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Hiệp hội Quốc tế về Đo lường và Đánh giá Truyền thông (AMEC) đều khuyến nghị chuyển trọng tâm từ đầu ra sang kết quả và tác động (International Association for Measurement and Evaluation of Communication -AMEC, 2025; OECD, 2021, 2025).
Trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, việc đánh giá càng trở nên khó khăn hơn. Quy mô lao động bình quân của doanh nghiệp ngoài nhà nước năm 2025 chỉ khoảng 12,6 người, so với 553,7 người ở doanh nghiệp nhà nước và 206,4 người ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Nguyễn Thu Huyền, 2026). Toàn khu vực kinh tế tư nhân có 15.221 tổ chức đảng với 187.034 đảng viên, song Ban Bí thư đánh giá công tác xây dựng Đảng ở khu vực này chưa tương xứng với quy mô, vị trí và vai trò của khu vực (Ban Bí thư, 2026). Thời gian, không gian và hạ tầng truyền thông thường do người sử dụng lao động kiểm soát; trong khi người lao động khác nhau về trình độ, loại hợp đồng, ca làm việc và khả năng tiếp cận công nghệ số. Một bộ tiêu chí có thể kiểm chứng để đo lường hiệu quả truyền thông chính trị đối với nhóm công chúng này là khoảng trống mà bài viết hướng tới.
Bài viết trả lời 3 câu hỏi: truyền thông chính trị đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Hà Nội nên được hiểu như thế nào; hiệu quả cần được cấu trúc theo những tầng nào; và cần những tiêu chí, chỉ báo, phương pháp nào để đánh giá một cách đáng tin cậy.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Khái niệm và đặc điểm của truyền thông chính trị đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân
Truyền thông là quá trình tạo lập, chuyển giao, tiếp nhận thông điệp giữa các chủ thể trong một bối cảnh xã hội xác định, không đồng nhất với việc phát đi thông tin (Nguyễn Văn Dững & Đỗ Thị Thu Hằng, 2018; Tạ Ngọc Tấn, 2001). Truyền thông chính trị là quá trình các chủ thể chính trị, các thiết chế truyền thông và công chúng tạo ra, lưu chuyển và diễn giải thông tin về đời sống chính trị, chính sách và quan hệ quyền lực (McNair, 2018; Perloff, 2021). Trong không gian số phân mảnh, công chúng có khả năng kiểm chứng, bình luận, tái tạo và phản bác thông điệp; đây là điều kiện cần được phản ánh trong thiết kế đánh giá (Bennett & Pfetsch, 2018).
Đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Hà Nội, truyền thông chính trị được hiểu là quá trình có mục đích, được tổ chức và duy trì, trong đó các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, công đoàn, doanh nghiệp và các chủ thể trung gian đáng tin cậy chuyển tải, giải thích, đối thoại và tiếp nhận phản hồi về giá trị chính trị, chủ trương, chính sách, pháp luật và những vấn đề công liên quan đến việc làm, đời sống và tư cách công dân của người lao động. Mục tiêu trực tiếp là hình thành hiểu biết đúng, năng lực kiểm chứng, xây dựng niềm tin có căn cứ và hành vi tham gia hợp pháp; mục tiêu sâu xa là củng cố quan hệ lao động hài hòa và sự gắn kết.
Khái niệm “doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân” được sử dụng thống nhất với cách tiếp cận của Nghị quyết số 68-NQ/TW và Chỉ thị số 12-CT/TW để chỉ các doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước sở hữu hoặc chi phối, gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần không có vốn nhà nước chi phối, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Cụm từ này được lựa chọn để không đồng nhất đối tượng nghiên cứu với loại hình “doanh nghiệp tư nhân” do một cá nhân làm chủ theo Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2020, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 03/2022/QH15 và Luật số 76/2025/QH15 (Quốc hội, 2020; Văn phòng Quốc hội, 2025a). Hộ kinh doanh không thuộc phạm vi khảo sát; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể tham chiếu bộ tiêu chí nhưng cần điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù quản trị. Khi sử dụng số liệu thống kê, cần lưu ý rằng chỉ tiêu “doanh nghiệp ngoài Nhà nước” không hoàn toàn trùng khớp với phạm vi khái niệm này.
Chủ thể của quá trình là một mạng lưới: các cơ quan đảng định hướng giá trị và chủ trương; cơ quan nhà nước cung cấp, giải thích chính sách và chịu trách nhiệm phản hồi; công đoàn đại diện và tổ chức đối thoại; người sử dụng lao động tạo điều kiện về thời gian, hạ tầng và dữ liệu; báo chí kiểm chứng và diễn giải; người lao động tiếp nhận, phản hồi và giám sát thực thi. Tổ chức Lao động Quốc tế coi đối thoại xã hội là một thành tố của quản trị tốt (International Labour Organization, 2024). Chỉ thị số 12-CT/TW ghi nhận các tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân đã “từng bước phát huy vai trò hạt nhân chính trị, cầu nối giữa doanh nghiệp với cấp ủy, chính quyền và người lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa” (Ban Bí thư, 2026).
Bốn đặc điểm chi phối việc đánh giá. Thứ nhất, công chúng lao động có tính dị biệt cao, khiến mức trung bình chung có thể che khuất các nhóm bị bỏ lại phía sau. Thứ hai, quan hệ quyền lực tại nơi làm việc tạo ra nguy cơ người lao động trả lời thuận theo kỳ vọng hoặc e ngại phản hồi tiêu cực. Thứ ba, hệ sinh thái truyền thông lai ghép giữa trực tiếp và số khiến nguồn tiếp xúc khó quy về một kênh duy nhất. Thứ tư, niềm tin chính trị chịu ảnh hưởng đồng thời bởi chất lượng chính sách, trải nghiệm dịch vụ công và mối quan hệ với người quản lý, nên không thể quy mọi thay đổi cho truyền thông. Do đó, thiết kế đánh giá phải bảo đảm tính ẩn danh, phân tầng, truy vết nguồn tiếp xúc và thận trọng trong việc xác định quan hệ nhân quả.
2.2. Khung phân tích hiệu quả truyền thông chính trị
Hiệu quả truyền thông chính trị là mức độ mà hoạt động truyền thông, trong điều kiện và nguồn lực cụ thể, tạo ra kết quả mong muốn về mức độ tiếp cận, hiểu biết, khả năng kiểm chứng, niềm tin, đối thoại và hành vi tham gia hợp pháp, đồng thời bảo đảm tính chính xác, công bằng, an toàn và tiết kiệm. Khung phân tích gồm năm tầng: (1) bối cảnh và đầu vào, gồm căn cứ pháp lý, cơ chế phối hợp, nhân lực, tài chính, dữ liệu và hạ tầng; (2) quá trình, gồm phân đoạn công chúng, đồng thiết kế nội dung, lựa chọn kênh, kiểm chứng và phản hồi; (3) đầu ra, gồm sản phẩm, độ phủ và chất lượng tương tác; (4) kết quả, gồm hiểu biết, năng lực phân biệt thông tin, niềm tin, cảm nhận được lắng nghe và hành vi tham gia; (5) tác động, gồm chất lượng quan hệ lao động, năng lực đáp ứng của thiết chế và sự gắn kết xã hội.
Chuỗi kết quả phải đi kèm với lý thuyết thay đổi: nếu thông tin xuất phát từ nhu cầu thực, được cung cấp bởi nguồn đáng tin cậy, qua kênh phù hợp và phản hồi được bảo vệ, thì hiểu biết và cảm nhận có tiếng nói sẽ tăng; khi hiểu biết gắn với cơ hội hành động, niềm tin có căn cứ và hành vi tham gia có thể được củng cố. Mỗi mệnh đề “nếu – thì” là một giả định cần kiểm chứng: độ phủ không tất yếu dẫn đến hiểu, hiểu không tất yếu dẫn đến tin, và tin không tất yếu dẫn đến hành động nếu người lao động thiếu thời gian, thiếu cơ chế đại diện hoặc sợ bất lợi.
Niềm tin là kỳ vọng có căn cứ rằng chủ thể cung cấp thông tin có năng lực, trung thực, nhất quán và quan tâm đến lợi ích chính đáng của người lao động, chứ không phải là sự tán thành vô điều kiện. Tính xác thực trong tiếp xúc chính trị và tính minh bạch về căn cứ có thể hỗ trợ xây dựng niềm tin, nhưng tác động của chúng phụ thuộc vào trải nghiệm và bối cảnh (OECD, 2024; Weinberg, 2024). Vòng khảo sát thứ ba của OECD, được thực hiện năm 2025 tại 38 quốc gia và công bố ngày 29/6/2026, tiếp tục xác định độ tin cậy, khả năng đáp ứng, liêm chính, tính cởi mở và tính công bằng là những động lực chính của niềm tin (OECD, 2026). Vì vậy, chỉ báo cần tách niềm tin vào thông tin, nguồn phát, quy trình phản hồi và thiết chế thực thi; mô hình đánh giá tích hợp 3 bình diện cá nhân, doanh nghiệp và hệ thống thành phố, trong đó mỗi chỉ báo phải được lý giải đúng cấp độ.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết về truyền thông chính trị, truyền thông công và đo lường truyền thông; phương pháp đối chiếu văn bản chính trị, pháp lý và tiếp cận chuỗi kết quả để xây dựng bộ tiêu chí. Văn bản được rà soát theo trạng thái đến ngày 30/9/2026, gồm: Luật Thủ đô số 02/2026/QH16, Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 và Luật Báo chí số 126/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và Luật Việc làm số 74/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026; Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026; Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Luật Tiếp cận thông tin số 104/2016/QH13.
Văn bản hợp nhất chỉ là nguồn tra cứu, không phải là văn bản quy phạm pháp luật độc lập và không tạo ra ngày hiệu lực mới. Văn bản hợp nhất số 18/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026 về Bộ luật Lao động chứa cả sửa đổi từ Luật Dân số năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tức hơn bốn tháng sau ngày ký hợp nhất; do đó, bài viết viện dẫn quyền, nghĩa vụ theo văn bản gốc và luật sửa đổi, chỉ dùng các bản hợp nhất để đối chiếu. Các văn bản chưa có hiệu lực chỉ được dùng để chuẩn bị thi hành, gồm: Luật số 20/2026/QH16 sửa đổi Luật Giao dịch điện tử và ba luật khác, phần lớn quy định có hiệu lực từ ngày 01/3/2027; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 275/NQ-CP ngày 17/9/2026; Đề án xây dựng quy định mới về đảng viên làm kinh tế tư nhân đang được hoàn thiện. Khung đề xuất có tính chuẩn tắc và công cụ; trọng số và ngưỡng đánh giá cần được hiệu chỉnh thông qua khảo sát thí điểm trước khi áp dụng trên diện rộng.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông chính trị
Bộ tiêu chí gồm 30 tiêu chí thuộc 5 nhóm, được thiết kế theo logic chuỗi kết quả. Mỗi tiêu chí cần ít nhất một chỉ báo định lượng và một bằng chứng định tính; dữ liệu được phân tách theo giới, tuổi, trình độ, loại hợp đồng, ca làm việc, quy mô doanh nghiệp và mức độ hiện diện của công đoàn khi cỡ mẫu cho phép. Ba “điểm chặn” gồm tính chính xác của thông tin, không phân biệt đối xử và bảo vệ dữ liệu cá nhân: nếu vi phạm nghiêm trọng một điểm chặn, hoạt động không thể được xếp loại là hiệu quả dù độ phủ cao.
Nhóm thứ nhất, năng lực quản trị và điều kiện bảo đảm, gồm: mức rõ ràng của mục tiêu (tiêu chí 1); chất lượng lập bản đồ công chúng và nhu cầu thông tin (tiêu chí 2); cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước, tổ chức đảng, công đoàn, doanh nghiệp và báo chí (tiêu chí 3); nguồn lực về nhân sự, kinh phí, thời gian tiếp cận và hạ tầng (tiêu chí 4); quản trị rủi ro, kiểm chứng và xử lý thông tin sai lệch (tiêu chí 5); quản trị dữ liệu theo các nguyên tắc mục đích, tối thiểu hóa, phân quyền và thời hạn lưu giữ (tiêu chí 6). Các chỉ báo tiêu biểu là tỷ lệ kế hoạch có mục tiêu đo lường được, mức độ tham gia của công đoàn trong giai đoạn thiết kế, tỷ lệ nội dung được kiểm chứng và thời gian sửa các thông tin sai. Không nên chấm điểm cao chỉ vì có nhiều văn bản nội bộ nếu người lao động không biết hoặc không thể sử dụng cơ chế đó.
Nhóm thứ hai, chất lượng nội dung và thông điệp, gồm: tính chính xác và khả năng truy nguyên nguồn (tiêu chí 7); tính kịp thời, nhất quán (tiêu chí 8); mức liên quan đến quyền, lợi ích và quyết định thực tế của người lao động (tiêu chí 9); khả năng hiểu (tiêu chí 10); tính cân bằng, minh bạch (tiêu chí 11); khả năng chống thông tin sai lệch (tiêu chí 12) (OECD, 2023). Nội dung cần ưu tiên các chính sách mới, như Nghị quyết số 198/2025/QH15, Luật Việc làm năm 2025 và các sửa đổi của Bộ luật Lao động. Với chính sách đang ở dạng dự thảo, như dự án Luật sửa đổi Luật An toàn, vệ sinh lao động, thông điệp phải nói rõ đây là nội dung chưa phát sinh quyền, nghĩa vụ và mở kênh góp ý, phù hợp với tinh thần truyền thông chính sách ngay từ giai đoạn xây dựng văn bản (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Việc đo không chỉ dựa vào chuyên gia mà còn cần đặt câu hỏi tình huống về điểm cốt lõi, tỷ lệ người xác định được nơi thực hiện quyền và số lỗi cần đính chính.
Nhóm thứ ba, tiếp cận, bao trùm và chất lượng tương tác, gồm: độ phủ thực chất đối với công chúng mục tiêu, không phải tổng lượt hiển thị (tiêu chí 13); khả năng tiếp cận theo ca làm, thiết bị, chi phí kết nối và nhu cầu của người khuyết tật (tiêu chí 14); phối hợp đa kênh (tiêu chí 15); mức tin cậy của người chuyển tải (tiêu chí 16); chất lượng đối thoại, phản biện và phản hồi (tiêu chí 17); an toàn khi tham gia (tiêu chí 18). Chỉ báo bao gồm tỷ lệ tiếp cận duy nhất, chênh lệch mức độ tiếp cận giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ, tỷ lệ câu hỏi được trả lời đúng hạn, thời gian phản hồi trung vị và mức độ an toàn được cảm nhận. Trên nền tảng số, cần loại bỏ lượt xem lặp và tài khoản không xác thực; không dùng phân tích cảm xúc tự động làm bằng chứng duy nhất.
Nhóm thứ tư, kết quả về nhận thức, niềm tin và hành vi, gồm: khả năng hiểu, ghi nhớ điểm cốt lõi (tiêu chí 19); năng lực kiểm chứng thông tin (tiêu chí 20); niềm tin có căn cứ (tiêu chí 21); đồng thuận có hiểu biết, tức khả năng giải thích lý do đồng ý hay không đồng ý (tiêu chí 22); cảm nhận có tiếng nói (tiêu chí 23); hành vi tìm thông tin chính thức, tham dự đối thoại, gửi kiến nghị và thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng pháp luật (tiêu chí 24). Kết quả phải được đo so với đường cơ sở bằng thiết kế trước – sau hoặc nhóm so sánh khi khả thi; khảo sát ẩn danh do đơn vị độc lập thực hiện giúp giảm sai lệch thuận theo; tương quan giữa tiếp xúc và niềm tin không được diễn giải thành quan hệ nhân quả khi chưa kiểm soát các yếu tố gây nhiễu.
Nhóm thứ năm, tác động, hiệu suất và tính bền vững, gồm: chất lượng đối thoại và đại diện (tiêu chí 25); năng lực đáp ứng, tức phản hồi được chuyển thành điều chỉnh chính sách hoặc quy trình (tiêu chí 26); đóng góp vào phòng ngừa xung đột và thông tin sai lệch (tiêu chí 27); chi phí trên một người hiểu đúng hoặc một vấn đề được giải quyết (tiêu chí 28); tính bền vững của năng lực tổ chức và dữ liệu (tiêu chí 29); khả năng nhân rộng có điều chỉnh (tiêu chí 30). Kết quả “không có xung đột” không tự động là tích cực vì có thể phản ánh sự im lặng; cần đọc cùng với các chỉ báo an toàn về tiếng nói và chất lượng phản hồi.
Mỗi tiêu chí được chấm theo thang trưởng thành 0-4: 0 là chưa có hoặc vi phạm; 1 là có hoạt động rời rạc; 2 là có quy trình nhưng thực hiện chưa đồng đều; 3 là thực hiện ổn định và có bằng chứng về kết quả; 4 là được kiểm chứng độc lập và cải tiến liên tục. Trọng số không ấn định cứng trước thí điểm; báo cáo công bố điểm từng nhóm, chênh lệch giữa các nhóm lao động và bằng chứng kèm theo, thay vì chỉ một điểm tổng dễ tạo ảo giác chính xác. Dữ liệu được tam giác hóa từ hồ sơ hành chính, phân tích sản phẩm, phân tích nền tảng số, khảo sát, phỏng vấn, thảo luận nhóm và quan sát đối thoại.
3.2. Thảo luận: đối chiếu với các khung đánh giá quốc tế và bối cảnh Việt Nam
So với các khung đo lường truyền thông công của OECD và Nguyên tắc Barcelona 4.0 của AMEC, bộ tiêu chí kế thừa yêu cầu gắn đo lường với mục tiêu, kết hợp định lượng và định tính, đồng thời công khai phương pháp (AMEC, 2025; OECD, 2025). Điểm khác là bộ tiêu chí đặt truyền thông trong quan hệ lao động, nơi người sử dụng lao động vừa là kênh tiếp cận vừa là một bên có lợi ích. Phong vũ biểu niềm tin Edelman năm 2026, khảo sát gần 34.000 người tại 28 quốc gia, cho thấy “người sử dụng lao động của tôi” là thiết chế được tin cậy nhất với 78% người được hỏi tin tưởng, cao hơn mức tin cậy chung đối với doanh nghiệp (64%) và chính phủ (53%) (Edelman, 2026). Kênh doanh nghiệp vì vậy có tiềm năng lớn, nhưng bộ tiêu chí phải kiểm tra tính độc lập, tính cân bằng của thông tin và vai trò đại diện thực chất của công đoàn, phù hợp với quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế về đối thoại xã hội (International Labour Organization, 2024).
Trong bối cảnh Việt Nam, bộ tiêu chí có thể trở thành công cụ đo lường cho các nhiệm vụ mà Chỉ thị số 12-CT/TW đặt ra, như đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục người lao động, tăng cường phối hợp với Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và xây dựng bản đồ số về tổ chức đảng, đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân (Ban Bí thư, 2026). Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 điều chỉnh quyền tiếp cận thông tin của công dân đối với cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công thiết yếu; vì vậy, đây là căn cứ trực tiếp cho kênh cung cấp thông tin chính sách từ phía Nhà nước tới người lao động, không phải căn cứ buộc doanh nghiệp công khai thông tin nội bộ (Quốc hội, 2026c). Quan hệ thông tin giữa người lao động và doanh nghiệp tiếp tục được điều chỉnh bởi Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, đã được sửa đổi bởi Luật số 97/2025/QH15 (Quốc hội, 2019, 2022, 2024a, 2025d). Hạn chế của nghiên cứu là khung đề xuất chưa được kiểm định thực nghiệm; độ tin cậy của thang đo và ngưỡng đánh giá cần được xác lập thông qua giai đoạn thí điểm.
4. Kết luận và khuyến nghị
Đánh giá truyền thông chính trị đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Hà Nội phải vượt ra khỏi việc chỉ đếm sản phẩm và độ phủ. Khung năm tầng cùng 30 tiêu chí thuộc 5 nhóm cho phép nhận diện đồng thời chất lượng quản trị, nội dung, mức độ tiếp cận, mức độ tương tác, sự thay đổi trong nhận thức – niềm tin – hành vi và giá trị công. Điểm cốt lõi là phân biệt giữa tiếp xúc với hiểu biết, đồng thuận có hiểu biết với sự tán thành, im lặng với quan hệ lao động hài hòa, và không quy kết nhân quả khi thiết kế chưa đủ mạnh. Để bộ tiêu chí phát huy tác dụng, bài viết đề xuất 6 khuyến nghị.
Thứ nhất, áp dụng mô hình “lõi chung – mô-đun”. Lõi chung gồm 30 tiêu chí với định nghĩa thống nhất để so sánh theo thời gian, địa bàn và nhóm doanh nghiệp; mô-đun bổ sung phản ánh đặc thù ngành, quy mô, lao động di cư, lao động nền tảng và ca kíp. Việc triển khai cần gắn với Luật Thủ đô năm 2026 và Kế hoạch số 263/KH-UBND ngày 26/9/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, để truyền thông gắn với trách nhiệm giải trình, chứ không phải là hoạt động tuyên truyền đơn lẻ (Quốc hội, 2026b; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2025).
Thứ hai, chuẩn hóa quản trị và trách nhiệm. Thành phố cần ban hành sổ tay đánh giá quy định khái niệm, nguồn dữ liệu, chu kỳ, trách nhiệm và quy trình bảo vệ người trả lời; công đoàn tham gia từ thiết kế đến giải thích kết quả; doanh nghiệp bảo đảm thời gian, không gian và không gây bất lợi cho người tham gia; một đơn vị độc lập kiểm tra chất lượng dữ liệu và xử lý xung đột lợi ích.
Thứ ba, thiết kế mẫu và đường cơ sở phù hợp với hệ sinh thái doanh nghiệp. Giai đoạn thí điểm nên chọn 3 nhóm: doanh nghiệp lớn có công đoàn ổn định; doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc nhóm lao động có quan hệ lao động linh hoạt. Khung chọn mẫu nên kết hợp dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 và bản đồ số về tổ chức đảng, đảng viên theo Chỉ thị số 12-CT/TW; không chỉ thu mẫu từ danh sách do người quản lý lựa chọn (Ban Bí thư, 2026; Cục Thống kê, 2026). Mỗi chỉ báo cần có “hộ chiếu” gồm định nghĩa, tử số, mẫu số, nguồn, tần suất, người chịu trách nhiệm và ngưỡng cảnh báo.
Thứ tư, kết hợp các thời điểm đo lường và bám sát các mốc hiệu lực của pháp luật. Đo quá trình theo sự kiện, đo đầu ra ngay sau khi phát hành, đo mức độ hiểu biết sau một khoảng thời gian đủ dài và đo tác động theo quý hoặc theo năm. Vì Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, cần đo lường ngay mức độ hiểu biết của người lao động về quyền yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin để làm cơ sở; đối với Luật số 20/2026/QH16, tài liệu và quy trình cần được chuẩn bị trước ngày 01/3/2027 (Quốc hội, 2026a, 2026c).
Thứ năm, bảo đảm đạo đức và an toàn dữ liệu. Chỉ thu thập dữ liệu cần thiết; thông báo rõ mục đích và thời hạn lưu trữ; tách dữ liệu định danh khỏi câu trả lời; không thu thập quan điểm chính trị chi tiết khi không có mục tiêu hợp pháp và biện pháp bảo vệ tương xứng; áp dụng ngưỡng công bố để tránh suy ngược danh tính đối với các doanh nghiệp nhỏ. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để phân loại phản hồi cần có sự kiểm tra của con người và cơ chế khiếu nại, phù hợp với Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định số 356/2025/NĐ-CP, Luật Trí tuệ nhân tạo và Luật An ninh mạng năm 2025.
Thứ sáu, khép kín vòng học hỏi và diễn giải kết quả một cách công bằng. Sau mỗi kỳ đánh giá, cần tổ chức phiên giải thích với người lao động, công đoàn, doanh nghiệp và cơ quan có trách nhiệm; mỗi khuyến nghị phải có đơn vị phụ trách, thời hạn và chỉ báo hoàn thành, phù hợp với yêu cầu tăng cường công tác truyền thông chính sách của Thủ tướng Chính phủ. Thành phố không nên xếp hạng công khai doanh nghiệp chỉ dựa trên điểm tổng mà nên ưu tiên “bảng điều khiển học hỏi” thể hiện điểm mạnh, điểm nghẽn và sự chênh lệch giữa các nhóm. Việc mở rộng bộ tiêu chí chỉ nên thực hiện khi thí điểm cho thấy phép đo đủ tin cậy, người tham gia được bảo vệ và kết quả thực sự được dùng để cải thiện quyết định.
Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (2026). Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 19/8/2026 về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân.
Báo điện tử Chính phủ (14/9/2026). Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Hoàn thiện quy định về đảng viên làm kinh tế tư nhân, phát huy nguồn lực cho phát triển. https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-hoan-thien-quy-dinh-ve-dang-vien-lam-kinh-te-tu-nhan-phat-huy-nguon-luc-cho-phat-trien-102260914190726927.htm
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bennett, W. L., & Pfetsch, B. (2018). Rethinking political communication in a time of disrupted public spheres. Journal of Communication, 68(2), 243–253. https://doi.org/10.1093/joc/jqx017
Chính phủ (2025). Nghị định số 356/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 275/NQ-CP ngày 17/9/2026 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Cục Thống kê (2026). Kết quả sơ bộ của Tổng điều tra kinh tế năm 2026. https://www.nso.gov.vn/bai-top/2026/06/ket-qua-so-bo-tong-dieu-tra-kinh-te-nam-2026/
Nguyễn Thu Huyền (13/7/2026). Tổng điều tra kinh tế 2026: Gần 860.000 DN đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh. Người Đưa Tin. https://www.nguoiduatin.vn/tong-dieu-tra-kinh-te-2026-gan-860000-dn-dang-hoat-dong-co-ket-qua-san-xuat-kinh-doanh-204260713152057771.htm
Nguyễn Văn Dững & Đỗ Thị Thu Hằng (2018). Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản. Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.
Perloff, R. M (2021). The dynamics of political communication: Media and politics in a digital age (3rd ed.). Routledge.
Quốc hội (2019). Bộ luật Lao động năm 2019.
Quốc hội (2020). Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.
Quốc hội (2024a). Luật Công đoàn năm 2024.
Quốc hội (2024b). Luật Dữ liệu năm 2024.
Quốc hội (2025a). Luật An ninh mạng năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Báo chí năm 2025.
Quốc hội (2025c). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.
Quốc hội (2025d). Luật số 97/2025/QH15 ngày 27/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Quốc hội (2025e). Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025.
Quốc hội (2025f). Luật Việc làm năm 2025.
Quốc hội (2025g). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Quốc hội (2026a). Luật số 20/2026/QH16 ngày 24/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.
Quốc hội (2026b). Luật Thủ đô năm 2026.
Quốc hội (2026c). Luật Tiếp cận thông tin năm 2026.
Tạ Ngọc Tấn (2001). Truyền thông đại chúng. Nxb Chính trị quốc gia.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022-2027”.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Chỉ thị số 7/CT-TTg ngày 21/3/2023 về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách.
Thùy Linh (23/9/2026). Kinh tế tư nhân Hà Nội: Từ “đông” đến “mạnh”, mở đường cho sự bứt phá. Báo Phụ nữ Việt Nam. https://phunuvietnam.vn/kinh-te-tu-nhan-ha-noi-tu-dong-den-manh-mo-duong-but-pha-238260922153238701.htm
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2025). Kế hoạch số 263/KH-UBND ngày 26/9/2025 về tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị, Chương trình hành động của Chính phủ, Kế hoạch hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Văn phòng Quốc hội (2025a). Văn bản hợp nhất số 67/VBHN-VPQH ngày 15/8/2025 hợp nhất Luật Doanh nghiệp.
Văn phòng Quốc hội (2025b). Văn bản hợp nhất số 87/VBHN-VPQH ngày 22/8/2025 hợp nhất Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Văn phòng Quốc hội (2025c). Văn bản hợp nhất số 90/VBHN-VPQH ngày 22/8/2025 hợp nhất Luật Công đoàn.
Văn phòng Quốc hội (2026). Văn bản hợp nhất số 18/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026 hợp nhất Bộ luật Lao động.
OECD (2021). OECD report on public communication: The global context and the way forward. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/22f8031c-en
OECD (2023). Good practice principles for public communication responses to mis- and disinformation (OECD Public Governance Policy Papers No. 30). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/6d141b44-en
OECD (2024). OECD survey on drivers of trust in public institutions – 2024 results: Building trust in a complex policy environment. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9a20554b-en
OECD (2025). Public communication scan of France: Evaluating public communication performance to strengthen public trust. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/7450361a-en
OECD (2026). OECD survey on drivers of trust in public institutions 2026 results: Navigating rising expectations and new horizons. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9eb63fec-en
Weinberg, J. (2024). Building trust in political office: Testing the efficacy of political contact and authentic communication. Political Studies, 72(4), 1438–1457. https://doi.org/10.1177/00323217231185706



