Ý định khởi nghiệp của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh và hàm ý quản trị nhằm gia tăng ý định khởi nghiệp số

ThS. Nguyễn Viết Xuân Sang
NCS Trường Đại học Công thương TP. Hồ Chí Minh
TS. Ngô Văn Thạo
Trường Đại học Công thương TP. Hồ Chí Minh
PGS.TS. Nguyễn Văn Chiến
Trường Đại học Thủ Dầu Một

(Quanlynhanuoc.vn) – Nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh, được thực hiện đối với sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một, qua đó đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số. Dữ liệu được thu thập từ 177 sinh viên thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau thông qua bảng hỏi có cấu trúc, sau đó được xử lý bằng phần mềm SPSS 26. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 5 yếu tố có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến ý định khởi nghiệp số, bao gồm: nhận thức kiểm soát hành vi, môi trường giáo dục, quy chuẩn chủ quan, đặc điểm tính cách và thái độ đối với hành vi khởi nghiệp. Trong đó, nhận thức kiểm soát hành vi và môi trường giáo dục có mức độ tác động mạnh nhất.

Từ khóa: Ý định khởi nghiệp số, sinh viên, môi trường giáo dục, nhận thức kiểm soát hành vi, thanh niên, TP. Hồ Chí Minh.

1. Đặt vấn đề

Động lực thúc đẩy khởi nghiệp ngày càng được chú trọng như một giải pháp then chốt để tạo việc làm cho thanh niên và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tại Việt Nam, thanh niên với vai trò là chủ thể nòng cốt kiến tạo ý tưởng và hiện thực hóa dự án khởi nghiệp, đang nhận được sự quan tâm đặc biệt thông qua Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”. Với sự phát triển không ngừng của xu hướng kinh doanh trực tuyến, thực tế cho thấy nhận thức và mức độ quan tâm của sinh viên đối với khởi nghiệp số còn nhiều hạn chế.

Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế năng động với nhiều trường đại học đào tạo các ngành có tiềm năng khởi nghiệp cao. Sự thiếu hụt các nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp số của thanh niên, đặc biệt là sinh viên tại địa phương đặt ra yêu cầu cấp thiết về một nghiên cứu có tính hệ thống và thực tiễn. Do đó, nghiên cứu tập trung xác định và đo lường các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp và một số hàm ý quản trị nhằm gia tăng ý định khởi nghiệp số của sinh viên tại Trường Đại học Thủ Dầu Một, cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách hỗ trợ và giải pháp thúc đẩy ý định khởi nghiệp số trong cộng đồng sinh viên.

2. Tổng quan nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu

Thứ nhất, giáo dục khởi nghiệp là các nội dung được cung cấp cho đối tượng về kiến thức và kỹ năng cần có để bắt đầu khởi nghiệp từ các yếu tố môi trường, các yếu tố này dù là thể chế chính thức hay không chính thức nhưng khi thay đổi sẽ tác động lên nhận thức hoặc hành vi của đối tượng thuộc thể chế1. Những sinh viên đã học về tinh thần khởi nghiệp đa phần sẽ quan tâm đến việc trở thành doanh nhân và đã hành động kinh doanh hơn các sinh viên khác để bắt đầu một doanh nghiệp mới. Các nghiên cứu của Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017)2, Võ Văn Hiền và Lê Hoàng Vân Trang (2020)3, Nguyễn Văn Định và các cộng sự (2021)4, Phạm Đức Hiển và các cộng sự (2022)5, Vũ Gia Quỳnh Ngân và Nguyễn Thị Bưởi (2024)6 đã chỉ ra rằng, giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp có tác động và có mối quan hệ cùng chiều với nhau. Từ đó, có giả thuyết: giáo dục khởi nghiệp có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (MTGD).

Thứ hai, đặc tiểm tính cách là những yếu tố nội tại như sự tự tin, sáng tạo, khả năng chấp nhận rủi ro và các động lực cá nhân, ảnh hưởng đến việc một người có ý định khởi nghiệp. Các nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng, đặc điểm tính cách và ý định khởi nghiệp có tác động và có mối quan hệ cùng chiều với nhau. Với những lập luận trên, nghiên cứu đưa ra giả thuyết: đặc điểm tính cách có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (ĐĐTC).

Thứ ba, thái độ đối với hành vi khởi nghiệp phản ánh cảm nhận của cá nhân về việc khởi nghiệp có tích cực hay tiêu cực7 (Thuyết TPB Aizen, 1991). Cùng các nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng, thái độ đối với hành vi khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp có tác động và có mối quan hệ cùng chiều với nhau. Dựa vào những thông tin trên, nghiên cứu đặt ra giả thuyết: thái độ đối với hành vi khởi nghiệp có tác động mạnh mẽ đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (TĐĐVHV).

Thứ tư, nhận thức kiểm soát hành vi là niềm tin của cá nhân về khả năng của mình trong việc điều khiển và kiểm soát để mô hình khởi nghiệp thành công (Thuyết SEE – Shapero và Sokol, 1982)8, (Thuyết TBP – Aizen, 1991)9, (Thuyết EEM – Krueger, 2000)10. Cũng từ các nghiên cứu đã nêu thì nhận thức kiểm soát hành vi và ý định khởi nghiệp có tác động và có mối quan hệ cùng chiều với nhau. Từ đó, nghiên cứu đưa ra giả thuyết: nhận thức kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (NTKSHV).

Thứ năm, quy chuẩn chủ quan là áp lực từ xã hội hoặc những người xung quanh (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) mà cá nhân cảm nhận nếu thực hiện hành vi khởi nghiệp (Thuyết TPB – Aizen, 1991)11. Nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng, quy chuẩn chủ quan và ý định khởi nghiệp có tác động và có mối quan hệ cùng chiều với nhau. Dựa vào thông tin trên, nghiên cứu đưa ra giả thuyết: quy chuẩn chủ quan có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (QCCQ, YĐKN).

3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Trường Đại học Thủ Dầu Một. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát, nghiên cứu chỉ ra được 5 yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp theo thứ tự giảm dần: nhận thức kiểm soát hành vi, môi trường giáo dục, quy chuẩn chủ quan, đặc điểm tính cách và thái độ đối với hành vi. Nghiên cứu bổ sung bằng chứng khoa học cho mô hình lý thuyết về ý định khởi nghiệp và cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng chính sách hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp, đồng thời đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi nhằm khảo sát tác động của 5 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc là ý định khởi nghiệp qua 24 câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5, trong đó 19 câu nhằm khảo sát 5 biến phụ thuộc và 5 câu nhằm khảo sát biến độc lập. Đối tượng khảo sát là 177 sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một (tháng 7/2025). Dữ liệu được thu thập, sau đó được làm sạch bằng công cụ Filter của phần mềm Excel. Tiếp đó, nhập liệu vào SPSS 26, thực hiện lần lượt các bước thống kê mô tả, Cronbach’s alpha, EFA, tương quan và hồi quy.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Thống kê mô tả

Kết quả thống kê trung bình cho thấy sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một có nhận thức và thái độ về khởi nghiệp ở mức trung bình.

Bảng 1. Thống kê trung bình đánh giá các biến quan sát

Tên biếnGiá trị trung bình
MTGD12.95
MTGD22.89
MTGD32.98
MTGD42.92
ĐĐTC12.88
ĐĐTC23.01
ĐĐTC32.89
TĐĐVHV12.94
TĐĐVHV22.90
TĐĐVHV32.95
TĐĐVHV42.94
TĐĐVHV53.02
NTKSHV12.98
NTKSHV22.98
NTKSHV32.97
NTKSHV43.00
QCCQ12.73
QCCQ22.84
QCCQ32.99
YĐKN12.76
YĐKN22.72
YĐKN32.73
YĐKN42.74
YĐKN52.82
Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 7/2025

Cụ thể, môi trường giáo dục được đánh giá ở mức trung bình (dao động từ 2.89 – 2.98), cho thấy sinh viên cảm nhận việc cung cấp kiến thức, kỹ năng và khuyến khích phát triển ý tưởng khởi nghiệp từ trường là ở mức bình thường. Các đặc điểm tính cách, như: khao khát địa vị, chấp nhận rủi ro và sự cố gắng cũng được đánh giá ở mức trung bình (2.88 – 3.01). Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp (2.90 – 3.02) cho thấy sinh viên có hứng thú, thích kinh doanh và hài lòng với việc trở thành doanh nhân ở mức bình thường. Nhận thức kiểm soát hành vi (2.97 – 3.00) phản ánh sinh viên cảm thấy khả năng kiểm soát hoạt động kinh doanh, hiểu biết để khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp ở mức bình thường. Quy chuẩn chủ quan (2.73 – 2.99) cho thấy sinh viên cảm nhận sự ủng hộ từ gia đình, bạn bè và những người quan trọng ở mức bình thường. Cuối cùng, ý định khởi nghiệp (2.72 – 2.82) cũng được đánh giá ở mức trung bình, cho thấy mục tiêu, nỗ lực và sàng lọc ý tưởng kinh doanh của sinh viên ở mức bình thường.

Tóm lại, sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một có nhận thức và thái độ về khởi nghiệp ở mức trung bình. Môi trường giáo dục tại trường cung cấp kiến thức và kỹ năng cần thiết nhưng chưa thực sự nổi bật trong việc khuyến khích khởi nghiệp. Về đặc điểm tính cách, sinh viên có mức độ tham vọng và chấp nhận rủi ro vừa phải. Đối tượng cũng có thái độ trung bình đối với việc trở thành doanh nhân và nhận thức về khả năng kiểm soát quá trình khởi nghiệp chưa thực sự mạnh mẽ. Sự ủng hộ từ gia đình, bạn bè và những người quan trọng ở mức bình thường, cùng với ý định khởi nghiệp của sinh viên cũng chưa thực sự rõ ràng hay quyết liệt.

4.2. Đánh giá độ tin cậy

Bảng 2: Đánh giá độ tin cậy thang đo môi trường giáo dục

Biến quan sátTương quan biến tổngCronbach’s Alpha nếu loại biến
Cronbach’s Alpha: 0.852
MTGD10.7170.802
MTGD20.6790.818
MTGD30.6800.817
MTGD40.6950.811
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 7/2025)

Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo đặc điểm tính cách có hệ số Cronbach’s Alpha = 0.805 lớn hơn 0.6, các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 và không có trường hợp nào loại biến quan sát làm tăng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết luận dựa vào đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, thang đo đặc điểm tính cách đạt độ tin cậy và được chấp nhận trong phân tích tiếp theo.

Bảng 3: Đánh giá độ tin cậy thang đo đặc điểm tính cách

Biến quan sátTương quan biến tổngCronbach’s Alpha nếu loại biến
Cronbach’s Alpha: 0.805
ĐĐTC10.6160.772
ĐĐTC20.6550.731
ĐĐTC30.6870.697
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 7/2025)

Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo thái độ đối với hành vi khởi nghiệp có hệ số Cronbach’s Alpha = 0.868 lớn hơn 0.6; các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 và không có trường hợp nào loại biến quan sát làm tăng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết luận dựa vào đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, thang đo thái độ đối với hành vi khởi nghiệp đạt độ tin cậy và được chấp nhận trong phân tích tiếp theo.

Bảng 4. Đánh giá độ tin cậy thang đo thái độ đối với hành vi

Biến quan sátTương quan biến tổngCronbach’s Alpha nếu loại biến
Cronbach’s Alpha: 0.868
TĐĐVHV10.7200.833
TĐĐVHV20.6580.849
TĐĐVHV30.6980.839
TĐĐVHV40.6700.846
TĐĐVHV50.7110.836
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 7/2025)

Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo nhận thức kiểm soát hành vi khởi nghiệp có hệ số Cronbach’s Alpha = 0.836 lớn hơn 0.6; các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 và không có trường hợp nào loại biến quan sát làm tăng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết luận dựa vào đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, thang đo nhận thức kiểm soát hành vi khởi nghiệp đạt độ tin cậy và được chấp nhận trong phân tích tiếp theo.

Bảng 5: Đánh giá độ tin cậy thang đo nhận thức kiểm soát hành vi

Biến quan sátTương quan biến tổngCronbach’s Alpha nếu loại biến
Cronbach’s Alpha: 0.836
NTKSHV10.7050.775
NTKSHV20.6720.790
NTKSHV30.6640.794
NTKSHV40.6260.810
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 7/2025)

Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo quy chuẩn chủ quan có hệ số Cronbach’s Alpha = 0.707 lớn hơn 0.6; các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 và không có trường hợp nào loại biến quan sát làm tăng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết luận dựa vào đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, thang đo quy chuẩn chủ quan đạt độ tin cậy và được chấp nhận trong phân tích tiếp theo.

Bảng 6: Đánh giá độ tin cậy thang đo quy chuẩn chủ quan

Biến quan sátTương quan biến tổngCronbach’s Alpha nếu loại biến
Cronbach’s Alpha: 0.707
QCCQ10.5890.706
QCCQ20.5570.745
QCCQ30.6690.617
Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 7/2025

Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo ý định khởi nghiệp có hệ số Cronbach’s Alpha = 0.793 lớn hơn 0.6; các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 và không có trường hợp nào loại biến quan sát làm tăng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết luận dựa vào đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, thang đo quy chuẩn chủ quan ý định khởi nghiệp đạt độ tin cậy và được chấp nhận trong phân tích tiếp theo.

Bảng 7: Đánh giá độ tin cậy thang đo ý định khởi nghiệp

Biến quan sátTương quan biến tổngCronbach’s Alpha nếu loại biến
Cronbach’s Alpha: 0.793
YĐKN10.5220.771
YĐKN20.6580.724
YĐKN30.5510.761
YĐKN40.5860.749
YĐKN50.5510.761
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 7/2025)

4.3. Kiểm định giả thuyết (Phân tích hồi quy)

Bảng 8: Thống kê phân tích các hệ số hồi quy

Model Chưa chuẩn hóaĐã chuẩn hóatSig.Thống kê đa cộng tuyến
  BSai số chuẩnBeta  Dung saiVIF
1(Hằng số)0.0940.087 1.0770.283  
 MTGD0.1820.0270.2506.6570.0000.6061.651
 ĐĐTC0.1690.0280.2296.0530.0000.5941.683
 TĐĐVHV0.1520.0290.2005.1720.0000.5691.759
 NTKSHV0.2130.0290.2797.3340.0000.5901.696
 QCCQ0.1930.0310.2356.3280.0000.6191.615
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 7/2025)

Dựa vào kết quả thống kê đa cộng tuyến, chỉ số VIF của các biến độc lập đều nhỏ hơn 2. Kết luận, không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập với nhau.

Từ bảng thống kê phân tích các hệ số hồi quy, tìm thấy 6 biến độc lập QCCQ, NTKSHV, ĐĐTC, MTGD, TĐĐVHV có tác động cùng chiều với biến phụ thuộc YDKN vì hệ số hồi quy chuẩn hóa (B) các biến này đều dương và có thống kê ý nghĩa (Sig. < 0,05). So sánh mức độ tác động của 6 biến này với biến phụ thuộc ý định khởi nghiệp theo thứ tự giảm dần ta thấy biến nhận thức kiểm soát hành vi (NTKSHV) có tác động mạnh nhất ( β = 0,279), tiếp theo là môi trường giáo dục (MTGD) (β = 0,250), quy chuẩn chủ quan (QCCQ) (β = 0,239), đặc điểm tính cách (ĐĐTC) (β = 0,229), tác động ít nhất là thái độ đối với hành vi khởi nghiệp (TĐĐVHV) (β = 0,152). Như vậy, các giả thuyết đều được chấp nhận ở mức độ tin cậy 95%.

4.4. Thảo luận

Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng ý định khởi nghiệp của thanh niên tại TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt là sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một. Mục tiêu của nghiên cứu không chỉ nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến ý định khởi nghiệp mà còn đưa ra các hàm ý quản trị có tính ứng dụng cao để thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp số trong môi trường đại học. Những phát hiện từ nghiên cứu không chỉ đóng góp vào việc hoàn thiện mô hình lý thuyết về ý định khởi nghiệp số, mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế chương trình hỗ trợ phù hợp cho sinh viên.

Kết quả phân tích cho thấy, mặc dù sinh viên đã có mức độ nhận thức và thái độ tích cực nhất định đối với khởi nghiệp, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về động lực, niềm tin vào năng lực cá nhân, cũng như mức độ ủng hộ từ các mối quan hệ xã hội. Môi trường giáo dục tuy đã trang bị các kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp cơ bản, nhưng chưa thực sự khơi gợi được tinh thần khởi nghiệp số một cách mạnh mẽ. Đặc điểm tính cách thể hiện sự tham vọng và chấp nhận rủi ro ở mức vừa phải; trong khi đó, niềm tin vào khả năng kiểm soát hành vi khởi nghiệp và sự ủng hộ xã hội vẫn chưa đủ để tạo ra sự quyết đoán trong hành động khởi nghiệp.

Thông qua phân tích hồi quy đa biến, nghiên cứu đã xác định 5 yếu tố có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến ý định khởi nghiệp số của sinh viên, theo thứ tự giảm dần: nhận thức kiểm soát hành vi, môi trường giáo dục, quy chuẩn chủ quan, đặc điểm tính cách và thái độ đối với hành vi khởi nghiệp. Trong đó, nhận thức kiểm soát hành vi là yếu tố có tác động mạnh nhất, điều này cho thấy sinh viên có xu hướng mạnh mẽ hơn trong việc khởi nghiệp số khi họ tin tưởng vào khả năng và sự làm chủ quá trình này. Môi trường giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện học tập, kết nối nguồn lực và xây dựng văn hóa khởi nghiệp, từ đó gia tăng đáng kể ý định khởi nghiệp số. Các yếu tố như quy chuẩn chủ quan, đặc điểm tính cách và thái độ cũng đóng vai trò hỗ trợ, góp phần củng cố niềm tin và khát vọng trở thành doanh nhân trong lĩnh vực số.

Từ những kết quả trên, có thể khẳng định, việc nâng cao ý định khởi nghiệp số trong sinh viên đòi hỏi sự phối hợp giữa đào tạo khởi nghiệp, tăng cường trải nghiệm thực tiễn, hỗ trợ tư vấn tâm lý, nghề nghiệp, cùng với việc tạo dựng môi trường học tập khuyến khích đổi mới, tự chủ và phát triển cá nhân. Đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy thế hệ doanh nhân số trong tương lai.

5. Một số đề xuất

Từ những đánh giá đối với sinh viên đang học tập tại Trường Đại học Thủ Dầu Một, để thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp số của thanh niên TP. Hồ Chí Minh cần có các biện pháp đồng bộ, tập trung vào nâng cao nhận thức kiểm soát hành vi, cải thiện môi trường giáo dục, tăng cường quy chuẩn chủ quan, phát triển đặc điểm tính cách và cải thiện thái độ đối với hành vi.

Một là, nâng cao nhận thức kiểm soát hành vi, trường cần cung cấp kiến thức lý thuyết vững chắc về khởi nghiệp, quản trị kinh doanh, lập kế hoạch kinh doanh, tài chính, marketing và quản lý nguồn nhân lực. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc tổ chức các khóa học, hội thảo chuyên sâu. Đồng thời, cần phát triển các chương trình hỗ trợ tài chính, tạo điều kiện thực hành qua các dự án thực tế và xây dựng mạng lưới kết nối với doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Hai là, cải thiện môi trường giáo dục, cần nâng cao chất lượng chương trình giảng dạy về khởi nghiệp bằng cách bổ sung nội dung thực tiễn như lập kế hoạch kinh doanh, nghiên cứu thị trường và quản lý rủi ro. Đồng thời, mời các doanh nhân và chuyên gia tham gia giảng dạy, tư vấn và hỗ trợ sinh viên. Bên cạnh đó, cần phát triển các chương trình cố vấn và tổ chức các cuộc thi khởi nghiệp để sinh viên có cơ hội phát triển ý tưởng và lập kế hoạch kinh doanh.

Ba là, tăng cường quy chuẩn chủ quan, cần tăng cường sự tham gia và hiểu biết của gia đình và bạn bè thông qua các buổi hội thảo, sự kiện. Ngoài ra, khuyến khích sinh viên nghiên cứu và học hỏi từ các doanh nhân thành công, đồng thời xây dựng cộng đồng hỗ trợ khởi nghiệp trong trường và tổ chức các buổi tọa đàm, vinh danh để nâng cao sự ủng hộ từ cộng đồng.

Bốn là, phát triển đặc điểm tính cách, cần tạo môi trường học tập cạnh tranh tích cực, khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động, thử thách và cuộc thi. Bên cạnh đó, cần phát triển kỹ năng quản lý rủi ro thông qua các khóa học về quản lý rủi ro và khởi nghiệp.

Năm là, cải thiện thái độ đối với hành vi, cần tổ chức các buổi kết nối sinh viên với chuyên gia và doanh nghiệp, khuyến khích tư duy phản biện và giải quyết vấn đề, đồng thời tạo cơ hội thực tập tại các doanh nghiệp.

6. Kết luận

Nghiên cứu đã làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp số của sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh là kinh tế trọng điểm phía Nam, góp phần bổ sung minh chứng thực nghiệm cho các mô hình lý thuyết về ý định khởi nghiệp số. Kết quả nghiên cứu chứng minh ý định khởi nghiệp số của sinh viên hiện chỉ ở mức trung bình và chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố, trong đó nhận thức kiểm soát hành vi và môi trường giáo dục đóng vai trò quyết định. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cá nhân, sự tự tin và khả năng làm chủ quá trình khởi nghiệp, song song với việc xây dựng môi trường giáo dục hỗ trợ, khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Chú thích:
1. North, D. C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Institutions, Institutional Change and Economic Performance (1st ed.). Cambridge: Cambridge University Press.
2. Phan, T. A., & Tran, H. Q. (2017). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 48 (2017), tr. 96-103, DOI: 10.22144/ctu.jvn.2017.634
3. Võ, V. H., & Lê, H. V. T. (2021). A study of factors affecting Tien Giang University students’ entrepreneurial intention. Ho Chi Minh City Open University Journal of Science – Economics and Business Administration, tập/số 16 (2), tr. 170-192, DOI: 10.46223/HCMCOUJS.econ.vi.16.2.578.2021
4. Nguyễn Văn Định, Lê Thị Mai Hương và Cao Thị Sen (2021). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nam Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh – kinh tế và quản trị kinh doanh, 17(2),165-181.
5. Trương Hoàng Diệp Hương, Phạm Đức Hiển, Trần Ngọc Lâm, Nguyễn Thành Thái & Nguyễn Thị Thu Hường (2022). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế thuộc địa bàn Thành phố Hà Nội. Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng (Học viện Ngân hàng), số 236+237, tháng 1 và 2/2022, tr. 116 – 127.
6. Ngân, V. G. Q., & Bưởi, N. T. (2024). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành Kinh tế Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Journal of Science and Technology, 7 (2).
7, 9, 11. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179 – 211.
8. Shapero, A., & Sokol, L. (1982). The social dimensions of entrepreneurship. In C. Kent, L. Sexton & K. Vesper (Eds.), Encyclopedia of Entrepreneurship, Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall, pp.72 – 90.
10. Krueger, N. F., Jr., Reilly, M. D., & Carsrud, A. L. (2000). Competing models of entrepreneurial intentions. Journal of Business Venturing, 15(5-6), pp.411-432, https://doi.org/10.1016/S0883-9026(98)00033-0