Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã ở tỉnh Ninh Bình hiện nay

Đới Diệu Trang Linh
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(Quanlynhanuoc.vn) – Đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với Nhân dân. Tỉnh Ninh Bình được thành lập trên cơ sở hợp nhất ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình; đồng thời, triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh, cấp xã) từ ngày 01/7/2025. Bài viết đánh giá thực trạng, ưu điểm, hạn chế của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã ở Ninh Bình hiện nay, đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ này nhằm đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới.

Từ khóa: Cán bộ, công chức; chính quyền địa phương hai cấp; chính quyền cấp xã; nâng cao chất lượng; tỉnh Ninh Bình.

1. Đặt vấn đề

Hệ thống chính quyền cấp xã nói chung và của tỉnh Ninh Bình nói riêng là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống chính trị cả nước, là nơi thể hiện một cách trực tiếp vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước cũng như phát huy quyền lảm chủ của Nhân dân trong các hoạt động kinh tế – xã hội ở cấp xã. Đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị cở sở có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với Nhân dân.

Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, cùng với yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đổi mới quản trị quốc gia ở nước ta hiện nay đã đặt ra yêu cầu mới về năng lực tích hợp và phẩm chất mới để thực thi vai trò của cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã hiện nay. Vì vậy, cần có các giải pháp xây dựng đội ngũ này một cách hệ thống, khoa học, có lộ trình cụ thể và phù hợp với đặc thù địa phương.

2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã ở tỉnh Ninh Bình

2.1. Công tác chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã ở tỉnh Ninh Bình.

Thực hiện đạo chung của Trung ương, hệ thống chính trị tại tỉnh Ninh Bình đã thực hiện nghiêm túc, triển khai có hiệu quả hệ thống văn bản chỉ đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước; đồng thời, chủ động ban hành hệ thống văn bản thực thi hiệu quả vận hành chính quyền địa phương hai cấp, trong đó nhiều văn bản quan trọng liên quan đến xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức trong chính quyền địa phương cấp xã.

Nghị quyết số 1674/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Ninh Bình năm 2025: “tỉnh Ninh Bình có 129 đơn vị hành chính cấp xã gồm 97 xã và 32 phường”1. Nghị quyết số 66/NQ-HĐND ngày 31/12/2025 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Ninh Bình về việc điều chỉnh biên chế cán bộ, công chức năm 2026: biên chế cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã là 62512.

Nghị quyết số 16/2025/NQ-HĐND ngày 30/10/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình về việc quy định chính sách hỗ trợ chi phí đi lại đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương ngân sách địa phương tại các cơ quan, đơn vị khi sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Ninh Bình đã hỗ trợ cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khi được cấp có thẩm quyền điều động, luân chuyển, biệt phái, chuyển công tác đến các xã, phường trên địa bàn tỉnh mà khoảng cách từ nơi cư trú đến trụ sở làm việc từ 25 km trở lên, thì được hỗ trợ hằng tháng bằng tiền cho mỗi  cán bộ, công chức. viên chức, người lao động 1.200.000 đ/tháng. Thời gian hỗ trợ là 8 tháng, từ ngày 01/11/2025 đến hết ngày 30/6/20263.

Công văn số 1163/BNV-CTL&BHXH ngày 04/12/2025 của Bộ Nội vụ4 về việc trả lời kiến nghị của cử tri gửi trước kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, theo đó, cử trị tại Ninh Bình kiến nghị sớm ban hành văn bản hướng dẫn chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức sau sắp xếp đơn vị hành chính. Bộ Nội vụ đã phối hợp với các cơ quan trung ương sửa đổi, bổ sung về chế độ, tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, công chức, viên chức để thực hiện trong năm 2026.

Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát tình hình đội ngũ cán bộ, sắp xếp kiện toàn tổ chức bộ máy gắn với các chức danh cấp ủy, chính quyền, bổ sung cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan chuyên môn, bảo đảm ổn định vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả; đến nay, 100% các xã, phường trong toàn tỉnh đã bố trí đầy đủ các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp xã theo quy định5

Nhìn chung, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã kịp thời, chủ động ban hành nhiều chính sách phù hợp, góp phần vận hành chính quyền địa phương hai cấp nói chung và khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã hoạt động có hiệu quả, mặc dù vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định.

2.2. Những kết quả đã đạt được

Về phẩm chất, nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã của tỉnh Ninh Bình đều có lập trường, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu con đường xã hội chủ nghĩa, trung thành với lý tưởng cộng sản và những mục tiêu cơ bản của sự nghiệp cách mạng, tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới và quyết tâm vượt qua những khó khăn, thử thách, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao cho. Đại đa số cán bộ, công chức cấp xã giữ gìn được phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người cán bộ, đảng viên, có lối sống lành mạnh, giản dị, gần gũi Nhân dân, phù hợp với những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, là tấm gương về đạo đức và lối sống, được cán bộ, đảng viên và Nhân dân tin yêu.

Về số lượng, cơ cấu, đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã tỉnh Ninh Bình hiện nay cơ bản đã được kiện toàn, hoạt động mang tính ổn định. Cơ cấu của đội ngũ cán bộ, công chức cũng ngày càng được đồng bộ hơn, gồm nhiều thế hệ, được phân bố hợp lý trong các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể trong tỉnh.

Về trình độ, tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn bậc đại học, cao đẳng ngày càng nhiều; tỷ lệ cán bộ có trình độ trung cấp lý luận chính trị, cử nhân, cao cấp ngày càng tăng. Hầu hết cán bộ, công chức đã được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xây dựng đảng, đoàn thể, công tác vận động quần chúng ở cấp xã hoặc các lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, quốc phòng – an ninh.

Về năng lực hoạt động thực tiễn, đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã chủ yếu là những người trưởng thành trong phong trào của quần chúng ở cấp xã, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý. Đa số họ đã và đang đảm nhiệm các chức vụ trưởng, phó các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể cơ sở. Chính điều đó đã làm cho hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã đảm bảo thông suốt, hoạt động hiệu năng, hiệu quả, nhất là trong việc tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, công tác xây dựng Đảng và vận động quần chúng ở địa phương.

2.3. Một số hạn chế, bất cập hiện nay

Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã tuy đã được nâng cao so với những ngày đầu sáp nhập tỉnh theo nghị quyết của Quốc hội nhưng trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng hiện đại, chuyển đổi số thì đội ngũ này vẫn còn bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm chủ yếu sau:

(1) Về phẩm chất. Một số cán bộ còn có biểu hiện cục bộ, địa phương, gia trưởng, bảo thủ, trì trệ, trông chờ, ỷ lại vào cấp trên, thiếu chủ động, sáng tạo trong công việc, ngại khó khăn, muốn ổn định công tác, không muốn chuyển công tác sang những lĩnh vực mới. Một số cán bộ chưa chú trọng thực hiện tốt những nguyên tắc trong tổ chức sinh hoạt đảng và Quy chế dân chủ ở cơ sở; tinh thần, thái độ tự phê bình và phê bình chưa cao, chưa quyết tâm đấu tranh chống những biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong tổ chức đảng, trong đơn vị; có số ít trường hợp bản thân và gia đình chưa thực sự gương mẫu chấp hành pháp luật.

Một số ít cán bộ chủ chốt ở cấp xã còn có biểu hiện gây đoàn kết nội bộ, có biểu hiện lợi dụng những sơ hở trong cơ chế quản lý để vun vén lợi ích cá nhân, tham nhũng, tiêu cực, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai ở cấp xã, làm xói mòn, suy giảm lòng tin của Nhân dân. Bên cạnh đó, một số cán bộ có thái độ thờ ơ đối với những tiêu cực xảy ra, vô cảm với những vấn đề mà người dân đang bức xúc, kiến nghị, đề xuất; vì lợi ích cá nhân và gia đình, dòng họ, bạn bè, người thân mà đi đến buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong giải quyết các vụ việc, thậm chí vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, kỷ luật đảng.

(2) Về trình độ năng lực. Nhìn chung mặt bằng về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ cũng như lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Ninh Bình hiện nay cao hơn nhiều so với trước đây. Tuy nhiên, số người được đào tạo tập trung chính quy dài hạn không nhiều; kiến thức ngoại ngữ, tin học chưa đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ chuyển đổi số và hội nhập, còn mất cân đối giữa các lĩnh vực chuyên môn được đào tạo, nhiều cán bộ phải đảm nhận những nhiệm vụ chưa phù họp với chuyên ngành đã học.

Kỹ năng, kinh nghiệm thực tế của một số cán, bộ chưa tương xứng với nhiệm vụ mới được giao và vị trí việc làm; việc học tập, cập nhật kiến thức mới chưa được thường xuyên; kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý trong nền kinh tế thị trường còn ít; trình độ ngoại ngữ còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, một số cán bộ lãnh đạo, quản lý còn thiếu chuyên môn chuyên sâu, toàn diện trong lĩnh vực được giao phụ trách, chưa thường xuyên sâu sát cơ sở, thiếu quan tâm nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, yếu kém trong lãnh đạo, điều hành công việc, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế và giải quyết các vấn đề bức xúc trong Nhân dân.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã tại tỉnh Ninh Bình

Thứ nhất, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, công chức, nhất là lý luận chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận đổi mới của Đảng.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng có vai trò quan trọng quyết định thắng lợi đường lối của Đảng và Nhà nước, liên quan đến vấn đề sống còn của chế độ. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần được quan tâm hàng đầu. Để thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đòi hỏi trước hết cấp ủy cấp xã phải tập trung quán triệt trong đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt, giúp họ thật sự thấm nhuần chủ trương, đường lối của Đảng, biến thành ý chí, quyết tâm chính trị của từng cán bộ. Cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp xã là hạt nhân tuyên truyền, vận động Nhân dân hiện thực hoá chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành ý thức của toàn thể cán bộ, đảng viên.

Cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cấp xã phải vào cuộc với nhiệt huyết, trách nhiệm cao nhất vì công việc chung, gắn với phương châm “mưa dầm thấm lâu”. Phương pháp quán triệt phải linh hoạt, sáng tạo, giàu tính thuyết phục, nhất là đối với những việc khó, việc mới phức tạp, nhạy cảm cần kiên trì,

Thứ hai, thực hiện đánh giá cán bộ, công chức cấp xã phải công tâm, khách quan, xuyên suốt, đa chiều, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo.  

Công tác đánh giá cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã là khâu nền tảng, hàng đầu, là một vấn đề hệ trọng, rất nhạy cảm và phức tạp trong công tác cán bộ của Đảng. Đây là khâu có ý nghĩa quyết định, trong công tác cán bộ, là cơ sở để tiến hành việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ, thực hiện việc bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ. Đánh giá đúng cán bộ sẽ phát huy được tiềm năng của từng người và của cả đội ngũ cán bộ. Đánh giá không đúng bản chất của cán bộ sẽ dẫn đến việc bố trí, sử dụng sai cán bộ, làm hỏng cán bộ, hỏng việc, làm mất động lực phát triển, xói mòn niềm tin của đảng viên và quần chúng đối với cán bộ  lãnh đạo, quản lý ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Để đánh giá cán bộ được chính xác, mỗi cán bộ, công chức mà trước hết là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu phải thực hiện tự phê và phê bình nghiêm túc kiểm điểm bản thân, liên hệ theo chức trách, nhiệm vụ được giao, căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn, chức danh, chú trọng hiệu quả hoạt động thực tiễn, xem xét trong cả một quá trình, cần tổ chức cho tập thể cán bộ tham gia góp ý thẳng thắn, dân chủ, công khai, chân thành và thực hiện lấy phiếu tín nhiệm định kỳ 6 tháng và cuối năm.

Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, tập thể lãnh đạo và các đơn vị chức năng đối với cán bộ, công chức.

Mỗi cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã đều được phân công một nhiệm vụ chính trị nhất định. Để nhiệm vụ này được thực hiện đúng vị trí việc làm, thực thi đúng pháp luật, tiến độ và hiệu quả, nhất thiết phải có sự giám sát thường xuyên của các các cơ quan có thẩm quyền và các bộ phận chức năng như thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Đối với công tác lãnh đạo của cấp ủy đảng thì công việc của từng đảng viên đều được cấp ủy phân công nhiệm vụ giám sát theo quy định. Nếu công tác tham mưu của từng bộ phận và công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của cấp trên tốt thì hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính quyền cấp xã thường xuyên được điều chỉnh và ít xảy ra sai phạm.

Thứ tư, đẩy mạnh việc học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, công chức một cách thiết thực.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là học tập phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, là chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, công chức. trong quan hệ “đối với mình”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn đã trở thành kim chỉ nam cho hành động của mỗi cán bộ, đảng viên trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Chính Người là một tấm gương mẫu mực về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Học tập phong cách Hồ Chí Minh, cụ thể là phong cách quần chúng, phong cách dân chủ và phong cách nêu gương.

Một là, phong cách quần chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện bằng phong cách sâu sát quần chúng, vì lợi ích thiết thực của quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng.

Hai là, phong cách dân chủ là yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó, tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Ba là, phong cách nêu gương tức là phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt, nói phải đi đôi với làm. Trước hết, cần nêu gương trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người và đối với công việc. Đối với mình phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hằng ngày; đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, phải khoan dung, độ lượng; đối với công việc, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ nguyên tắc để việc công lên trên, lên trước việc tư.

Cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã cần tích cực lao động, học tập với tinh thần sáng tạo, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của Nhân dân; không xa hoa, lãng phí, không phô trương, hình thức; biết tiết kiệm vật tư, tiền vốn của Nhà nước, tập thể và chính mình một cách có hiệu quả; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, Đặc biệt, đối vớỉ cán bộ lãnh đạo, quản lý cần phải loại bỏ thói chạy theo danh vọng, địa vị, giành giật lợi ích cho cá nhân, lạm dụng quyền hạn, chức vụ để chiếm đoạt của công, thu vén, trục lợi cho gia đình, cá nhân, cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Phải thẳng thắn, thật thà, trung thực, bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt; chân thành, khiêm tốn; không chạy theo chủ nghĩa thành tích, không bao che, giấu giếm khuyết điểm.

Thứ năm, thường xuyên tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Tự phê bình và phê bình nhằm đạt tới cái đích là làm rõ đúng, sai, bảo đảm tính khách quan, trung thực, thẳng thắn và chân tình. Tự phê bình và rèn luyện bản thân là việc đầu tiên phải làm của người cán bộ, công chức. Thực chất, đây là quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng để không ngừng hoàn thiện nhân cách, nâng cao ý thức và bản lĩnh chính trị. Quá trình tự phê bình và phê bình phải luôn gắn với việc tự sửa chữa khuyết điểm của mình, thực hiện như thói quen hàng ngày.

Tự phê bình và phê bình giúp cán bộ, công chức sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, tiến bộ không ngừng, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng. Thực tế hiện nay, cho thấy một số tổ chức và cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị cấp xã của tỉnh đã làm tốt công tác tự phê bình và phê bình, trong các cuộc họp, nhất là ở chi bộ đã dám nói thẳng, nói thật ưu, khuyết điểm giúp đồng chí của mình phát huy ưu điểm, sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ chưa phát huy tốt tinh thần phê và tự phê. Trong các cuộc hội nghị, cán bộ, công chức không dám góp ý kiến, đặc biệt là góp ý cho cấp trên, lãnh đạo vì sợ bị trù dập. Một số cán bộ không góp ý cho đồng chí mình ngay trong cuộc họp mà lại đi nói sau lưng có tính chất “kích động”, làm mất uy tín người khác. Bên cạnh đó, vẫn còn một số cán bộ, công chức lợi dụng tinh thần phê bình và tự phê để chỉ trích, phê phán người khác với thái độ không thiện cảm, vì mục đích cá nhân “vạch lá tìm sâu”, “chuyện bé xé ra to”, làm cho người bị phê bình không nhận ra được sai lầm để sửa chữa hoặc cố làm họ cũng khó lòng mà sửa được.

Việc tự phê bình và phê bình của cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã cấp xã phải được tiến hành thường xuyên, phê bình từ trên xuống và từ dưới lên. Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải đảm bảo đúng nguyên tắc, song cách thức tiến hành, phải mềm dẻo, khéo léo. Nếu chỉ dùng phương pháp, mệnh lệnh, áp đặt thì rất khó tiếp thu. Phê bình không đúng lúc, đúng chỗ, không khôn khéo sẽ phản tác dụng, thậm chí còn gây ra hậu quả khó lường. Người được phê bình phải có thái độ thành khẩn, vui lòng để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét.

Thứ sáu, tăng cường thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ sau quy hoạch, nhất là bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, công chức.

Trong nhiệm kỳ, cấp ủy cấp trên, cấp ủy cấp xã cần thực hiện xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đối thượng cán bộ được quy hoạch trên cơ sở danh sách cán bộ nguồn đã quy hoạch để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đào tạo, bồi dưỡng ở đây là bồi dưỡng thêm những kiến thức còn thiếu so với tiêu chuẩn chức danh theo quy định của Đảng, Nhà nước. Trước hết là bồi dưỡng về lý luận chính trị; tiếp theo là đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ theo vị trí việc làm; cập nhật kiến thức mới. Bên cạnh đó, hỗ trơn cán bộ, công chức tự học ngoại ngữ và tin học để trở thành công dân toàn cầu trong quá trình hội nhập quốc tế.

Thứ bảy, thường xuyên quan tâm, giúp đỡ và mạnh dạn cất nhắc cán bộ có năng lực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Cấp ủy, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên quan tâm, giúp đỡ cán bộ, công chức giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống, trong công tác. Khi thấy cán bộ, công chức có khuyết điểm thì giúp đỡ họ sửa chữa ngay, đồng thời phải chỉ rõ những ưu điểm, những thành công của họ để động viên họ an tâm làm việc. Trong công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, chúng ta thường “thận trọng” hoặc “quá khắt khe” nên thường không phát huy được năng lực, sở trường công tác của cán bộ. Vì vậy, cần mạnh dạn cất nhắc, đề bạt những cán bộ trẻ có đủ tiêu chuẩn, năng lực và có triển vọng vào các vị trí lãnh đạo, quản lý chủ chốt. Đối với cá nhân cán bộ có thể còn điểm yếu, song tập thể cấp uỷ cũng cần nhìn nhận khách quan chỉ ra, thiếu sót, khuyết điểm của họ để phấn đấu khắc phục vươn lên và sau khi cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm tiếp tục giúp đỡ họ tiến bộ. Cần tránh làm nóng vội, làm ẩu, càng không vì danh lợi của mình mà cất nhắc cán bộ. Việc cất nhắc cán bộ phải vì công việc chung, coi trọng tài năng, mà còn cổ vũ cho những cán bộ khác thêm hăng hái vươn lên. Đối với cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị cấp xã của tỉnh đã có quá trình công tác, có nhiều cống hiến, có nhiều kinh nghiệm, cần tôn trọng, thường xuyên chăm lo; khi họ sai phạm thì dùng cách thuyết phục để giúp họ sửa chữa, giúp đỡ và động viên họ hăng hái tiến lên.

Chú thích:
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội  (2025). Nghị quyết số 1674/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Ninh Bình năm 2025.
2. Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình (2025). Nghị quyết số 66/NQ-HĐND ngày 31/12/2025 về việc điều chỉnh biên chế cán bộ, công chức năm 2026. https://hdnd.ninhbinh.gov.vn.
3. Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình (2025). Nghị quyết số 16/2025/NQ-HĐND ngày 30/10/2025 về việc quy định chính sách hỗ trợ chi phí đi lại đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương ngân sách địa phương tại các cơ quan, đơn vị khi sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Ninh Bình. https://hdnd.ninhbinh.gov.vn.
4. Bộ Nội vụ (2025). Công văn số 1163/BNV-CTL&BHXH ngày 04/12/2025 về việc trả lời kiến nghị của cử tri gửi trước kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. https://hdnd.ninhbinh.gov.vn.
5. Tỉnh ủy Ninh Bình (2025). Báo cáo số 05-BC/TU ngày 25/12/2025 về tổng kết công tác năm 2025, phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2026.