Kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo phong trào cách mạng 1930 – 1931

TS. Vũ Thị Duyên
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(Quanlynhanuoc.vn) – Cao trào cách mạng 1930 – 1931, đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh, là cuộc vận động cách mạng đầu tiên của quần chúng công – nông dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam. Xô viết Nghệ – Tĩnh trở thành biểu tượng tiêu biểu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và được xem như “cuộc tổng diễn tập” chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945. Từ thực tiễn đó, Đảng đã rút ra nhiều bài học sâu sắc về mục tiêu cách mạng, phương pháp đấu tranh, xây dựng lực lượng và công tác xây dựng Đảng. Những kinh nghiệm quý báu đó vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần định hướng cho nhiệm vụ lãnh đạo và xây dựng Đảng trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam; phong trào cách mạng 1930 1931; Xô viết Nghệ – Tĩnh; kinh nghiệm lãnh đạo; liên minh công – nông.

1. Đặt vấn đề

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Chỉ trong thời gian ngắn sau khi thành lập, Đảng ta đã chứng minh năng lực lãnh đạo thực tiễn bằng việc phát động và tổ chức phong trào cách mạng 1930 – 1931 trên phạm vi cả nước – một phong trào quần chúng rộng lớn, có tổ chức, có mục tiêu chính trị rõ ràng, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của giai cấp công nhân Việt Nam trong buổi đầu cầm quyền.Nghiên cứu kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong phong trào cách mạng 1930 – 1931 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một mặt, giúp nhận diện rõ hơn quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện đường lối cách mạng của Đảng trong buổi đầu thành lập; mặt khác, là cơ sở lý luận – thực tiễn quý báu để vận dụng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền trong bối cảnh mới.

2. Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng 19301931

Phong trào cách mạng 1930 – 1931 diễn ra trong bối cảnh thế giới và trong nước đầy biến động. Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 làm rung chuyển toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa, kéo theo làn sóng thất nghiệp, nghèo đói, bần cùng hóa giai cấp lao động. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 tác động sâu sắc đến xã hội Việt Nam. Chính quyền thực dân thi hành các chính sách thuế khóa hà khắc, bóc lột tàn bạo để bù đắp thiệt hại từ chính quốc. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp, giữa nông dân và địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt, làm bùng nổ phong trào đấu tranh cách mạng trên cả nước. Dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam và ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào cách mạng của quần chúng công – nông bùng nổ mạnh mẽ, trở thành “cuộc tổng diễn tập đầu tiên” của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào 1930 – 1931 nhanh chóng lan rộng trên phạm vi cả nước với nhiều hình thức đấu tranh đa dạng: đình công, bãi thị, biểu tình, mít tinh. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền cao su Phú Riềng (tháng 02/1930) do chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng lãnh đạo. Tiếp nối là cuộc bãi công của công nhân Nhà máy sợi Nam Định (từ ngày 25/3 – 16/4/1930) dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Nam Định và Đảng bộ Nhà máy lãnh đạo, đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống bọn đốc công, giám thị tàn ác. Nắm bắt kịp thời tình hình, Trung ương Đảng đã chủ trương phát động phong trào cách mạng gắn với các ngày kỷ niệm lớn của giai cấp vô sản quốc tế, như: Ngày Quốc tế Lao động (1/5), Ngày Quốc tế chống chiến tranh (1/8), Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11), nhằm tuyên truyền, cổ vũ tinh thần đấu tranh của công – nông và các tầng lớp nhân dân.

Từ tháng 9/1930, cao trào cách mạng phát triển rầm rộ, tiêu biểu ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Đây là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, hiếu học, kiên cường, lại sớm được ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin soi rọi, có tổ chức Đảng mạnh. Nông dân Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên (Nghệ An) đồng loạt nổi dậy đấu tranh, phá nhà lao, đốt huyện đường, lập chính quyền cách mạng ở cơ sở. Đến cuối năm 1930 và đầu năm 1931, chính quyền Xô viết được thành lập ở nhiều làng xã thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Đây là hình thức chính quyền công – nông đầu tiên ở Việt Nam, biểu hiện sinh động của quyền làm chủ của nhân dân lao động và là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 – 1931, mở đầu thời kỳ mới trong lịch sử cách mạng nước ta. Trên cơ sở nhận thức và kinh nghiệm cách mạng còn bước đầu, các cấp bộ của “nông hội đỏ” ở Nghệ – Tĩnh đã tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách tiến bộ, thể hiện tinh thần sáng tạo của quần chúng và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ mô hình Xô viết ở Liên Xô. Ở các làng, xã Xô viết, chính quyền cách mạng đã đảm nhiệm những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân chủ.

Về chính trị, “nông hội đỏ” ban bố quyền tự do dân chủ cho Nhân dân; mọi người dân, không phân biệt giới tính, đều được tham gia công việc của làng, xã và hưởng quyền lợi bình đẳng. Các đoàn thể quần chúng được tự do hoạt động, thảo luận và góp ý kiến giải quyết các vấn đề xã hội; tuyên truyền, phổ biến tài liệu, sách báo cách mạng. Lực lượng tự vệ đỏ được thành lập, phối hợp với nhân dân bảo vệ an ninh, trấn áp phản động, duy trì trật tự, góp phần củng cố chính quyền mới.

Về kinh tế, chính quyền Xô viết thu hồi hàng nghìn mẫu ruộng công bị địa chủ, cường hào chiếm đoạt, chia lại cho nông dân; xóa bỏ các thứ thuế vô lý, như: thuế thân, thuế muối; giảm tô, giảm tức, xóa nợ cho người nghèo. Nhiều nơi còn vận động Nhân dân tăng gia sản xuất, khai mương, đắp đê chống lụt, hình thành các hình thức làm ăn tập thể như “phường cày, phường cấy, phường lợp nhà”.

Về văn hóa – xã hội, các Xô viết tích cực xóa bỏ mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, mở lớp bình dân học vụ, phát động phong trào học chữ. Không khí cách mạng sôi nổi, tinh thần đoàn kết, tương trợ, tình làng nghĩa xóm được khơi dậy mạnh mẽ, phản ánh sinh động bản chất ưu việt của chính quyền công – nông non trẻ trong buổi đầu dựng xây xã hội mới.

3. Kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong phong trào cách mạng 1930 – 1931

Một là, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn cách mạng trên cơ sở mục tiêu chiến lược lâu dài.

Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (tháng 02/1930), Đảng đã chỉ rõ: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, nêu rõ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời đề ra những nhiệm vụ cụ thể, như: “Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập; ruộng đất về tay dân cày; thực hiện tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình cho nhân dân”1.

Sau khi xác định đường lối chiến lược cho toàn bộ tiến trình cách mạng, vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi là đề ra mục tiêu cụ thể phù hợp với từng thời kỳ. Cách mạng là một quá trình lâu dài, gồm nhiều chặng đường gian khổ; chỉ khi giành được thắng lợi từng bước, cách mạng mới có thể tiến tới thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy, việc xác định đúng mục tiêu cụ thể của chặng đường trước mắt và tổ chức lãnh đạo quần chúng kiên quyết đấu tranh cho mục tiêu đó là yêu cầu tất yếu của một Đảng Mác – Lênin chân chính. Nếu không nắm vững nguyên tắc này, cách mạng sẽ gặp trở ngại lớn, thậm chí có thể phải trả giá bằng việc làm lại từ đầu để khắc phục sai lầm do xa rời thực tiễn.

Từ năm 1930 – 1931, điều kiện chủ quan và khách quan ở Việt Nam chưa chín muồi cho cuộc đấu tranh giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Trước tình hình đó, Đảng xác định nhiệm vụ trung tâm là đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, coi đó là bước đi cần thiết để tập hợp, rèn luyện lực lượng cách mạng. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Lấy những sự nhu yếu hằng ngày làm bước đầu mà dắt vô sản giai cấp và dân cày ra chiến trường cách mạng”2. Với phương hướng đúng đắn ấy, phong trào cách mạng 1930 – 1931 đã bùng nổ mạnh mẽ, đỉnh cao là Xô viết Nghệ – Tĩnh, biểu hiện sinh động của sức mạnh quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khi phong trào phát triển đến đỉnh điểm và bị khủng bố khốc liệt, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời uốn nắn nhận thức, xác định rõ nhiệm vụ trước mắt là giữ vững phong trào, bảo vệ lực lượng và tiếp tục chuẩn bị cho giai đoạn cách mạng mới.

Từ thực tiễn đó, Đảng rút ra kinh nghiệm sâu sắc: trong mỗi thời kỳ, phải căn cứ vào tình hình cụ thể để xác định mục tiêu và nhiệm vụ phù hợp, bảo đảm mối quan hệ biện chứng giữa chiến lược và sách lược, giữa mục tiêu lâu dài và trước mắt. Đảng ta khẳng định: “Ở mỗi thời kỳ nhất định, biết đề ra mục tiêu cụ thể sát hợp nhất, biết dựa theo quy luật khách quan mà điều khiển cuộc đấu tranh để thực hiện mục tiêu đó với thắng lợi tối đa, mở đường cho cách mạng tiến lên những bước mới cao hơn và tạo tiền đề chắc chắn cho thắng lợi cuối cùng”3.

Hai là, khi chưa có tình thế ch mạng trực tiếp, cần có hình thức và phương pháp cách mạng phù hợp tình hình thực tiễn.

Để tổ chức và lãnh đạo một phong trào cách mạng đạt hiệu quả, Đảng phải lựa chọn hình thức và phương pháp đấu tranh thích hợp nhằm biến đường lối, chủ trương thành hiện thực sinh động trong đời sống quần chúng. Thực tiễn phong trào cách mạng 1930 – 1931 đã chứng minh rõ: việc phân biệt đúng đắn giữa hai hình thức và phương pháp đấu tranh – khi chưa có và khi đã có tình thế cách mạng – là yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền.Khi chưa xuất hiện tình thế cách mạng, phương pháp phù hợp nhất là vận động, tổ chức quần chúng đấu tranh đòi những quyền lợi thiết thực về dân sinh, dân chủ, tùy theo hoàn cảnh cụ thể mà nêu ra những khẩu hiệu “phần ít”, như: tăng lương, giảm giờ làm, giảm thuế, chống sưu thuế nặng nề, đòi tự do hội họp, tự do ngôn luận. Trong giai đoạn này, Đảng chủ trương tập hợp lực lượng, bồi dưỡng đội ngũ cách mạng, từng bước chuẩn bị điều kiện để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Trong khi xây dựng lực lượng, Đảng không chủ trương thủ tiêu đấu tranh mà coi đấu tranh là quá trình rèn luyện và tập dượt quần chúng, vừa đấu tranh vừa tổ chức, vừa củng cố lực lượng, đó là phương pháp cách mạng mang tính biện chứng, đúng quy luật phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam.

Nếu trong điều kiện chưa chín muồi mà sử dụng hình thức đấu tranh quá cao như khởi nghĩa vũ trang, sẽ phạm sai lầm “tả khuynh”, bộc lộ sớm lực lượng để địch đàn áp. Ngược lại, nếu chỉ chú trọng tổ chức một cách hình thức, máy móc, không gắn với đấu tranh thực tiễn thì sẽ không thể rèn luyện, giáo dục được quần chúng cách mạng. Vì vậy, Đảng ta nhấn mạnh nguyên tắc: quá trình tổ chức là quá trình đấu tranh, giữa đấu tranh và xây dựng tổ chức là mối quan hệ thống nhất biện chứng, không thể tách rời.

Thực tiễn phong trào cách mạng 1930 – 1931 cho thấy, Đảng đã vận dụng đúng đắn nguyên tắc đó. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Đảng đã tập trung chuẩn bị đội quân chính trị của quần chúng, coi đây là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời là điều kiện để hình thành lực lượng vũ trang và thế trận cách mạng trong tương lai. Nhờ vậy, phong trào 1930 – 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ – Tĩnh đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối cách mạng từng bước, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử Việt Nam.

Ba là, xây dựng khối liên minh công – nông vững chắc làm nòng cốt cho lực lượng cách mạng của quần chúng.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, liên minh công – nông là nguyên tắc cơ bản và có ý nghĩa chiến lược của cách mạng vô sản. Đó là điều kiện bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và là cơ sở tập hợp, tổ chức, phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân lao động vào phong trào cách mạng. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (tháng 02/1930) khẳng định: “Công – nông là gốc cách mạng”, xác định giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng chủ yếu, nòng cốt của cách mạng Việt Nam.Thực tiễn phong trào cách mạng 1930 – 1931 đã cụ thể hóa nội dung Cương lĩnh đó. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, giai cấp công nhân – tuy còn ít về số lượng nhưng là lực lượng tiên phong, triệt để cách mạng nhất, đã liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân, lực lượng đông đảo chiếm gần 90% dân số cả nước. Hai giai cấp này đã kề vai sát cánh trong các phong trào đấu tranh chống đế quốc và phong kiến, tiêu biểu là các cuộc bãi công của công nhân Vinh – Bến Thủy và phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh, tạo nên một cao trào cách mạng sâu rộng trên phạm vi toàn quốc. Sự phối hợp đó chứng minh tính tất yếu, đúng đắn và sức sống của liên minh công – nông trong điều kiện Việt Nam – một nước thuộc địa nửa phong kiến.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 1930 – 1931, do Đảng mới thành lập, chưa có đủ thời gian và thực tiễn để nhận thức đầy đủ về Mặt trận thống nhất dân tộc chống đế quốc, nên phạm vi liên minh còn bó hẹp chủ yếu trong công – nông. Đảng đã chủ trương thành lập Hội Phản đế đồng minh, nhưng do trình độ nhận thức của đảng viên và quần chúng còn hạn chế, nên việc triển khai chủ trương chưa đạt hiệu quả mong muốn. Thực tiễn đó cho thấy: bên cạnh việc củng cố liên minh công – nông, cần mở rộng khối đoàn kết với các giai cấp, tầng lớp khác có khả năng tham gia chống đế quốc, phong kiến – nhằm hình thành mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tạo thêm sức mạnh tổng hợp cho cách mạng.

Phong trào cách mạng 1930 – 1931 không chỉ khẳng định vai trò nòng cốt của khối liên minh công – nông trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà còn để lại những bài học kinh nghiệm quý báu về phương pháp vận động, tổ chức quần chúng, về cách kết hợp giữa đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị. Đảng đã đưa “từ những quyền lợi hằng ngày mà giác ngộ quần chúng về chính trị”, nâng cao trình độ cách mạng của công – nông, từng bước giúp họ từ đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ tiến lên đấu tranh giành chính quyền. Cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ luôn gắn bó với Nhân dân, “vừa hòa mình trong phong trào quần chúng, vừa giáo dục, lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng”4. Thực tiễn đó khẳng định việc xây dựng và củng cố khối liên minh công – nông không chỉ là vấn đề chiến lược lâu dài mà còn là yêu cầu trực tiếp của phương pháp cách mạng. Bước vào thời kỳ mới, Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển nguyên tắc đó, mở rộng liên minh công – nông – trí thức làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Trong điều kiện hoạt động bí mật, trước sự khủng bố trắng vô cùng tàn bạo của kẻ thù, Đảng ta vẫn giữ vững lập trường giai cấp công nhân, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, đồng thời đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và xây dựng các tổ chức đảng ngày càng vững mạnh. Xuất phát từ nguyên lý của V.I. Lênin về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, Đảng ta luôn gắn việc phát triển tổ chức với củng cố, rèn luyện về chính trị, tư tưởng và tổ chức, coi đó là điều kiện quyết định để giữ vững lập trường giai cấp công nhân.

Từ thực tiễn Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm biện chứng của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.Trong phong trào cách mạng 1930 – 1931, Đảng ta sớm rút ra kinh nghiệm quý báu về công tác xây dựng Đảng: phải giữ vững nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin; đường lối chính trị phải xuất phát từ lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân; tư tưởng phải thấm nhuần tinh thần vô sản, kiên quyết đấu tranh chống ảnh hưởng của tư tưởng tư sản và tiểu tư sản. Về tổ chức, Đảng kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chú trọng xây dựng chi bộ trong nhà máy và nông thôn, lựa chọn đảng viên từ những công nhân tiên tiến, đồng thời thu hút những nông dân và trí thức yêu nước tiêu biểu vào hàng ngũ của Đảng. Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 3/1931) khẳng định: “Tuy Đảng chỉ huy cho nông dân, cho hết thảy quần chúng lao khổ làm cách mạng tư sản dân quyền, nhưng Đảng vẫn là đảng của vô sản giai cấp, nghĩa là đứng về lợi ích cách mạng vô sản mà chỉ huy, lấy chính sách vô sản mà chỉ huy”5.

Kinh nghiệm đó chứng minh rằng, giữ vững bản chất giai cấp công nhân là điều kiện tiên quyết để Đảng đủ bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo cách mạng. Ngày nay, trong điều kiện mới, Đảng tiếp tục coi trọng công tác xây dựng, phát triển Đảng gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, kiên quyết chống chủ nghĩa cơ hội, bảo đảm cho Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.

Năm, giữ vững quan điểm và thái độ đúng đắn kịp thời đề ra chủ trương, biện pháp thích hợp đưa cách mạng vượt qua khó khăn.

Phong trào cách mạng 1930 – 1931 phát triển tới đỉnh cao với việc thiết lập chính quyền Xô viết ở Nghệ – Tĩnh, trong khi trên phạm vi cả nước chưa có tình thế cách mạng chín muồi để giành chính quyền. Do đó, phong trào không tránh khỏi những tổn thất và bị kẻ thù khủng bố tàn bạo. Tuy nhiên, Đảng ta đã thể hiện thái độ đúng đắn, kịp thời lãnh đạo và định hướng phong trào theo đúng chủ trương cách mạng, vừa biểu dương tinh thần đấu tranh anh dũng, khí thế cách mạng tiến công của công – nông Nghệ – Tĩnh, vừa chỉ đạo chuyển hướng hoạt động vào bí mật, rút ra những kinh nghiệm quý báu cho chặng đường tiếp theo. Thái độ của Đảng ta đối với Xô viết Nghệ – Tĩnh thể hiện rõ bản lĩnh chính trị và tính khoa học trong lãnh đạo, phù hợp với quan điểm của C. Mác và V.I. Lênin về những cuộc khởi nghĩa chưa đủ điều kiện thắng lợi. C. Mác từng khuyên công nhân Pháp không nên bạo động non, song khi Công xã Pari (1871) nổ ra, ông ca ngợi đó là “chiến công anh hùng của giai cấp công nhân”, là “sáng kiến lịch sử” vĩ đại. Tiếp thu tinh thần đó, V.I. Lênin khi tổng kết Cách mạng Nga năm 1905 cũng chỉ rõ: điều quan trọng không phải là tính toán chính xác thời cơ, giữ vững khí thế cách mạng của quần chúng, rút ra bài học để chuẩn bị cho thắng lợi mới.

Từ thực tiễn ấy, thái độ kiên định và xử lý linh hoạt của Đảng ta đối với phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực lãnh đạo khoa học và tinh thần của chủ nghĩa Mác chân chính của Đảng ngay từ buổi đầu lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

4. Giá trị của các kinh nghiệm với công tác lãnh đạo của Đảng hiện nay

Thứ nhất, bài học về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn là nguyên tắc hàng đầu để bảo đảm định hướng phát triển. Việc kiên định mục tiêu không đồng nghĩa với bảo thủ, mà phải được thể hiện ở khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo các quan điểm, chủ trương phù hợp với tình hình mới. Đây là nền tảng để củng cố niềm tin của nhân dân và giữ vững ổn định chính trị.

Thứ hai, bài học về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực cán bộ.

Một trong những thành công quan trọng của Đảng năm 1930 là sự thống nhất các tổ chức cộng sản và xây dựng hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở. Bài học này có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng đang đẩy mạnh công tác xây dựng và chỉnh đốn nhằm ngăn chặn suy thoái, củng cố kỷ luật, kỷ cương và nâng cao năng lực lãnh đạo. Bài học về chú trọng công tác cán bộ, coi cán bộ là “cái gốc của mọi công việc”, giữ nguyên giá trị. Đội ngũ cán bộ cần được rèn luyện về phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất nước.

Thứ ba, bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết và vai trò của Nhân dân.

Phong trào 1930 – 1931 chỉ có thể phát triển thành cao trào rộng lớn nhờ sự tham gia mạnh mẽ của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động. Điều này nhắc lại bài học cốt lõi: cách mạng là sự nghiệp của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Hiện nay, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, phải tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy vai trò giám sát, phản biện của nhân dân; tăng cường dân chủ cơ sở và lắng nghe ý kiến của người dân. Sức mạnh Nhân dân luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ tư, bài học về đổi mới phương thức lãnh đạo, gắn lý luận với thực tiễn.

Từ thực tiễn phong trào, Đảng đã chứng minh năng lực nắm bắt tình hình, điều chỉnh phương thức lãnh đạo và đề ra chủ trương phù hợp. Trong bối cảnh hiện nay, đổi mới phương thức lãnh đạo là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Cần tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, cải tiến quy trình làm việc, nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc gắn lý luận với thực tiễn phải được coi trọng để bảo đảm rằng mọi quyết sách đều xuất phát từ nhu cầu cuộc sống và khả thi trong thực hiện.

Thứ năm, bài học về xây dựng chính quyền gần dân, vì dân.

Mô hình Xô viết Nghệ – Tĩnh đã cho thấy tinh thần “dân làm chủ” thông qua việc hình thành các ủy ban tự quản. Tiếp tục định hướng cho yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay: chính quyền phải gần dân, hiểu dân và phục vụ nhân dân. Điều này đòi hỏi cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính; nâng cao đạo đức công vụ; phát huy vai trò giám sát của Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc; bảo đảm mọi chính sách đều hướng tới nâng cao đời sống, quyền lợi chính đáng của người dân.

5. Kết luận

Phong trào 1930 -1931 đã mở ra thời kỳ mới trong lịch sử Việt Nam – thời kỳ cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phong trào khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam, chứng minh sức mạnh to lớn của liên minh công – nông và bạo lực cách mạng quần chúng. Đó cũng là cuộc tổng diễn tập đầu tiên chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi.Phong trào cách mạng 1930 -1931 là trang sử vẻ vang, đánh dấu bước trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam và phong trào cách mạng Việt Nam.

Những bài học kinh nghiệm mà Đảng rút ra từ phong trào này – từ việc xác định mục tiêu chiến lược, phương pháp đấu tranh, xây dựng lực lượng cách mạng đến công tác xây dựng Đảng đã trở thành di sản quý báu, soi sáng cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt thế kỷ XX và cả hiện tại.

Trong bối cảnh mới, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm quý báu đó trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu cấp thiết, từ đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 3 – 5, 68.
2, 4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 3. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 9, 12.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 24 – 25.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 3 – 5, 68.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2019). Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đảng viên mới. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021). Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Tập 1 (1920 – 1945). H. NXB Lý luận chính trị.
3. Nguyễn Trọng Phúc (chủ biên) (2015). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.