Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam

(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng ngày 25/2, Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị được tổ chức theo hình thức trực tiếp và kết nối trực tuyến từ điểm cầu chính tại phòng họp Diên Hồng, Nhà Quốc hội đến 27.284 điểm cầu ở Trung ương, các tỉnh, thành phố, các xã phường, đặc khu, các tổ chức Đảng trong quân đội, công an và doanh nghiệp với hơn 2 triệu đại biểu dự tại các điểm cầu.

Tham dự Hội nghị có Tổng Bí thư Tô Lâm; Chủ tịch nước Lương Cường, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (dự tại điểm cầu Tây Ninh); Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng;…

Hơn 2 triệu đại biểu tham dự Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 và 80 của Bộ Chính trị- Ảnh 1.
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 – NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80 – NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Hội nghị được tổ chức nhằm nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW, tập trung vào những điểm mới, những nội dung cốt lõi, đột phá. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động để tổ chức thực hiện; đồng thời tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong quá trình triển khai thực hiện, giúp cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung cốt lõi, những điểm mới trong 2 nghị quyết của Bộ Chính trị.

Quyết tâm xây dựng nền kinh tế phát triển và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam

Tổng Bí thư Tô Lâm – Ảnh VGP/Nhật Bắc.

Hội nghị đã nghe ý kiến phát biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm. Tổng Bí thư khẳng định, bên cạnh những nghị quyết đã ban hành trước đó, hai nghị quyết mới số 79 và 80 là sự bổ sung thêm những quyết sách lớn của Đảng, được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và phát triển tư duy lý luận trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhằm đồng thời giải quyết hai yêu cầu có tính nền tảng là tăng cường “nội lực vật chất” và củng cố “nội lực tinh thần”. Khẳng định quyết tâm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, năng động, hiệu quả gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

Nội dung trọng tâm, cốt lõi của “Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam” do đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương truyền đạt.

Theo đồng chí Trịnh Văn Quyết, các văn kiện trước đây của Đảng về văn hóa thường xác định phương hướng, mục tiêu khái quát, mục tiêu cụ thể, song chủ yếu dừng lại ở định hướng chung. Lần này, Nghị quyết 80 vừa khẳng định mục tiêu chung cho từng lĩnh vực, vừa chỉ ra một số chỉ tiêu cụ thể cần phải đạt tới, gắn yêu cầu cao về chất lượng phát triển với định lượng cụ thể của một số lĩnh vực văn hóa. Đó là tư duy khoa học – thực tiễn, tránh những yêu cầu chung chung không đánh giá được kết quả trong từng giai đoạn.

Theo Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, những năm qua, chúng ta đặt ra mục tiêu đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chiếm 1,8% tổng chi ngân sách Nhà nước nhưng trên thực tế hầu như chưa đạt tới, năm cao nhất mới đạt trên 1,7%. Nghị quyết 80 khẳng định: “tối thiểu 2%” và còn định hướng tăng dần theo yêu cầu thực tiễn” là một đột phá lớn, chưa từng có đối với đầu tư cho văn hóa. Khẳng định “quyết sách đột phá mang tính chiến lược”, Nghị quyết đã gắn kết chặt chẽ, tạo thành một hệ thống giữa quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn hoá.

Nghị quyết 80 nhấn mạnh: “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hóa”. Đồng chí Trịnh Văn Quyết cho rằng, trong thực tiễn đã xuất hiện tình trạng tách rời hai yêu cầu đó, hoặc biến văn hóa thành trò giải trí đơn thuần, thậm chí số ít phủ định chức năng xây dựng con người, coi văn hóa, văn học, nghệ thuật là “sân chơi”… Biểu hiện khá phổ biến là coi văn hóa chỉ là những hoạt động nghiệp vụ cụ thể, không tập trung hướng tới mục tiêu cốt lõi, trọng tâm là xây dựng con người. Vì thế, những năm qua, văn hóa chưa đủ để tác động có hiệu quả nuôi dưỡng nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh dẫn tới có tình trạng suy thoái, biến chất, cái ác, cái giả, cái xấu… có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng, bất an và bức xúc trong xã hội.

Để xây dựng và vươn lên hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam thời kỳ mới, Nghị quyết yêu cầu triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam. Nghị quyết 80 khẳng định rõ các thành tố cụ thể của các hệ giá trị đó. Đây là bước tiến quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, vì các thành tố đó sẽ định hướng làm chuẩn mực cho toàn xã hội, cho các tập thể và cộng đồng, cho từng cá nhân rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu vươn lên, tự hoàn thiện nhân cách. Những biểu hiện lúng túng, lệch chuẩn, loạn chuẩn… sẽ được điều tiết bằng văn hóa và điều chỉnh bằng pháp luật.

Gắn liền với nhiệm vụ xây dựng con người, Nghị quyết nhiều lần nhấn mạnh xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, hiện đại. Điểm mới của Nghị quyết, yêu cầu “xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, làm trong sạch môi trường văn hóa số” – một thách thức mới, vừa cấp bách, vừa có tính lâu dài, chiến lược khi xã hội hiện đại phát triển lên trình độ cao với chuyển đổi số cực kỳ nhanh và phức tạp.

Nghị quyết yêu cầu xử lý hài hòa, biện chứng các “quan hệ nội tại của văn hóa”, đặc biệt chú trọng quan hệ đặc thù của văn hóa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển. Trong các nghị quyết về văn hóa, Đảng luôn khẳng định văn hóa vươn lên hiện đại từ truyền thống. Nghị quyết 80 nhấn mạnh tính dân tộc, nguồn gốc và bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc, đồng thời thấu hiểu quy luật, khát vọng vươn lên hiện đại, “đóng góp xứng đáng vào dòng chảy của văn minh nhân loại”.

Nghị quyết 80 có tới 10 lần dùng từ “hiện đại” khi xác định phương hướng phát triển của các lĩnh vực văn hóa như công nghiệp văn hóa, môi trường văn hóa, công trình văn hóa, văn học, nghệ thuật, các thiết chế văn hóa, không gian sáng tạo nội dung số… Đó là yêu cầu phát triển của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết cũng nhiều lần nhắc đến tính đặc thù, đột phá, vượt trội, giải phóng sức sáng tạo trong thể chế, chính sách, cơ chế phát triển văn hóa, phát huy tài năng văn hóa.

Có ba thành tố cực kỳ quan trọng để phát triển văn hóa được Nghị quyết 80 gắn kết trong một nhiệm vụ lớn, đó là phát triển hạ tầng, huy động, sử dụng các nguồn lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa.

Về nguồn lực, Nghị quyết khẳng định “đảm bảo bố trí đủ kinh phí cho các chương trình, đề án, tăng đầu tư công cho văn hóa theo hướng trọng điểm, trọng tâm và thu hút đầu tư xã hội ở mức cao nhất”.

Nghị quyết dành phần đặc biệt quan trọng trong phát triển đột phá văn hóa, đó là xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cán bộ cấp chiến lược, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động, cán bộ chủ chốt ở địa phương, xây dựng và phát triển mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước về văn hóa. 

Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiên tiến, hiện đại và tính đặc thù trong đào tạo và nghiên cứu văn hóa, văn minh Việt Nam. Đối chiếu với thực tiễn, thực trạng hiện nay, mỗi nhiệm vụ cụ thể trên thực sự là một thách thức lớn và khó, cần một tư duy đột phá và một kế hoạch dài hạn, khẩn trương, kiên quyết và kiên trì trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước do đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương truyền đạt.

Theo đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này. Theo đó, kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, ổn định vĩ mô, bảo đảm an ninh quốc phòng, như: đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập.

Nghị quyết đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo mang tính hệ thống, bao trùm và toàn diện về phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới.

(1) Đổi mới, bổ sung và cụ thể hóa nội hàm, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết đã kế thừa quan điểm các nghị quyết, kết luận trước đây về việc kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế. Đồng thời, bổ sung, cụ thể hóa nội hàm, vai trò chủ đạo trên các mặt, như: định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng an ninh, góp phần phát huy giá trị văn hóa, tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội, là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời, đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.

(2) Xác định rõ mối quan hệ cùng phát triển giữa kinh tế nhà nước và các khu vực kinh tế khác nhằm phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của từng khu vực.

(3) Nghị quyết đề ra quan điểm mới về cơ chế phân bổ, quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực kinh tế nhà nước, trong đó nhấn mạnh 2 điểm mới mang tính đột phá: Một là, các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường. Đánh giá tác động và phân tích lợi ích – chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế. Hai là, khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực, quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí các nguồn lực kinh tế nhà nước. Giải quyết tốt mối quan hệ Nhà nước, thị trường, xã hội, tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hóa dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động sản xuất kinh doanh.

(4) Nâng tầm nhiệm vụ của kinh tế nhà nước gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng. Kinh tế nhà nước phải tiên phong, kiến tạo, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.

(5) Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước, nhất là trong định hướng sử dụng nguồn lực và tổ chức thực hiện.

Nghị quyết đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ giải pháp liên quan đến 7 lĩnh vực, như: đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, kinh tế biển, vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế không gian tầm thấp, không gian ngầm, tài nguyên số và tài nguyên viễn thông. Trong đó cần quán triệt và thực hiện một số nhiệm vụ giải pháp mới và trọng tâm. Đó là, ngay trong năm 2026, hoàn thiện công tác đo đạc, thống kê, số hóa, làm sạch dữ liệu đất đai trên toàn quốc, kết nối liên thông với các hệ thống dữ liệu quốc gia khác; xây dựng, ban hành luật đất đai sửa đổi và các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong quản lý đất đai, khơi thông nguồn lực từ đất đai.

Ban hành cơ chế vượt trội và triển khai các khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để thúc đẩy phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế không gian tầm thấp, công nghiệp hàng không, vũ trụ. Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên số, tài nguyên viễn thông để quản lý, phát triển thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu và kinh tế dữ liệu, đưa tài nguyên số và dữ liệu quốc gia thực sự trở thành nguồn lực chiến lược.

Chương trình hành động, quán triệt và thực hiện Nghị quyết của Chính phủ

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình – Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình cho biết, thực hiện nhiệm vụ được giao theo Kết luận của Bộ Chính trị, Đảng ủy Chính phủ đã ban hành 2 nghị quyết về Chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW.

Theo đó, xây dựng chương trình hành động hướng tới mục tiêu: thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các chủ trương chiến lược của hai nghị quyết quan trọng này. Bố trí nguồn lực và các điều kiện bảo đảm cho thực hiện Nghị quyết. Xác định rõ nhiệm vụ phải làm, phân công cơ quan chủ trì gắn với lộ trình và sản phẩm đầu ra cụ thể, bảo đảm nghị quyết đi vào cuộc sống.

Về nhiệm vụ đã được thiết kế trong chương trình hành động của Chính phủ đối với 2 nghị quyết, tổng cộng có 230 nhiệm vụ. Trong đó, đối với Nghị quyết số 79 có 99 nhiệm vụ và Nghị quyết số 80 có 131 nhiệm vụ. Những nhiệm vụ này xoay quanh những nội dung cốt lõi, là: xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ cho thực hiện nghị quyết; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hạ tầng chiến lược; thiết kế các cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù cho 2 lĩnh vực này, đảm bảo cho các nghị quyết được thực thi; xác định nội hàm các nhiệm vụ, có phân công lộ trình cho các cơ quan, địa phương.

Về tổ chức thực hiện, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương hoàn thành ban hành Kế hoạch hành động chi tiết thực hiện các nghị quyết của Trung ương và Chương trình hành động của Chính phủ trong Quý I/2026.

Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền chịu trách nhiệm trực tiếp; ưu tiên bố trí tối đa nguồn lực tài chính và nhân sự chất lượng cao để triển khai 2 nghị quyết quan trọng này cũng như các nghị quyết khác. Giao Bộ Tài chính và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm đầu mối thường trực để thường xuyên kiểm tra tiến độ triển khai thực hiện 2 nghị quyết quan trọng này.

Trong quá trình thực thi, các cơ quan chủ động phát hiện điểm nghẽn, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để bổ sung giải pháp mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, bảo đảm thực thi hiệu quả các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ.

Thúy Vân