Xu hướng dịch chuyển nhân lực về khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện nay

TS. Trần Thị Hải Yến
SV. Lưu Hương Giang
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Sự dịch chuyển nhân lực về khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đặt ra nhiều rào cản, như: khoảng trống thể chế pháp luật, bảo vệ dữ liệu cá nhân; nguy cơ phân tầng và bất bình đẳng số; hiện tượng chảy máu chất xám, sự thiếu tương thích giữa nhân lực khoa học, công nghệ truyền thống với yêu cầu số đang tạo áp lực lớn đối với quản lý nhà nước và hệ thống đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu dịch chuyển nhân lực trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm phát triển bền vững nguồn nhân lực tri thức, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đóng góp vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong thời kỳ số hóa. Bài viết phân tích sự dịch chuyển nhân lực trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, qua đó, đề xuất giải pháp chính sách phù hợp với yêu cầu đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Nhân lực; khoa học và công nghệ; xã hội và nhân văn số; sự dịch chuyển nhân lực về khoa học; công nghệ và đổi mới sáng tạo.

1. Đặt vấn đề

Công nghệ và kỹ thuật số được cho là thúc đẩy quá trình hợp lý hóa tổ chức, tái cấu trúc và thuê ngoài, các hình thức tổ chức mạng lưới1. Xu hướng phát triển của thế giới cho thấy, khoa học, công nghệ đang trở thành lĩnh vực then chốt, nền tảng của cạnh tranh chiến lược và duy trì động lực phát triển kinh tế – xã hội trong trước mắt cũng như tương lai. Các cuộc chạy đua để nắm giữ những lĩnh vực then chốt về khoa học, công nghệ, những nền tảng công nghệ cốt lõi, những cách thức để có được công nghệ nguồn nhằm duy trì sức mạnh và vị thế không chỉ diễn ra giữa các nền kinh tế lớn. Với lợi thế của các nước đi sau, nhiều quốc gia cũng đang rất quyết liệt đẩy mạnh các chiến lược phát triển khoa học, công nghệ lớn nhằm tìm kiếm lợi thế mới2.

2. Nhu cầu dịch chuyển nhân lực trong lĩnh vực khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang có sự thay đổi nhanh chóng, hiện đại, linh hoạt về khoa học, công nghệ, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chuyển đổi nhân lực trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Trong tiến trình thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, khoa học xã hội và nhân văn không thể đứng ngoài cuộc, càng không thể chỉ là “người theo sau”. Ngược lại, phải là lực lượng dẫn đường, định hướng về tư duy, đóng góp cơ sở khoa học cho thể chế và phát triển nguồn nhân lực giúp xã hội số trở nên bao trùm, bền vững và nhân văn. Vì vậy, vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong thúc đẩy đột phá, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với ba trụ cột là tư duy – thể chế – nguồn nhân lực mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, không chỉ cho chiến lược của ngành giáo dục mà còn cho tương lai phát triển của đất nước3.

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nhấn mạnh:“Chú trọng bảo đảm nguồn nhân lực cao cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài”; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Luật Giáo dục năm 2019 quy định về sự dịch chuyển nhân lực, năng lực công nghệ và tư duy đổi mới sáng tạo là nền tảng hình thành nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Quá trình dịch chuyển nhân lực khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đã mở rộng không gian nghề nghiệp số; thúc đẩy tính liên ngành giữa khoa học xã hội và nhân văn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tham gia sâu hơn vào các dự án khoa học, công nghệ; hình thành các chức năng nghề nghiệp mới gắn với trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và đạo đức công nghệ, đồng thời giúp nhân lực khoa học xã hội và nhân văn tham gia thị trường lao động toàn cầu trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Quá trình dịch chuyển nhân lực khoa học, công nghệ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, các nhà quản trị hoạch định chính sách và quản trị công nghệ nhất là trong các lĩnh vực đạo đức AI, Big Data và đổi mới sáng tạo có trách nhiệm.

3. Những rào cản phát triển nhân lực trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

3.1. Khoảng trống nhận thức

Theo thống kê của Bộ Khoa học và công nghệ, hiện cả nước có 167.746 người tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển. Trong đó, lượng người tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển trong khu vực nhà nước là 141.084 người (chiếm 84,1%), khu vực ngoài nhà nước: 23.183 người (13,8%), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: 3.479 người (2,1%). Đặc biệt, số lượng có trình độ tiến sĩ: 14.376 người, thạc sĩ: 51.128 người, đại học: 60.719 người4… Nếu xét riêng địa hạt khoa học xã hội và nhân văn, có 19.702 nhà nghiên cứu thuộc danh sách các nhà khoa học có tác động trọn đời (chiếm 8,83%) và 23.054 nhà nghiên cứu thuộc danh sách các nhà khoa học có tác động gần đây nhất (chiếm 10,33%).

Địa hạt khoa học xã hội và nhân văn gồm các lĩnh vực khoa học: truyền thông và nghiên cứu văn bản; kinh tế và kinh doanh; nghiên cứu lịch sử; triết học và thần học; tâm lý học và khoa học nhận thức; y tế công cộng và dịch vụ y tế; khoa học xã hội và nghệ thuật thị giác và nghệ thuật biểu diễn. Điều đáng chú ý là phần lớn các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong danh sách Stanford đều có lĩnh vực chính là kinh tế và kinh doanh, với duy nhất nhà nghiên cứu Võ Xuân Vinh được ghi nhận trong danh sách các nhà khoa học có tác động trọn đời. Trong khi đó, lĩnh vực khoa học xã hội chỉ ghi nhận 2 nhà nghiên cứu, là Vương Quân Hoàng và Nguyễn Minh Hoàng đều thuộc Trung tâm Nghiên cứu Xã hội liên ngành (ISR), Trường Đại học Phenikaa. Lĩnh vực y tế công cộng và dịch vụ y tế chỉ ghi nhận mỗi nhà nghiên cứu Hoàng Văn Minh. Không có nhà nghiên cứu nào được ghi nhận trong 5 lĩnh vực còn lại của địa hạt khoa học xã hội và nhân văn5.

Nhận thức, trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong tuyên truyền, giáo dục về vai trò của bồi dưỡng nguồn nhân lực ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số chưa sâu sắc, toàn diện, kịp thời; một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn lúng túng, bị động trong ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; trình độ, hiểu biết về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ cho từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể. Cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số chưa kịp thời, hiệu quả; một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa tích cực, chủ động tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển đổi số6.

Đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ tuy có tăng về số lượng nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu. Thiếu tập thể khoa học mạnh, các chuyên gia đầu ngành có khả năng dẫn dắt các hướng nghiên cứu mới và chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ quốc gia ở trình độ quốc tế. Hiệu quả hoạt động của các tổ chức khoa học – công nghệ công lập chưa cao. Hợp tác quốc tế chưa đi vào chiều sâu, thiếu trọng tâm, chưa chú trọng đến chuyển giao, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến7. Chính vì vậy, cần có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của nhân lực về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

3.2. Khoảng trống pháp lý

Chỉ thị của Nghị viện châu Âu và hội đồng về việc cải thiện điều kiện làm việc trong lao động nền tảng8. Các nguyên tắc AI của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) ban đầu được thông qua vào năm 2019 và được cập nhật vào tháng 5/2024. Những người tuân thủ đã cập nhật để xem xét các phát triển mới về công nghệ và chính sách, bảo đảm chúng vẫn mạnh mẽ và phù hợp với mục đích. Các nguyên tắc hướng dẫn các bên liên quan đến AI trong nỗ lực phát triển AI đáng tin cậy và cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách các khuyến nghị về chính sách AI hiệu quả. Các quốc gia sử dụng nguyên tắc AI của OECD và các công cụ liên quan để định hình chính sách và xây dựng khuôn khổ rủi ro AI, tạo nền tảng cho khả năng tương tác toàn cầu giữa các khu vực pháp lý.

Hiện nay, Liên minh châu Âu (EU), Hội đồng châu Âu (EC), Hoa Kỳ, Liên Hợp quốc và các khu vực pháp lý khác sử dụng định nghĩa của OECD về hệ thống AI và quy định cũng như hướng dẫn của họ. Các nguyên tắc, định nghĩa và vòng đời này đều là một phần của khuyến nghị của OECD về AI9. Việt Nam chưa có cơ chế tương tự ngoài Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, Luật Khoa học và công nghệ năm 2025.

Có thể nhận thấy, khung pháp lý hiện hành vẫn chủ yếu được thiết kế để điều chỉnh nhân lực về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đối với hình thức làm việc truyền thống mà chưa có quy định khung pháp lý về điều kiện làm việc trực tuyến… từ đó làm phát sinh khoảng cách lớn giữa logic lý thuyết quốc tế và năng lực quản trị dịch chuyển nhân lực trong hệ sinh thái khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bộ luật Lao động năm 2019, sửa đổi, bổ sung năm 2024, 2025 quy định về nhân lực khoa học, công nghệ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn là quan hệ ổn định, có sự quản lý trực tiếp và được thiết lập qua hợp đồng lao động tiêu chuẩn. Trong khi đó, phần lớn lao động khoa học, công nghệ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tham gia vào thị trường lao động số, như: phân tích dữ liệu xã hội, sáng tạo nội dung, quản trị cộng đồng trực tuyến, kiểm duyệt nội dung hay đào tạo mô hình AI chủ yếu hoạt động theo dạng nhiệm vụ, không gắn với thời giờ cố định hay sự giám sát trực tiếp. Do chưa có khung pháp lý cho hợp đồng lao động số, hợp đồng theo nhiệm vụ hoặc cung cấp dịch vụ tri thức qua nền tảng mặc dù họ đang đóng vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã đặt nền tảng pháp lý cho hợp đồng điện tử, định danh và xác thực số nhưng pháp luật Việt Nam vẫn thiếu quy định điều chỉnh lao động từ xa, tiêu chuẩn bảo vệ lao động trên nền tảng số hay cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến. Điều này tác động trực tiếp tới nhân lực khoa học, công nghệ khoa học xã hội và nhân văn có xu hướng dịch chuyển mạnh theo hình thức làm việc xuyên biên giới, cung cấp dịch vụ tri thức trên các nền tảng quốc tế như Upwork, Appen … Do thiếu hướng dẫn về thuế và bảo hiểm đối với nhóm này, thiếu quy định pháp lý, không được xác lập rõ quyền, nghĩa vụ hay địa vị pháp lý khi tham gia thị trường lao động toàn cầu.

Nguồn nhân lực khoa học, công nghệ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong các vị trí, như: AI Trainer, Social Data Annotator… là những người phụ thuộc hoàn toàn vào thuật toán để tiếp cận nhiệm vụ nhưng pháp luật chưa yêu cầu minh bạch thuật toán, trách nhiệm giải trình hay bảo vệ dữ liệu người lao động theo đúng tinh thần của pháp luật. Sự thiếu hụt này tạo ra rủi ro lớn trong bối cảnh nhân lực khoa học, công nghệ và lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đang ngày càng tham gia sâu vào các hoạt động xử lý, phân tích và gắn nhãn dữ liệu.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và Luật Việc làm năm 2025 quy định nhân lực có hợp đồng lao động truyền thống quy định nhân lực số làm giảm tính bền vững của dịch chuyển nhân lực khoa học, công nghệ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Luật Giáo dục năm 2019 và Luật Giáo dục đại học năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2018 vẫn thiên về mô hình hàn lâm truyền thống, chậm tích hợp kỹ năng số, năng lực dữ liệu và kiến thức liên ngành những năng lực thiết yếu đối với nhân lực khoa học xã hội và nhân văn khi tham gia vào các lĩnh vực mới, như: đạo đức AI, quản trị dữ liệu, nghiên cứu hành vi số hay thiết kế chính sách đổi mới sáng tạo. Sự chênh lệch giữa lý thuyết quốc tế về dịch chuyển nhân lực số và khung pháp lý Việt Nam không chỉ là vấn đề điều chỉnh nhân lực mà còn tác động trực tiếp đến khả năng phát triển và huy động nhân lực khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

2.3. Chảy máu chất xám trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Sự gia tăng nhanh chóng của các cơ hội việc làm có hàm lượng tri thức cao trong khu vực tư nhân, tổ chức quốc tế và thị trường lao động xuyên biên giới đang làm cho nhiều chuyên gia khoa học xã hội và nhân văn chuyển dịch khỏi khu vực công vốn là nơi tập trung lực lượng này nhưng lại có mức độ cạnh tranh hạn chế về đãi ngộ và môi trường phát triển nghề nghiệp. Công ty Meta, TikTok, OpenAI, Google… đã thu hút một lượng lớn nhân lực nhân lực khoa học, công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Tuy nhiên, chảy máu chất xám trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đặt ra nguy cơ làm suy giảm năng lực phân tích chính sách, giảm chất lượng nghiên cứu xã hội nhân văn và hạn chế khả năng tham gia của Việt Nam vào các chuẩn mực toàn cầu về đạo đức công nghệ, dữ liệu và AI. Khi khu vực tư nhân và quốc tế thu hút phần lớn nhân lực giỏi, khu vực công đứng trước thách thức mất cân đối năng lực, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới sáng tạo đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức xã hội và tri thức công nghệ.

Hiện tượng chảy máu chất xám từ nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn không chỉ là vấn đề nhân lực đơn thuần mà còn là thách thức đối với năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia do hạn chế về mức đãi ngộ, cơ hội thăng tiến, không gian sáng tạo và thiếu các dự án liên ngành lớn đã làm nhiều chuyên gia khoa học xã hội và nhân văn có năng lực, trình độ cao dịch chuyển sang khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ và nền tảng số.

3. Xu hướng và giải pháp

3.1. Xu hướng

Thứ nhất, xu hướng dịch chuyển thị trường nhân lực khoa học, công nghệ mở rộng theo hướng luân chuyển giữa khu vực công – tư, hợp tác quốc tế.

Thị trường nhân lực khoa học, công nghệ đang dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng mở rộng và linh hoạt hơn, thể hiện qua xu hướng luân chuyển giữa khu vực công – tư, tăng cường hợp tác quốc tế và sự phát triển của các mô hình làm việc xuyên biên giới trong môi trường số. Những thay đổi này tạo áp lực thích ứng rõ rệt đối với các trường đại học, học viện và viện nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, như: Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính và Quản trị công, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và các trường khác có liên quan.

Sự mở rộng của kinh tế nền tảng và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đặt ra yêu cầu hình thành đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn có khả năng đảm nhiệm các vị trí mới như phân tích hành vi người dùng, quản trị dữ liệu, kiểm duyệt nội dung, đánh giá tác động công nghệ, nghiên cứu chính sách số và huấn luyện mô hình AI. Điều này không chỉ làm biến đổi cấu trúc thị trường lao động khoa học, công nghệ mà còn buộc các cơ sở đào tạo và nghiên cứu phải đẩy mạnh số hóa chương trình, phát triển kỹ năng dữ liệu, năng lực công nghệ và tư duy liên ngành nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của kỷ nguyên đổi mới sáng tạo dựa trên tri thức.

Thứ hai, xu hướng dịch chuyển không gian về địa lý và không gian số.

Nhân lực khoa học, công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đang dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng mở rộng không gian làm việc cả về địa lý lẫn không gian số. Công nghệ số và mô hình làm việc từ xa tạo điều kiện để lực lượng này tham gia các hoạt động nghề nghiệp xuyên biên giới, kết nối với mạng lưới nghiên cứu ảo, các phòng thí nghiệm mở, nhóm học thuật quốc tế và các dự án toàn cầu mà không bị giới hạn bởi vị trí địa lý. Xu hướng này giúp nhân lực trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tiếp cận nguồn tri thức toàn cầu, nâng cao năng lực công nghệ dữ liệu, đồng thời gia tăng cơ hội hợp tác quốc tế, chuyển giao tri thức và tham gia sâu hơn vào các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trên phạm vi toàn cầu. Khả năng làm việc đa nền tảng và di chuyển linh hoạt giữa các môi trường số còn mở ra những mô hình nghề nghiệp mới, thúc đẩy sự liên ngành và gia tăng giá trị tri thức trong phát triển kinh tế – xã hội hiện đại.

Thứ ba, xu hướng dịch chuyển kỹ năng.

Xu hướng dịch chuyển kỹ năng trở thành động lực cốt lõi đối với nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khi lực lượng này buộc phải liên tục tái đào tạo và nâng cấp năng lực số để thích ứng với yêu cầu mới của kỷ nguyên đổi mới sáng tạo. Kỹ năng phân tích dữ liệu, hiểu biết về công nghệ, tư duy liên ngành cùng năng lực quản trị đạo đức pháp lý trong môi trường số ngày càng trở thành tiêu chuẩn bắt buộc. Sự dịch chuyển này giúp nhân lực khoa học xã hội và nhân văn tham gia sâu hơn vào các hệ sinh thái công nghệ, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động số và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

3.2. Giải pháp

Một là, xây dựng, phát triển khung năng lực số, đổi mới sáng tạo cho nhân lực khoa học, công nghệ, lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Cần xây dựng và phát triển khung năng lực số gắn với đổi mới sáng tạo dành cho nhân lực trong lĩnh vực khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Khung này bao quát các nhóm năng lực cốt lõi như:

Nhóm năng lựcMô tả năng lực cốt lõi
Năng lực quản trị dữ liệu và bảo mật.Thu thập, xử lý, phân tích, quản trị vòng đời dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin.
Năng lực AI và đạo đức thuật toán.Nhận diện rủi ro thuật toán, ứng dụng AI có trách nhiệm trong nghiên cứu và quản lý.
Thiết kế và đánh giá chính sách số.Phân tích tác động chính sách, thiết kế giải pháp quản trị phù hợp với môi trường số.
Truyền thông số khoa học và quản trị tri thức.Sử dụng nền tảng số để truyền thông, phổ biến khoa học và quản trị tri thức.
Thiết kế đổi mới sáng tạo và kỹ năng làm việc trong môi trường số.Tư duy thiết kế, sáng tạo giải pháp số, tham gia hệ sinh thái khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo. Khả năng làm việc từ xa, cộng tác ảo, bảo vệ thông tin trong môi trường trực tuyến.

Các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu hình thành chương trình bồi dưỡng phù hợp, kết hợp mô hình “learning hubs” và nền tảng học tập mở nhằm thúc đẩy đào tạo lại kỹ năng đồng thời bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tiễn của hệ sinh thái số và thị trường lao động tri thức hiện đại.

Hai là, tăng cường kết nối liên ngành.

Tăng cường kết nối liên ngành, liên tổ chức và hội nhập quốc tế là yêu cầu then chốt để thúc đẩy dịch chuyển và nâng cao chất lượng nhân lực trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong bối cảnh kinh tế tri thức và chuyển đổi số. Việc thiết lập mạng lưới nghiên cứu khoa học thông qua hợp tác nghiên cứu xuyên biên giới, các nhóm nghiên cứu ảo và các dự án quốc tế về AI, dữ liệu và quản trị số sẽ tạo ra môi trường học thuật mở, gia tăng khả năng tiếp cận tri thức toàn cầu.

Xây dựng cơ chế hợp tác “ba nhà” – Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Viện nghiên cứu và trường đại học phải trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, nơi đào tạo ra nguồn nhân lực vừa có tri thức lý thuyết, vừa có kỹ năng thực hành, sẵn sàng tham gia thị trường lao động công nghệ cao. Doanh nghiệp cần đóng vai trò chủ thể trong việc đặt hàng nghiên cứu, ứng dụng kết quả khoa học, đồng thời là nơi nuôi dưỡng, trọng dụng nhân tài. Khi hợp tác được thúc đẩy, tri thức khoa học sẽ không còn nằm trên giấy, mà trở thành động lực sản xuất và phát triển10. Thúc đẩy đàm phán, ký kết các thoả thuận, hiệp định về hợp tác giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ; tham gia các tổ chức bảo đảm chất lượng, phát triển giáo dục quốc tế. Cấp học bổng hoặc có chính sách khuyến khích, hỗ trợ học sinh, sinh viên, giảng viên đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng ở các nước phát triển, các nước có quan hệ truyền thống, có thế mạnh trong các lĩnh vực, ngành trọng điểm, tận dụng các chương trình hợp tác song phương11.

Cần đẩy mạnh cơ chế trao đổi chuyên gia giữa khu vực công, tư, viện nghiên cứu và trường đại học nhằm mở rộng không gian nghề nghiệp và dòng chảy thị trường lao động tri thức. Ngoài ra, việc thu hút chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và học giả quốc tế thông qua chương trình thỉnh giảng, cố vấn nghiên cứu và mentorship sẽ giúp gia tăng năng lực cạnh tranh và mức độ hội nhập của nhân lực khoa học xã hội và nhân văn.

Ba là, hoàn thiện thể chế và hạ tầng số.

Hoàn thiện thể chế và hạ tầng dữ liệu là nền tảng quan trọng để quản trị hiệu quả quá trình dịch chuyển nhân lực khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong bối cảnh số. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia tích hợp thông tin về nhân lực, kỹ năng và nhu cầu thị trường lao động nhằm phục vụ dự báo và hoạch định chính sách. Cần hoàn thiện khung pháp lý về lao động số, hợp đồng linh hoạt, nền tảng số và bảo vệ dữ liệu cá nhân sẽ tạo môi trường pháp lý an toàn cho nhân lực tham gia hệ sinh thái số theo quy định Bộ luật Lao động năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2024, 2025), Luật Việc làm năm 2024.

Cần hoàn thiện bảo hiểm số theo quy định Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi, bổ sung năm 2024. Cần hoàn thiện Luật Viên chức, Luật Giáo dục … để hoàn thiện khung pháp luật về nhân lực khoa học, công nghệ số. Đồng thời, tạo điều kiện thúc đẩy hình thành cơ chế giải thưởng nghiên cứu khoa học đặc biệt lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn kết nối các viện, trường ở khu vực và quốc tế. Cần thiết lập các chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo công, ưu đãi tài chính, thuế và học bổng nghiên cứu sẽ thúc đẩy dịch chuyển nghề nghiệp và mở rộng không gian việc làm cho nhân lực khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

4. Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số, nhân lực khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đang có sự dịch chuyển mang tính cấu trúc trong thị trường lao động tri thức. Các dạng dịch chuyển này cho thấy nhân lực khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đang phát triển trong hệ sinh thái khoa học, công nghệ với khả năng thích ứng cao và vai trò ngày càng quan trọng trong đổi mới sáng tạo và quản trị xã hội. Xu hướng dịch chuyển nghề nghiệp diễn ra mạnh mẽ khi đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn rời các vị trí nghiên cứu truyền thống để đảm nhiệm các vai trò mới trong phân tích dữ liệu xã hội, quản trị tri thức, đạo đức AI và thiết kế chính sách số đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội trong bối cảnh mới.

Chú thích:
1. Barley, S. R. (2020). Work and technological change. Oxford University Press.
2. Đổi mới mô hình tăng trưởng lấy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chủ yếu: Xu hướng cần đẩy mạnh và đẩy nhanh trong điều kiện phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/826563/doi-moi-mo-hinh-tang-truong-lay-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-lam-dong-luc-chu-yeu.aspx
3. Trường Đại học Khoa học – Xã hội và Nhân văn: thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên nền tảng văn hiến – hiện đại – khai phóng. https://ussh.vnu.edu.vn/vi/news/dao-tao/truong-dai-hoc-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van-thuc-day-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-tren-nen-tang-van-hien-hien-dai-khai-phong-23718.html
4. Nhân lực khoa học và công nghệ: đổi mới lượng và chất. https://congthuong.vn/nhan-luc-khoa-hoc-va-cong-nghe-doi-moi-luong-va-chat-100918.html.
5. Các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam có tác động nhất thế giới năm 2024. https://www.haui.edu.vn/vn/bao-chi-viet-ve-haui/vjst-cac-nha-nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van-viet-nam-co-tac-dong-nhat-the-gioi-nam-2024/65501
6. Bồi dưỡng nguồn nhân lực ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/05/08/boi-duong-nguon-nhan-luc-ung-dung-khoa-hoc-cong-nghe-chuyen-doi-so-theo-quan-diem-cua-dang-cong-san-viet-nam/
7. Phát triển nhân lực khoa học, công nghệ Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1173802/phat-trien-khoa-hoc%2C-cong-nghe%2C-doi-moi-sang-tao-phat-trien-nhanh-luc-luong-san-xuat-hien-dai%2C-hoan-thien-quan-he-san-xuat-theo-tinh-than-nghi-quyet-so-57-nq-tw.aspx
8. https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT.
9. Principles for trustworthy AI. https://oecd.ai/en/ai-principles
10. Phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. https://naict.tttt.nghean.gov.vn/tinhd/phat-trien-nguon-nhan-luc-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-2270.html
11. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.