Nâng cao hiệu quả đổi mới sáng tạo cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hà Nội

ThS. Nguyễn Hữu Việt
Trường Đại học Thành Đô

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tập trung phân tích thực trạng hoạt động đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội, trên cơ sở tổng hợp số liệu từ “Sách trắng Đổi mới sáng tạo Việt Nam”, niên giám thống kê Hà Nội và các báo cáo khoa học – công nghệ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù hệ sinh thái hỗ trợ đổi mới sáng tạo của Hà Nội đã hình thành, nhưng hiệu quả lan tỏa đến doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa cao. Từ thực trạng đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo.

Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa; quản lý nhà nước; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, đổi mới sáng tạo đã trở thành yếu tố sống còn quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp. Các quốc gia và đô thị lớn trên thế giới đang tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, chuyển từ dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ sang dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò then chốt trong tạo việc làm, lan tỏa công nghệ và duy trì sức sống của nền kinh tế đô thị.

Thành phố Hà Nội – trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế, khoa học và giáo dục của cả nước, là địa phương có hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động nhất, tập trung hơn 208.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm gần 98%1. Dù được hưởng lợi từ các chính sách và hạ tầng hỗ trợ đổi mới sáng tạo, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội vẫn gặp khó khăn về vốn, nhân lực công nghệ, khả năng hấp thụ tri thức, liên kết với các viện, trường, quỹ đầu tư. Nhiều doanh nghiệp mới dừng lại ở mức đổi mới cải tiến, chưa hình thành năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D) nội sinh hay mô hình kinh doanh sáng tạo bền vững.

Trước thực tế đó, việc nghiên cứu hiệu quả đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội có ý nghĩa thiết thực trong việc đánh giá mức độ lan tỏa chính sách, nhận diện rào cản cấu trúc trong thực thi và đề xuất giải pháp quản lý, tài chính, nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới sáng tạo của khu vực doanh nghiệp này.

2. Thực trạng hoạt động đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa  tại thành phố Hà Nội

2.1. Quy mô và đặc điểm cấu trúc khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội

Trong giai đoạn 2018 – 2024, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đã khẳng định vai trò là nền tảng vi mô và là động lực tăng trưởng cốt lõi cho kinh tế – xã hội của Thủ đô. Phân tích dữ liệu từ Sách trắng Doanh nghiệp Hà Nội 2024 cho thấy, trong tổng số 208.560 doanh nghiệp đang hoạt động, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm một tỷ trọng áp đảo lên tới 97,9%2. Về mặt đóng góp, khu vực này tạo ra khoảng 45,5% GRDP, thu hút hơn 50% tổng lực lượng lao động và chiếm trên 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội3. Từ đây, cho thấy, tầm quan trọng chiến lược của khối doanh nghiệp này.

Về tốc độ tăng trưởng, số lượng doanh nghiệp Hà Nội tăng ổn định qua các năm, phản ánh xu hướng khởi nghiệp và mở rộng quy mô trong khu vực tư nhân. Cụ thể, giai đoạn 2018 – 2024, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 34,9%, bình quân 5,8%/năm, cho thấy khu vực này duy trì động lực phát triển ổn định4.

Bảng 1. Quy mô và đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội giai đoạn 2018 – 2024

NămTổng số doanh nghiệp đang hoạt độngSố doanh nghiệp nhỏ và vừaTỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa (%)Đóng góp GRDP (%)
2018156.540150.12095,941,2
2019164.720158.2009642
2020176.820171.37096,943
2021185.230179.4209744,1
2022194.250189.40097,544,6
2023202.430197.26097,645,1
2024208.560202.65097,945,5
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê Hà Nội (2019 – 2024); Sách trắng Doanh nghiệp Hà Nội (2021 – 2024).

Phân theo quy mô vốn và lao động, hơn 67% doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội có vốn dưới 10 tỷ đồng và 78% doanh nghiệp có dưới 10 lao động, tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, công nghiệp chế biến – chế tạo và công nghệ thông tin5. Đặc biệt, nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm trên 85% tổng số doanh nghiệp, cho thấy, nền kinh tế Thủ đô vẫn mang tính phân tán, quy mô nhỏ, năng lực tích lũy và đầu tư hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đổi mới sáng tạo.

Cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và vừa theo lĩnh vực hoạt động có xu hướng chuyển dịch tích cực, phản ánh định hướng cơ cấu lại nền kinh tế Thủ đô theo hướng dịch vụ – công nghiệp – công nghệ cao.

Bảng 2. Cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội theo lĩnh vực hoạt động giai đoạn 2018 – 2024

Lĩnh vực hoạt động2018 (%)2020 (%)2022 (%)2024 (%)
Thương mại – Dịch vụ383939,540
Công nghiệp – Xây dựng353433,533
Công nghệ thông tin – Truyền thông89,510,512
Nông nghiệp – Công nghệ cao8,587,57
Giáo dục, Y tế, Sáng tạo khác10,59,598
Nguồn: Niên giám Thống kê Hà Nội (2019 – 2024); Báo cáo khoa học và công nghệ Hà Nội 2024.

Sự gia tăng ổn định của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cho thấy, Hà Nội duy trì vai trò đầu tàu về số lượng doanh nghiệp trong cả nước; đồng thời, phản ánh mức độ năng động của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, xét về chất lượng tăng trưởng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chủ yếu tập trung ở các ngành thâm dụng lao động và vốn thấp, năng lực công nghệ còn hạn chế.

Cơ cấu ngành cho thấy, xu hướng chuyển dịch tích cực về phía công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ hiện đại, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin, truyền thông và thương mại điện tử. Đây là nền tảng quan trọng để khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo của Hà Nội trong giai đoạn tới.

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội giai đoạn 2018 – 2024 phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và cơ cấu, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, tính chất nhỏ lẻ, thiếu vốn và công nghệ hiện đại vẫn là đặc trưng nổi bật, đòi hỏi sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn từ chính quyền thành phố, các quỹ khoa học – công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển trong thời gian tới.

2.2. Hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội

Phân tích dữ liệu, cho thấy, hoạt động đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hà Nội đã trở nên phổ biến hơn, tuy nhiên, mức độ và hiệu quả của các hoạt động này còn nhiều hạn chế và chưa đồng đều.

Bảng 3. Tỷ lệ các hình thức đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa  Hà Nội giai đoạn 2018 – 2024 (%)

NămDoanh nghiệp có đổi mới sáng tạo (%)Đổi mới quy trìnhĐổi mới sản phẩmĐổi mới mô hình kinh doanhĐổi mới tổ chức quản lý
201826,361,5387,56
202034,568,240,597
202239,872,343,210,37,8
202443,876,645128
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Sách trắng khoa học và công nghệ 2018 – 2024

Kết quả khảo sát, đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội ưu tiên đổi mới quy trình và sản phẩm – những lĩnh vực mang lại hiệu quả nhanh, chi phí thấp hơn so với nghiên cứu, phát minh mới. Tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đổi mới quy trình đạt 76,6% năm 2024, chủ yếu thông qua việc đầu tư, nâng cấp máy móc, dây chuyền sản xuất và phần mềm quản lý6.

Trong khi đó, đổi mới sản phẩm chiếm 45%, tập trung ở các lĩnh vực công nghệ thông tin, sản xuất thiết bị điện – điện tử, thực phẩm và vật liệu xây dựng7.

Hoạt động đổi mới mô hình kinh doanh và tổ chức quản lý tuy còn chiếm tỷ trọng nhỏ (12% và 8%), nhưng có xu hướng tăng nhanh, phản ánh quá trình chuyển đổi số và áp dụng mô hình kinh doanh linh hoạt của các doanh nghiệp nhỏ và vừa sau đại dịch Covid-198.

Về nguồn lực đầu tư, một trong những thách thức cấu trúc lớn nhất của hoạt động đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội là sự phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn vốn nội tại, trong khi khả năng tiếp cận các kênh tài chính bên ngoài còn hạn chế9.

Bảng 4. Cơ cấu nguồn lực đầu tư cho hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội năm 2024

Nguồn vốn/nguồn lựcTỷ trọng (%)Ghi chú
Vốn tự có của doanh nghiệp85Chủ yếu phục vụ đổi mới công nghệ, thiết bị, quy trình
Hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước (quỹ, chương trình)8,5Bao gồm quỹ khoa học – công nghệ, chương trình đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia
Vốn vay tín dụng thương mại4Khó tiếp cận do yêu cầu tài sản thế chấp
Hợp tác với viện, trường, quỹ đầu tư2,5Chủ yếu trong các dự án khởi nghiệp công nghệ
Nguồn: Báo cáo Khoa học và công nghệ Hà Nội 2024.

Sự thống trị gần như tuyệt đối của vốn tự có (85,0%), các quyết định đầu tư cho đổi mới sáng tạo thường mang tính ngắn hạn và ưu tiên các giải pháp an toàn, có khả năng hoàn vốn nhanh (xem Bảng 4). Điều này lý giải tại sao hoạt động đổi mới sáng tạo chủ yếu dừng lại ở mức cải tiến quy trình thay vì các dự án R&D đột phá.

Trong khi đó, sự tham gia của các kênh vốn bên ngoài mờ nhạt. Vốn vay tín dụng (4,0%) và hỗ trợ từ ngân sách (8,5%) chiếm tỷ trọng rất nhỏ, phản ánh khoảng trống lớn giữa quy mô của các chính sách hỗ trợ và hiệu quả thẩm thấu thực tế (theo Bảng 4). Mô hình đầu tư tự lực nhưng thiếu hụt nguồn lực này là một trong những nguyên nhân gốc rễ khiến hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa tuy rộng về lượng nhưng lại nông về chất.

2.3. Hệ sinh thái và nền tảng hỗ trợ đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội

Hiện nay, Hà Nội là một trong ba trung tâm đổi mới sáng tạo lớn của cả nước, cùng với TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Hà Nội được hình thành theo cấu trúc nhiều tầng, trong đó Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội đóng vai trò hạt nhân kết nối, điều phối hợp tác giữa Nhà nước – viện nghiên cứu – nhà trường – doanh nghiệp. Xung quanh các trung tâm này là mạng lưới ươm tạo, vườn ươm doanh nghiệp, tổ chức thúc đẩy kinh doanh (BA, accelerator), không gian làm việc chung và quỹ đầu tư, tạo nền hạ tầng hỗ trợ quan trọng cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Theo Báo cáo khoa học và công nghệ Hà Nội năm 2024, thành phố có 135 doanh nghiệp khoa học và công nghệ được chứng nhận, 12 cơ sở ươm tạo, gần 70 không gian làm việc chung và hơn 30 tổ chức thúc đẩy kinh doanh, chủ yếu trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, cơ khí và dịch vụ sáng tạo10. Trung tâm Giao dịch Công nghệ Hà Nội và sàn Techmart Online đóng vai trò cầu nối thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Các khu công nghệ cao, như Hòa Lạc và Cầu Giấy đang được đầu tư mở rộng, trở thành không gian tập trung của nhiều doanh nghiệp công nghệ và startup sáng tạo.

Theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII 2024), Hà Nội tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu cả nước với 60,76 điểm, đứng đầu ở nhóm đầu vào (62,63 điểm) và đầu ra (58,89 điểm), phản ánh rõ hiệu quả của việc hình thành mạng lưới tổ chức và hạ tầng hỗ trợ đổi mới sáng tạo11. Tuy nhiên, mức độ tham gia của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong hệ sinh thái này vẫn còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa tận dụng được dịch vụ tư vấn, ươm tạo, hỗ trợ tài chính; chỉ 23,3% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được các chương trình hỗ trợ Nhà nước12. Các trung tâm và quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực khởi nghiệp công nghệ, trong khi phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong các ngành truyền thống chưa có cơ chế tiếp cận tương ứng, gây bất cân đối trong phân bổ nguồn lực và cơ hội đổi mới sáng tạo.

Bảng 5. Mức độ tham gia của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (2024)

Nội dung hỗ trợTỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia (%)Hình thức hỗ trợ phổ biến
Tiếp cận chương trình, dự án hỗ trợ đổi mới sáng tạo của Nhà nước23,3Đào tạo, tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật
Tham gia cơ sở ươm tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo15,6Ươm tạo ý tưởng, tư vấn phát triển sản phẩm
Hợp tác với viện – trường, tổ chức nghiên cứu19,2Nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm sản phẩm
Tiếp cận quỹ hỗ trợ hoặc bảo lãnh tín dụng8,5Hỗ trợ tài chính, vốn vay ưu đãi
Tham gia sàn giao dịch công nghệ6,8Tìm kiếm công nghệ, đối tác chuyển giao
Nguồn: Báo cáo Khoa học và công nghệ Hà Nội 2024; điều tra đổi mới sáng tạo quốc gia 2023.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Hà Nội đã và đang đóng vai trò tích cực trong việc kết nối nguồn lực khoa học – công nghệ, song tác động thực tế tới khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn hạn chế về độ sâu và độ bao phủ. Để phát huy hiệu quả, cần mở rộng mạng lưới tổ chức trung gian, tăng cường liên kết giữa Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, Trung tâm đổi mới sáng tạo Hà Nộivà các hiệp hội doanh nghiệp; đồng thời, phát triển các mô hình hỗ trợ chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực sản xuất truyền thống. Việc xây dựng hệ sinh thái mở, tích hợp nguồn lực công – tư và thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo chuỗi giá trị sẽ là hướng đi then chốt để doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội chuyển từ đổi mới thích ứng sang đổi mới sáng tạo chủ động trong giai đoạn tới.

2.4. Rào cản và thách thức trong hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội

Kết quả phân tích thực trạng cho thấy, hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội còn gặp nhiều hạn chế cả từ phía nội lực doanh nghiệp lẫn môi trường hỗ trợ bên ngoài.

Trước hết, năng lực nội sinh của doanh nghiệp còn yếu, thể hiện ở quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn chế và mức đầu tư cho R&D thấp. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện đổi mới sáng tạo bằng vốn tự có, nên chỉ dừng ở các hoạt động cải tiến kỹ thuật hoặc ứng dụng công nghệ sẵn có, thiếu khả năng đầu tư dài hạn cho sản phẩm mới hoặc công nghệ lõi. Hạn chế về nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt là đội ngũ kỹ sư, chuyên gia R&D, cũng làm giảm hiệu quả triển khai các dự án đổi mới.

Bên cạnh đó, môi trường hỗ trợ và liên kết trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo chưa thực sự lan tỏa đến khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặc dù Hà Nội đã xây dựng mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo, cơ sở ươm tạo, vườn ươm doanh nghiệp và sàn giao dịch công nghệ, song số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận hoặc tham gia vào các chương trình hỗ trợ còn ít. Liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức trung gian còn lỏng lẻo, thiếu cơ chế chia sẻ thông tin, tài chính và lợi ích, khiến doanh nghiệp khó tận dụng được nguồn lực tri thức xã hội.

Cuối cùng, các cơ chế chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo tuy tương đối đầy đủ nhưng hiệu quả thực thi còn hạn chế. Nhiều chương trình, quỹ hỗ trợ và ưu đãi thuế chưa thực sự phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi quy trình tiếp cận còn phức tạp, quy mô nguồn lực nhỏ. Việc hỗ trợ vẫn tập trung chủ yếu vào nhóm doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ, chưa bao phủ tới nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực sản xuất – dịch vụ truyền thống, vốn chiếm tỷ trọng lớn trong kinh tế Hà Nội.

Những rào cản nêu trên cho thấy, hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội đang chịu ảnh hưởng đồng thời từ hạn chế nội tại và yếu tố môi trường, khiến quá trình đổi mới chủ yếu mang tính thích ứng, chưa trở thành động lực bền vững cho tăng trưởng. Khắc phục các rào cản này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức trung gian trong việc nâng cao năng lực đổi mới, mở rộng kênh tiếp cận hỗ trợ và thúc đẩy hợp tác theo chuỗi giá trị sáng tạo13.

3. Một số giải pháp

Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa của thành phố Hà Nội, cần triển khai đồng bộ một số biện pháp sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới sáng tạo. Việc nâng cao nhận thức về vai trò của đổi mới sáng tạo không chỉ giúp doanh nghiệp hiểu rõ lợi ích của việc đổi mới công nghệ mà còn khuyến khích tinh thần sáng tạo, dám thử nghiệm và chấp nhận rủi ro. Song song đó, các cơ quan quản lý cần công bố rõ ràng, minh bạch các chính sách hỗ trợ hiện hành để doanh nghiệp dễ tiếp cận và vận dụng.

Thứ hai, tăng cường vai trò lãnh đạo, điều phối của các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động đổi mới sáng tạo. Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cùng các sở, ngành liên quan cần phối hợp chặt chẽ trong việc hướng dẫn, giám sát, đánh giá và hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hoạt động đổi mới. Các cấp chính quyền cần coi đổi mới sáng tạo là một tiêu chí quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương, đưa kết quả đổi mới sáng tạo trở thành một trong các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Thứ ba, chú trọng bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật, chuyên gia R&D và đội ngũ quản trị đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Việc kết nối giữa doanh nghiệp – viện nghiên cứu – nhà trường cần được triển khai thực chất, hướng đến hình thành chuỗi cung ứng tri thức, trong đó, trường đại học là nơi cung cấp nhân lực và công nghệ, còn doanh nghiệp là nơi ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Thứ tư, đẩy mạnh hình thành và phát triển các tổ chức trung gian của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Bao gồm, vườn ươm công nghệ, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, sàn giao dịch công nghệ và quỹ đầu tư mạo hiểm. Các tổ chức này cần được tạo điều kiện về pháp lý, tài chính và hạ tầng để thực sự trở thành cầu nối hiệu quả giữa nhà khoa học, nhà đầu tư và doanh nghiệp. Đồng thời, cần khuyến khích các mô hình hợp tác công – tư trong phát triển hạ tầng hỗ trợ đổi mới sáng tạo, đặc biệt trong lĩnh vực chuyển đổi số và công nghệ xanh.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động R&D. Cần đơn giản hóa thủ tục tiếp cận nguồn vốn từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ, Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa; áp dụng ưu đãi thuế cho doanh nghiệp có đầu tư R&D hoặc ứng dụng công nghệ mới. Bên cạnh đó, cần xem xét thiết lập cơ chế “đặt hàng nghiên cứu” từ khu vực công cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm tạo đầu ra ổn định và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới.

Thứ sáu, tăng cường kết nối nghiên cứu với ứng dụng, phát triển các mô hình liên kết cụm ngành và chuỗi giá trị sáng tạo. Thành phố cần khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa hợp tác với doanh nghiệp lớn trong cùng ngành để chia sẻ công nghệ, dữ liệu và thị trường. Việc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu – nhà trường – doanh nghiệp không chỉ giúp giảm chi phí R&D mà còn nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, tạo nền tảng cho các sản phẩm, dịch vụ đổi mới có sức cạnh tranh cao.

Hạn chế của nghiên cứu là chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp và chưa tiến hành khảo sát định lượng sâu về năng lực đổi mới của từng nhóm doanh nghiệp. Do đó, hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi phân tích theo ngành và quy mô doanh nghiệp, kết hợp phương pháp điều tra xã hội học hoặc mô hình định lượng để đánh giá sâu hơn tác động của các yếu tố chính sách, vốn và công nghệ tới hiệu quả đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội.

Như vậy, để nâng cao hiệu quả đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu, nhà trường – nhà đầu tư. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và điều phối, còn doanh nghiệp là trung tâm của quá trình đổi mới. Khi các rào cản về thể chế, vốn và nhân lực được tháo gỡ, đổi mới sáng tạo sẽ thực sự trở thành động lực phát triển bền vững cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa và cho nền kinh tế Thủ đô.  

4. Kết luận

Hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội thời gian qua đã có những bước tiến tích cực, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả đổi mới sáng tạo vẫn còn hạn chế do quy mô nhỏ, nguồn lực tài chính yếu, thiếu nhân lực khoa học và công nghệ và cơ chế hỗ trợ chưa đồng bộ. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của thành phố đã hình thành nhưng mức độ lan tỏa tới khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thấp. Để đổi mới sáng tạo trở thành động lực bền vững cho tăng trưởng, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường năng lực quản trị đổi mới trong doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy hợp tác giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu, nhà trường. Khi môi trường thể chế, hạ tầng và cơ chế tài chính được đồng bộ hóa, doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để chuyển từ đổi mới thích ứng sang đổi mới chủ động, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế tri thức và xây dựng Thủ đô sáng tạo, hiện đại.

Chú thích:
1, 2, 4, 5, 8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam và Doanh nghiệp Hà Nội 2021 – 2024.
3. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Niên giám Thống kê Hà Nội (2018 – 2024). Số liệu thống kê kinh tế – xã hội.
6, 10, 12. Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội (2024). Báo cáo tổng kết công tác KH&CN Hà Nội các năm 2018 – 2024.
7, 9, 11. Bộ Khoa học và Công nghệ (2019). Sách trắng Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2019 – 2024.
13. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2024). Kế hoạch số 60/KH-UBND ngày 15/02/2024 triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.
3. Nghị quyết của bộ Chính trị về chủ động tham gia cách mạng công nghiệp lần thứ tư. https://baochinhphu.vn/nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-chu-dong-tham-gia-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-102261948.htm, ngày 29/9/2019.