Xây dựng đạo đức nhà giáo đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới

Building a code of ethics for educators to meet the requirements for the development of Vietnam’s education system in the new phase

ThS. Chu Thị Diệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

(Quanlynhanuoc.vn) – Giáo dục Việt Nam đang chuyển mạnh từ mô hình giáo dục chủ yếu truyền thụ tri thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học, xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế. Những biến đổi đó đặt ra yêu cầu mới đối với đội ngũ nhà giáo, không chỉ ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn ở phẩm chất đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, liêm chính học thuật và năng lực thích ứng. Bài viết làm rõ một số vấn đề lý luận về đạo đức nhà giáo và xây dựng đạo đức nhà giáo; phân tích bối cảnh mới và yêu cầu đặt ra đối với xây dựng đạo đức nhà giáo ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra những nội dung cơ bản cần xây dựng và đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng đạo đức nhà giáo đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Đạo đức; đạo đức nhà giáo; xây dựng đạo đức; phát triển giáo dục; văn hóa học đường.

Abstract: Vietnam’s education system is undergoing a significant shift from a model focused primarily on the transmission of knowledge to one that emphasizes the development of students’ character and competencies, the building of a learning society, the promotion of digital transformation, the enhancement of human resource quality, and international integration. These changes present new demands on the teaching profession, not only in terms of professional expertise and skills but also in terms of moral character, professional responsibility, professional conduct, academic integrity, and adaptability. This article clarifies several theoretical issues regarding teacher ethics and the development of teacher ethics; analyzes the new context and requirements for building teacher ethics in Vietnam today; identifies the fundamental elements that need to be developed; and proposes several solutions to build teacher ethics that meet the requirements for the development of Vietnamese education in this new phase.

Keywords: Ethics; teacher ethics; ethical development; educational development; school culture.

1. Đặt vấn đề

Giáo dục Việt Nam hiện nay bước vào giai đoạn triển khai sâu rộng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện, trong đó chất lượng đội ngũ nhà giáo trở thành nhân tố quyết định. Bên cạnh yêu cầu chuyên môn, nhà giáo còn phải đáp ứng những chuẩn mực cao hơn về đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, liêm chính, văn hóa ứng xử và năng lực thích ứng đòi hỏi mới. Trong khi đó, áp lực thành tích, tác động của kinh tế thị trường, mạng xã hội và sự thay đổi trong quan hệ thầy – trò đang làm nảy sinh nhiều tình huống đạo đức mới. Một số biểu hiện lệch chuẩn đạo đức nhà giáo, tuy không phổ biến nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín nghề giáo và niềm tin xã hội. Vì vậy, xây dựng đạo đức nhà giáo là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn mới.

2. Một số vấn đề lý luận về đạo đức nhà giáo và xây dựng đạo đức nhà giáo

Đạo đức nhà giáo là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc và quy tắc ứng xử điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi của nhà giáo trong hoạt động giáo dục, trong quan hệ với người học, đồng nghiệp, gia đình người học, nhà trường và xã hội, nhằm bảo đảm cho nhà giáo thực hiện đúng sứ mệnh giáo dục con người.

Thứ nhất, đạo đức nhà giáo là đạo đức nghề nghiệp đặc thù. Nghề dạy học không chỉ tạo ra sản phẩm vật chất hay dịch vụ thông thường mà tác động trực tiếp đến nhân cách, trí tuệ, tình cảm và định hướng giá trị của người học. Một lời nói thiếu chuẩn mực, một cách đánh giá thiếu công bằng, một thái độ xúc phạm hoặc một hành vi thiếu trách nhiệm của nhà giáo có thể để lại ảnh hưởng lâu dài đối với người học. Vì vậy, nhà giáo phải chịu yêu cầu đạo đức cao hơn do đặc thù tác động của nghề nghiệp.

Thứ hai, đạo đức nhà giáo là sự thống nhất giữa phẩm chất cá nhân và trách nhiệm nghề nghiệp. Một nhà giáo có đạo đức không chỉ là người có đời sống cá nhân lành mạnh, mà còn phải thực hiện đúng trách nhiệm trong giảng dạy, giáo dục, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu, quản lý lớp học, tương tác với phụ huynh và phối hợp với đồng nghiệp. Đạo đức nhà giáo vì thế không thể tách rời năng lực nghề nghiệp. Thiếu trách nhiệm trong chuẩn bị bài giảng, đánh giá thiếu công bằng, không cập nhật tri thức, lạm dụng quyền lực sư phạm hoặc thờ ơ trước sự tiến bộ của người học đều là những biểu hiện chưa đầy đủ của đạo đức nghề nghiệp.

Thứ ba, đạo đức nhà giáo là nền tảng nhân cách của hoạt động sư phạm. Trong giáo dục, nhà giáo không chỉ dạy bằng nội dung bài học mà còn giáo dục bằng chính con người mình. Người học tiếp nhận tri thức từ nhà giáo, nhưng đồng thời cũng quan sát thái độ, hành vi, cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách đối diện với sai lầm và cách bảo vệ lẽ phải của nhà giáo. Do đó, đạo đức nhà giáo có tính nêu gương trực tiếp. Nhà giáo càng làm việc với người học ở lứa tuổi nhỏ thì tính nêu gương của đạo đức càng rõ nét.

Xây dựng đạo đức nhà giáo là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của các chủ thể giáo dục nhằm hình thành, củng cố, phát triển và hoàn thiện hệ giá trị, chuẩn mực, phẩm chất và hành vi đạo đức nghề nghiệp của nhà giáo, bảo đảm cho nhà giáo thực hiện tốt sứ mệnh giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Như vậy, xây dựng đạo đức nhà giáo bao hàm ba phương diện cơ bản:

Một là, chủ thể xây dựng đạo đức nhà giáo. Chủ thể đó không chỉ là bản thân nhà giáo mà còn bao gồm Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan quản lý giáo dục địa phương, cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý giáo dục, tổ chức đoàn thể, gia đình, cộng đồng, người học và xã hội. Trong đó, bản thân nhà giáo là chủ thể trực tiếp và có ý nghĩa quyết định, bởi mọi chuẩn mực bên ngoài chỉ có hiệu quả bền vững khi được chuyển hóa thành nhu cầu tự giác, niềm tin nghề nghiệp và hành vi thường xuyên của mỗi nhà giáo.

Hai là, nội dung xây dựng đạo đức nhà giáo. Nội dung này bao gồm xây dựng lý tưởng nghề nghiệp, lòng yêu nghề, trách nhiệm với người học, phẩm chất nhân ái, công bằng, trung thực, liêm chính, mẫu mực, tôn trọng, văn hóa ứng xử sư phạm, ý thức tự học, tinh thần đổi mới sáng tạo và năng lực thích ứng nghề nghiệp. Trong bối cảnh chuyển đổi số, nội dung xây dựng đạo đức nhà giáo còn phải bao gồm đạo đức trong môi trường số, trách nhiệm bảo vệ dữ liệu người học, ứng xử trên mạng xã hội và sử dụng công nghệ giáo dục một cách minh bạch, nhân văn.

Ba là, phương thức xây dựng đạo đức nhà giáo. Đó là quá trình kết hợp giữa hoàn thiện chuẩn mực, quy tắc ứng xử, pháp luật và chính sách; giáo dục, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp; xây dựng văn hóa học đường; phát huy nêu gương; tăng cường kiểm tra, giám sát; khen thưởng, xử lý vi phạm; đồng thời tạo điều kiện để nhà giáo tự tu dưỡng, tự rèn luyện. Nếu chỉ nhấn mạnh giáo dục đạo đức mà thiếu cơ chế thực hiện, đạo đức dễ rơi vào hình thức. Ngược lại, nếu chỉ nhấn mạnh kỷ luật mà thiếu bồi dưỡng và hỗ trợ, việc xây dựng đạo đức sẽ thiếu tính nhân văn, khó tạo động lực nội sinh.

3. Bối cảnh mới và yêu cầu đặt ra đối với xây dựng đạo đức nhà giáo ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đặt ra yêu cầu nâng cao hơn nữa trách nhiệm nghề nghiệp của nhà giáo.

Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục Việt Nam đang tiếp tục triển khai sâu rộng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trọng tâm của quá trình đổi mới là chuyển từ mô hình giáo dục chủ yếu truyền thụ tri thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học. Sự chuyển đổi đó làm thay đổi vai trò của nhà giáo: từ người truyền đạt kiến thức theo khuôn mẫu có sẵn sang người tổ chức, hướng dẫn, hỗ trợ, truyền cảm hứng và đồng hành với sự phát triển của người học. Vì vậy, đạo đức nhà giáo trong giai đoạn mới không chỉ dừng lại ở sự mẫu mực về lối sống, mà còn phải được thể hiện ở trách nhiệm nghề nghiệp đối với chất lượng bài giảng, phương pháp dạy học, kết quả giáo dục, sự công bằng trong đánh giá và sự tiến bộ của từng người học. Một nhà giáo thụ động, bảo thủ, dạy học đối phó, thiếu trách nhiệm với sự phát triển của học sinh, sinh viên thì chưa thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu đạo đức nghề nghiệp hiện nay.

Thứ hai, mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực người học đặt ra yêu cầu cao hơn về nêu gương đạo đức của nhà giáo.

Giáo dục hiện đại hướng tới phát triển con người toàn diện, không chỉ trang bị tri thức mà còn hình thành phẩm chất, năng lực, nhân cách, trách nhiệm và lối sống cho người học. Điều đó đòi hỏi nhà giáo phải trở thành chủ thể mang những giá trị mà mình giáo dục. Vì vậy, nêu gương đạo đức của nhà giáo không chỉ là sự tận tụy, mẫu mực, yêu thương học trò, mà còn là tinh thần học tập suốt đời, đổi mới sáng tạo, tôn trọng sự khác biệt, trung thực học thuật, sử dụng công nghệ có trách nhiệm và ứng xử văn minh trong không gian số.

Thứ ba, chuyển đổi số trong giáo dục đặt ra yêu cầu xây dựng đạo đức nhà giáo trong môi trường số.

Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động giáo dục thông qua học liệu số, lớp học trực tuyến, nền tảng quản lý học tập, dữ liệu giáo dục, trí tuệ nhân tạo và mạng xã hội. Những yếu tố này mở ra nhiều cơ hội nâng cao chất lượng dạy học, nhưng cũng làm xuất hiện những tình huống đạo đức mới. Nhà giáo phải có trách nhiệm trong lựa chọn, khai thác, chia sẻ học liệu số; bảo vệ dữ liệu cá nhân, hình ảnh, thông tin của người học; sử dụng công cụ số một cách minh bạch, trung thực; không để công nghệ làm nghèo đi quan hệ sư phạm hoặc thay thế tư duy nghề nghiệp, trách nhiệm đánh giá và sự thấu hiểu người học.

Thứ tư, điều kiện kinh tế – xã hội mới đặt ra yêu cầu giữ gìn liêm chính, công bằng trong giáo dục.

Những mặt trái của kinh tế thị trường cũng tác động tiêu cực đến môi trường giáo dục, làm nảy sinh xu hướng thương mại hóa, chạy theo thành tích, hình thức hóa kết quả, thiếu công bằng trong đánh giá hoặc lợi dụng vị trí nghề nghiệp để trục lợi. Vì vậy, xây dựng đạo đức nhà giáo trong bối cảnh hiện nay phải đặc biệt nhấn mạnh trung thực, liêm chính và công bằng. Đồng thời, hội nhập quốc tế cũng đòi hỏi đạo đức nhà giáo phải gắn với tính chuyên nghiệp, trách nhiệm xã hội, quyền nghề nghiệp và điều kiện làm việc phù hợp.

4. Nội dung cơ bản xây dựng đạo đức nhà giáo đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới

Thứ nhất, xây dựng lý tưởng nghề nghiệp, lòng yêu nghề và trách nhiệm với sự nghiệp giáo dục.

Lý tưởng nghề nghiệp là nền tảng tinh thần định hướng hành vi đạo đức của nhà giáo giúp nhà giáo có động lực nội sinh để rèn luyện, học tập, đổi mới và cống hiến. Xây dựng lý tưởng nghề nghiệp cho nhà giáo trước hết là xây dựng niềm tin vào giá trị của nghề giáo. Nghề dạy học là nghề trực tiếp góp phần hình thành tương lai của con người và xã hội. Mỗi bài giảng, mỗi cách ứng xử, mỗi sự khích lệ hoặc mỗi đánh giá công bằng đều có thể tác động đến nhận thức, niềm tin và lựa chọn của người học. Vì vậy, lòng yêu nghề không chỉ là tình cảm gắn bó với nghề, mà phải được biểu hiện thành trách nhiệm cụ thể đối với chất lượng giáo dục. Trong giai đoạn mới, trách nhiệm nghề nghiệp của nhà giáo đó là trách nhiệm chuẩn bị bài giảng chu đáo, đổi mới phương pháp, tôn trọng sự khác biệt của người học, phản hồi kịp thời, đánh giá công bằng, hỗ trợ học sinh yếu thế, bảo vệ môi trường học đường an toàn và giữ gìn uy tín nghề nghiệp.

Thứ hai, xây dựng phẩm chất nhân ái, tôn trọng và công bằng với người học.

Nhân ái, tôn trọng và công bằng là những giá trị trung tâm của đạo đức nhà giáo. Hoạt động giáo dục luôn diễn ra trong quan hệ giữa con người với con người. Người học không phải là đối tượng bị áp đặt một chiều, mà là chủ thể đang phát triển, có nhu cầu được tôn trọng, được lắng nghe, được bảo vệ và được tạo điều kiện để phát triển. Nhà giáo nhân ái biết nhìn thấy tiềm năng trong người học, kể cả khi người học còn hạn chế; biết hỗ trợ học sinh gặp khó khăn; biết sử dụng kỷ luật như phương tiện giáo dục chứ không phải như sự trừng phạt làm tổn thương nhân phẩm. Tôn trọng người học là tôn trọng nhân phẩm, cá tính, hoàn cảnh, năng lực và quyền được phát triển của mỗi cá nhân. Trong bối cảnh giáo dục lấy người học làm trung tâm, tôn trọng không đồng nghĩa với buông lỏng, mà là tạo ra quan hệ sư phạm dựa trên đối thoại, khích lệ, hướng dẫn và trách nhiệm. Công bằng trong giáo dục thể hiện ở việc đánh giá dựa trên tiêu chí rõ ràng, không thiên vị, không phân biệt đối xử, không để lợi ích cá nhân, quan hệ phụ huynh hoặc áp lực thành tích chi phối quyết định sư phạm.

Thứ ba, xây dựng tính trung thực, liêm chính và trách nhiệm học thuật.

Trung thực và liêm chính là trụ cột của đạo đức nhà giáo, nhất là trong bối cảnh giáo dục chịu áp lực cạnh tranh, kiểm định, thành tích và công bố học thuật. Nhà giáo là người truyền đạt tri thức, đánh giá kết quả học tập, hướng dẫn nghiên cứu và định hình thái độ của người học đối với sự thật. Vì vậy, nếu nhà giáo thiếu trung thực, tác hại không chỉ dừng lại ở cá nhân nhà giáo mà còn làm suy giảm niềm tin vào tri thức và công bằng giáo dục. Liêm chính của nhà giáo thể hiện ở việc không lợi dụng vị trí nghề nghiệp để trục lợi, không gây áp lực đối với người học và phụ huynh, không thiên vị trong quan hệ giáo dục, không sử dụng quyền lực sư phạm để đạt lợi ích cá nhân, không làm giả dữ liệu, không mua bán công trình, không sử dụng sản phẩm trí tuệ của người khác thiếu minh bạch.

Thứ tư, xây dựng văn hóa ứng xử sư phạm trong nhà trường, xã hội và không gian số.

Văn hóa ứng xử sư phạm là biểu hiện dễ nhận diện nhất của đạo đức nhà giáo. Nếu đạo đức là nền tảng bên trong, thì ứng xử là sự bộc lộ ra bên ngoài của nền tảng ấy. Vì vậy, xây dựng đạo đức nhà giáo phải được cụ thể hóa thành văn hóa ứng xử trong các quan hệ giáo dục.

Trong quan hệ với người học, nhà giáo cần ứng xử trên tinh thần tôn trọng, yêu thương, công bằng, khích lệ và bảo vệ. Trong quan hệ với phụ huynh, nhà giáo cần minh bạch, cầu thị, trách nhiệm, tránh biến quan hệ giáo dục thành quan hệ lợi ích. Trong quan hệ với nhà trường và cơ quan quản lý, nhà giáo cần có ý thức kỷ luật, trách nhiệm, xây dựng, trung thực và liêm chính. Trong không gian số, văn hóa ứng xử sư phạm càng cần được coi trọng. Một phát ngôn thiếu chuẩn mực của nhà giáo có thể nhanh chóng lan rộng, gây ảnh hưởng đến học sinh, phụ huynh, nhà trường và uy tín nghề nghiệp. Do đó, nhà giáo cần có ý thức đạo đức số, bao gồm kiểm soát phát ngôn, bảo vệ thông tin người học, tránh chia sẻ hình ảnh thiếu phù hợp, không bình luận xúc phạm, không sử dụng mạng xã hội để tạo áp lực hoặc làm tổn thương người khác.

Thứ năm, xây dựng tinh thần tự học, đổi mới sáng tạo và thích ứng nghề nghiệp.

Trong giai đoạn mới, đạo đức nhà giáo không thể tách rời tinh thần tự học và đổi mới. Tri thức thay đổi nhanh, công nghệ giáo dục phát triển nhanh, tâm lý người học biến đổi nhanh, yêu cầu xã hội đối với giáo dục cũng ngày càng cao. Nếu nhà giáo ngừng học, ngại đổi mới, bảo thủ trong phương pháp, họ khó có thể thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với người học. Đổi mới sáng tạo trong đạo đức nhà giáo không có nghĩa là chạy theo hình thức hoặc áp dụng công nghệ bằng mọi giá. Đổi mới có đạo đức là đổi mới vì sự phát triển của người học, dựa trên hiểu biết sư phạm, phù hợp điều kiện thực tiễn, tôn trọng sự khác biệt và bảo đảm tính nhân văn. Thích ứng nghề nghiệp cũng không có nghĩa là đánh mất bản sắc nghề giáo, mà là biết điều chỉnh phương pháp, công cụ và cách thức tương tác để giữ vững mục tiêu giáo dục con người trong điều kiện mới.

5. Giải pháp xây dựng đạo đức nhà giáo đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới

Một là, hoàn thiện hệ thống chuẩn mực, quy tắc ứng xử và cơ chế thực hiện đạo đức nhà giáo.

Chuẩn mực đạo đức nhà giáo cần được thiết kế theo hướng kết hợp giữa giá trị cốt lõi và tiêu chí hành vi cụ thể, bao gồm:

(1) Cụ thể hóa các giá trị đạo đức nhà giáo thành nhóm hành vi trong từng quan hệ: với người học, với đồng nghiệp, với phụ huynh, với nhà trường, với xã hội và với môi trường số. Chẳng hạn, giá trị “tôn trọng người học” cần được cụ thể hóa thành không xúc phạm nhân phẩm, không kỳ thị, lắng nghe phản hồi, bảo mật thông tin cá nhân, đánh giá công bằng. Giá trị “liêm chính” cần được cụ thể hóa thành không vụ lợi, không gian lận, không đạo văn, không tiếp tay cho bệnh thành tích, minh bạch trong đánh giá.

(2) Gắn quy tắc ứng xử với chuẩn nghề nghiệp, đánh giá viên chức, thi đua, khen thưởng, bổ nhiệm, bồi dưỡng và xử lý vi phạm. Nếu quy tắc ứng xử đứng riêng như một văn bản tuyên truyền, hiệu quả sẽ hạn chế. Ngược lại, khi quy tắc ứng xử trở thành một phần của hệ thống quản trị nhà trường, nó sẽ có khả năng điều chỉnh hành vi mạnh hơn.

(3) Bổ sung và làm rõ chuẩn mực đạo đức trong môi trường số. Những vấn đề như sử dụng trí tuệ nhân tạo, bảo vệ dữ liệu người học, chia sẻ hình ảnh lớp học, giao tiếp trực tuyến, phản hồi trên mạng xã hội và khai thác học liệu số cần được hướng dẫn cụ thể. Đây là yêu cầu cấp thiết bởi công nghệ thay đổi nhanh hơn nhiều so với tốc độ cập nhật của các quy định truyền thống.

(4) Cần bảo đảm cơ chế thực hiện. Mỗi cơ sở giáo dục cần có quy tắc ứng xử phù hợp đặc thù, kênh phản ánh an toàn, quy trình xử lý minh bạch, cơ chế hỗ trợ nhà giáo và cơ chế bảo vệ người học. Chuẩn mực đạo đức chỉ có ý nghĩa thực chất khi đi kèm cơ chế thực hiện, kiểm tra và trách nhiệm giải trình.

Hai là, đổi mới công tác giáo dục, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho nhà giáo.

Giáo dục, bồi dưỡng đạo đức nhà giáo cần được đổi mới theo hướng thực chất, gắn với tình huống nghề nghiệp và năng lực hành động. Trong thực tế, nhiều vi phạm đạo đức không xuất phát từ việc nhà giáo không biết khẩu hiệu đạo đức, mà từ việc không đủ năng lực xử lý tình huống, không kiểm soát được cảm xúc, không nhận diện được xung đột lợi ích, hoặc không hiểu đúng chuẩn mực trong môi trường mới, với các nội dung cụ thể:

(1) Đưa nội dung đạo đức nhà giáo vào chương trình đào tạo giáo viên và bồi dưỡng thường xuyên. Sinh viên sư phạm cần được học không chỉ về lý luận đạo đức, mà còn về đạo đức nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, tâm lý người học, quyền trẻ em, công bằng giáo dục, liêm chính học thuật và đạo đức số.

(2) Tăng cường bồi dưỡng thông qua tình huống thực tiễn. Các tình huống như học sinh vi phạm kỷ luật, phụ huynh phản ứng gay gắt, học sinh bị tổn thương tâm lý, gian lận trong kiểm tra, sử dụng trí tuệ nhân tạo trong bài tập, lan truyền thông tin trên mạng xã hội cần được đưa vào đào tạo, thảo luận và phản tư nghề nghiệp. Cách bồi dưỡng này giúp nhà giáo chuyển từ “biết chuẩn mực” sang “biết hành động theo chuẩn mực”.

(3) Phát triển năng lực đạo đức số cho nhà giáo. UNESCO trong Báo cáo Giám sát giáo dục toàn cầu năm 2023 đã nhấn mạnh cần xem xét công nghệ trong giáo dục trên các phương diện phù hợp, công bằng, khả năng mở rộng và tính bền vững. Điều này gợi mở rằng nhà giáo phải được bồi dưỡng không chỉ về kỹ năng sử dụng công nghệ, mà còn về cách sử dụng công nghệ có trách nhiệm, công bằng và nhân văn.

(4) Đánh giá hiệu quả bồi dưỡng bằng chuyển biến hành vi. Không nên chỉ tính số lớp, số tiết, số chứng chỉ, mà cần quan tâm đến việc nhà giáo có thay đổi trong cách ứng xử, cách đánh giá, cách phản hồi, cách giao tiếp và cách xử lý tình huống hay không. Bồi dưỡng đạo đức chỉ có giá trị khi tạo ra thay đổi thực chất trong thực hành nghề nghiệp.

Ba là, tăng cường kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý vi phạm đạo đức nhà giáo.

Kiểm tra, giám sát là phương thức cần thiết để bảo đảm chuẩn mực đạo đức được thực hiện trong thực tiễn. Tuy nhiên, kiểm tra, giám sát phải được hiểu đúng: không phải để tạo áp lực hành chính, mà để bảo vệ môi trường giáo dục lành mạnh, bảo vệ người học, bảo vệ danh dự nghề giáo và hỗ trợ nhà giáo thực hiện đúng chuẩn mực, bao gồm:

(1) Xây dựng cơ chế giám sát thường xuyên, khách quan và minh bạch. Giám sát không chỉ diễn ra khi có vụ việc, mà phải là một phần của quản trị nhà trường, thông qua phản hồi của học sinh, phụ huynh, đồng nghiệp, tổ chuyên môn và cơ quan quản lý. Tuy nhiên, phản hồi phải có quy trình, có xác minh, tránh cảm tính hoặc bị lợi dụng.

(2) Thiết lập kênh phản ánh an toàn, bảo mật và có trách nhiệm. Người học và phụ huynh cần có kênh phản ánh khi có biểu hiện vi phạm đạo đức nhà giáo. Đồng thời, nhà giáo cũng cần có cơ chế bảo vệ trước phản ánh sai sự thật, xúc phạm danh dự hoặc áp lực không chính đáng. Cân bằng giữa bảo vệ người học và bảo vệ nhà giáo là yêu cầu quan trọng của quản trị đạo đức trong giáo dục.

(3) Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo. Những hành vi như xúc phạm người học, bạo lực, phân biệt đối xử, gian lận, vụ lợi, vi phạm liêm chính học thuật hoặc làm tổn hại môi trường giáo dục cần được xử lý kịp thời, công bằng, đúng pháp luật. Xử lý nghiêm không chỉ nhằm trừng phạt cá nhân mà còn nhằm bảo vệ chuẩn mực chung của nghề giáo.

(4) Kết hợp giữa kỷ luật và giáo dục, giữa phòng ngừa và xử lý. Không phải mọi sai sót đều giống nhau. Có những sai sót cần được bồi dưỡng, nhắc nhở, hỗ trợ để sửa chữa; có những vi phạm nghiêm trọng cần xử lý nghiêm. Cách tiếp cận đúng là phân loại mức độ, bảo đảm công bằng, đồng thời hướng tới mục tiêu xây dựng môi trường giáo dục tốt hơn.

Bốn là, bảo đảm điều kiện làm việc, chính sách đãi ngộ và vị thế xã hội của nhà giáo.

Xây dựng đạo đức nhà giáo không thể chỉ dựa vào kêu gọi sự hy sinh và tận tụy. Đạo đức nghề nghiệp cần được nuôi dưỡng trong những điều kiện xã hội phù hợp. Khi nhà giáo chịu áp lực quá lớn về thu nhập, hồ sơ, chỉ tiêu, sĩ số, thiếu giáo viên, thiếu thời gian bồi dưỡng và thiếu cơ chế bảo vệ, việc duy trì động lực đạo đức sẽ gặp khó khăn.

Báo cáo toàn cầu về nhà giáo năm 2024 của UNESCO nhấn mạnh nhu cầu tuyển dụng, đào tạo, hỗ trợ và trao quyền cho nhà giáo trong các hệ thống giáo dục có khả năng chống chịu, đồng thời coi việc nâng cao vị thế nghề giáo là một yêu cầu quan trọng. Điều này có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam: muốn nâng cao đạo đức nhà giáo, cần đồng thời nâng cao vị thế, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp của nhà giáo.

(1) Cần tiếp tục cải thiện chính sách tiền lương, phụ cấp, đãi ngộ và điều kiện làm việc cho nhà giáo. Chính sách đãi ngộ không phải là sự ưu ái đơn thuần, mà là điều kiện để nhà giáo yên tâm cống hiến, giữ gìn liêm chính và phát triển nghề nghiệp.

(2) Giảm áp lực hành chính và hồ sơ hình thức. Nhà giáo cần thời gian cho chuyên môn, cho học sinh, cho tự học và cho đổi mới phương pháp. Nếu quá nhiều thời gian bị tiêu hao bởi giấy tờ, báo cáo và thi đua hình thức, đạo đức nghề nghiệp sẽ dễ bị hành chính hóa, còn chất lượng giáo dục thực chất bị suy giảm.

(3) Bảo vệ danh dự, nhân phẩm và quyền nghề nghiệp chính đáng của nhà giáo. Bảo vệ nhà giáo không có nghĩa là bao che vi phạm mà là bảo vệ những người thực hiện đúng trách nhiệm trước áp lực sai lệch, bạo lực, xúc phạm hoặc thông tin không chính xác. Khi nhà giáo được bảo vệ chính đáng, họ sẽ có thêm bản lĩnh để thực hiện công bằng và liêm chính.

(4) Gắn tôn vinh nhà giáo với sử dụng, đánh giá, đào tạo và phát triển đội ngũ một cách thực chất. Tôn vinh chỉ có ý nghĩa khi đi cùng cơ chế phát triển nghề nghiệp, đánh giá công bằng và chính sách hỗ trợ dài hạn.

Năm là, xây dựng văn hóa học đường dân chủ, nhân văn, liêm chính.

Đạo đức nhà giáo không thể được xây dựng bền vững trong một môi trường học đường thiếu dân chủ, thiếu nhân văn hoặc nặng bệnh thành tích. Vì vậy, xây dựng văn hóa học đường là giải pháp nền tảng.

(1) Xây dựng môi trường nhà trường dựa trên các giá trị tôn trọng, yêu thương, trách nhiệm, công bằng, hợp tác và trung thực. Những giá trị này phải được thể hiện trong quan hệ giữa cán bộ quản lý với giáo viên, giữa giáo viên với học sinh, giữa giáo viên với phụ huynh và giữa học sinh với nhau. Nếu nhà trường kêu gọi giáo viên tôn trọng học sinh nhưng bản thân cơ chế quản lý lại thiếu tôn trọng giáo viên, thì khó có thể xây dựng đạo đức bền vững.

(2) Chống bệnh thành tích và hình thức hóa giáo dục. Bệnh thành tích làm suy yếu liêm chính giáo dục, tạo áp lực sai lệch lên nhà giáo và người học. Khi kết quả bề ngoài được coi trọng hơn sự phát triển thật, đạo đức nhà giáo dễ bị tổn thương. Vì vậy, xây dựng đạo đức nhà giáo phải gắn với đổi mới đánh giá, giảm áp lực chỉ tiêu hình thức và đề cao chất lượng thực chất.

(3) Cần phát huy vai trò của tập thể sư phạm. Đạo đức nhà giáo không chỉ hình thành qua quy định từ trên xuống mà còn qua chuẩn mực đồng nghiệp, văn hóa tổ chuyên môn, sự hỗ trợ giữa giáo viên và sự nêu gương trong tập thể. Một tập thể sư phạm lành mạnh sẽ tạo áp lực tích cực, giúp mỗi nhà giáo tự điều chỉnh và phát triển.

(4) Xây dựng văn hóa liêm chính trong nhà trường. Liêm chính phải trở thành giá trị xuyên suốt trong dạy học, thi cử, đánh giá, nghiên cứu khoa học, quản lý tài chính, tuyển sinh và thi đua. Khi nhà trường liêm chính, nhà giáo có điều kiện thuận lợi hơn để thực hành liêm chính. Khi nhà trường dung túng cho gian lận hoặc hình thức, yêu cầu đạo đức đối với cá nhân nhà giáo sẽ thiếu sức nặng.

Sáu là, phát huy vai trò tự tu dưỡng, tự rèn luyện đạo đức nghề nghiệp của mỗi nhà giáo.

Trước hết, mỗi nhà giáo cần thường xuyên tự soi, tự sửa, tự đánh giá hành vi nghề nghiệp của mình. Tự soi không phải là tự phê bình hình thức, mà là năng lực phản tư nghề nghiệp: hôm nay mình đã ứng xử công bằng chưa, đã lắng nghe học sinh chưa, đã đánh giá đúng chưa, đã kiểm soát cảm xúc chưa, đã dùng công nghệ có trách nhiệm chưa, đã làm gương cho người học chưa.

Thứ hai, mỗi nhà giáo cần hình thành ý thức học tập suốt đời. Tự học không chỉ để nâng cao tri thức chuyên môn mà còn để phát triển đạo đức nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, năng lực công nghệ, năng lực tâm lý học đường và năng lực xử lý tình huống sư phạm. Trong giai đoạn mới, không học tập cũng đồng nghĩa với tụt hậu trong trách nhiệm nghề nghiệp.

Thứ ba, mỗi nhà giáo cần xây dựng bản lĩnh nghề nghiệp trước áp lực thành tích, lợi ích cá nhân, dư luận xã hội và tác động tiêu cực của mạng xã hội. Bản lĩnh đạo đức giúp nhà giáo giữ vững công bằng khi bị tác động bởi quan hệ lợi ích, giữ vững liêm chính khi bị áp lực thành tích, giữ vững nhân văn khi đối diện với tình huống khó khăn và giữ vững chuẩn mực khi tham gia không gian số.

Thứ tư, mỗi nhà giáo cần coi đạo đức nghề nghiệp là danh dự của mình. Danh dự nhà giáo không chỉ được tạo nên bởi bằng cấp, chức danh hay thành tích, mà trước hết bởi cách nhà giáo sống với nghề, với người học, với đồng nghiệp và với sự thật. Khi đạo đức trở thành nhu cầu tự thân, nhà giáo không chỉ tuân thủ quy định mà còn chủ động làm cho môi trường giáo dục tốt đẹp hơn.

6. Kết luận

Xây dựng đạo đức nhà giáo là yêu cầu cấp thiết trong phát triển giáo dục Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, đạo đức nhà giáo cần gắn với trách nhiệm nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, liêm chính và năng lực thích ứng. Để thực hiện hiệu quả, cần kết hợp hoàn thiện chuẩn mực, xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh và phát huy vai trò tự tu dưỡng của mỗi nhà giáo. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục, củng cố uy tín nghề giáo và phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1. Nghiên cứu được tài trợ từ nguồn kinh phí khoa học công nghệ của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cho Đề tài Khoa học, mã số: HPU2.2024-CS. 06.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008). Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 quy định về đạo đức nhà giáo.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Thông tư số 03/2026/TT-BGDĐT ngày 30/01/2026 quy định quy tắc ứng xử trong cơ sở giáo dục.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Thông tư số 30/2026/TT-BGDĐT ngày 14/4/2026 quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Thông tư số 28/2026/TT-BGDĐT ngày 11/3/2026 quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Quốc hội (2019). Luật Giáo dục năm 2019.
8. Quốc hội (2025). Luật Giáo dục năm 2025.
9. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.