TS. Lê Cẩm Hà
Học viện Hành chính và Quản trị công
ThS. NCS. Bùi Lam Giang
Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – TP. Hồ Chí Minh có diện tích 6.772 km², dân số hơn 13,7 triệu người, đóng góp khoảng 30% tổng thu ngân sách nhà nước và 25% GDP của cả nước1. Với vai trò là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, Thành phố đang đứng trước yêu cầu phải tạo lập những đột phá mới nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Trong tiến trình đó, nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vị trí then chốt, là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo. Bài viết phân tích thực trạng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn Thành phố, đồng thời, đề xuất giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu đột phá phát triển khoa học – công nghệ trong giai đoạn mới, gắn với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Từ khóa: Nguồn nhân lực chất lượng cao; đột phá phát triển khoa học – công nghệ; đổi mới sáng tạo; TP. Hồ Chí Minh.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh khoa học – công nghệ phát triển nhanh chóng, kinh tế tri thức và chuyển đổi số trở thành xu thế chủ đạo, đổi mới sáng tạo ngày càng khẳng định vai trò là động lực then chốt của tăng trưởng bền vững. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định rõ: “khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá chiến lược”, trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò “nhân tố trung tâm”. Quan điểm này thể hiện tư duy phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và con người, đồng thời, đặt ra yêu cầu cấp thiết về xây dựng đội ngũ nhân lực đủ năng lực dẫn dắt tiến trình đổi mới.
Đối với TP. Hồ Chí Minh, yêu cầu đó càng trở nên cấp bách trong bối cảnh Thành phố bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian kinh tế và quy mô đô thị được mở rộng theo chủ trương sáp nhập tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương. Đây là hai địa phương có thế mạnh nổi trội về công nghiệp, logistics, cảng biển và nghiên cứu ứng dụng, tạo thành cấu trúc liên kết phát triển mang tính động lực của khu vực phía Nam. Sự hình thành không gian phát triển liên vùng này đòi hỏi một nền tảng nhân lực khoa học – công nghệ có chất lượng cao, đủ khả năng đáp ứng yêu cầu tích hợp và phát triển các lĩnh vực công nghệ lõi. Để TP. Hồ Chí Minh thực sự trở thành trung tâm kinh tế, khoa học – công nghệ của cả nước và từng bước tiệm cận các đô thị lớn trong khu vực và trên thế giới, chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định. Trong đó, việc thu hút, đào tạo và trọng dụng nhân lực khoa học – công nghệ chất lượng cao cần được xác định là khâu đột phá chiến lược, đi trước một bước nhằm tạo nền tảng cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn phát triển mới.
2. Thực trạng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho đột phá phát triển khoa học – công nghệ tại TP. Hồ Chí Minh
2.1. Kết quả đạt được
Thứ nhất, TP. Hồ Chí Minh đã từng bước xây dựng được nền tảng khoa học – công nghệ thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Với mạng lưới khoảng 70 trường đại học, nhiều viện nghiên cứu và trung tâm khoa học – công nghệ, cùng Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh giữ vai trò hạt nhân đổi mới sáng tạo, Thành phố khẳng định vị thế là trung tâm nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hàng đầu của Việt Nam. Trong các lĩnh vực mũi nhọn, như: bán dẫn, công nghệ sinh học, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, Thành phố không chỉ thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước mà còn hấp dẫn đội ngũ chuyên gia quốc tế, qua đó, hình thành hệ sinh thái nghiên cứu – phát triển (R&D) năng động, có tiềm năng tạo đột phá.
Thứ hai, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác thu hút nhân tài. Theo đó, Thành phố được trao quyền tự chủ trong xác định mức thu nhập đối với chuyên gia, nhà khoa học và cá nhân có tài năng đặc biệt; đồng thời, được ban hành các nguyên tắc, tiêu chuẩn, điều kiện và chế độ đãi ngộ phù hợp để tuyển dụng công chức, viên chức từ nguồn sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và người có trình độ cao. Cơ chế này góp phần tháo gỡ rào cản thể chế, tạo sự linh hoạt trong sử dụng và trọng dụng nhân lực chất lượng cao. Việc triển khai các cơ chế đặc thù không chỉ thúc đẩy cải cách thể chế, thu hút đầu tư và phát triển hạ tầng mà còn tạo tác động lan tỏa tích cực đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Thành phố.
Thứ ba, quá trình hội nhập quốc tế trong giáo dục – đào tạo ngày càng được đẩy mạnh. Nhiều cơ sở đào tạo trên địa bàn đã chủ động triển khai các chương trình liên kết với các trường đại học uy tín của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Singapore, Úc, Anh… Thông qua các chương trình này, phương pháp đào tạo tiên tiến và chuẩn mực học thuật quốc tế được chuyển giao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực nghiên cứu. Đồng thời, người học có điều kiện tiếp cận môi trường giáo dục chuẩn quốc tế, qua đó hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng làm việc trong môi trường toàn cầu, đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành khoa học – công nghệ hiện đại của khu vực và thế giới.
Bảng số 1: Một số chương trình liên kết của các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
| STT | Trường | Đối tác quốc tế | Ngành/Chương trình liên kết |
| 1 | UEH – International School of Business (UEH-ISB) | Western Sydney University (Úc) | Cử nhân Kinh doanh, Tài chính, Marketing |
| 2 | UEH – Viện Đào tạo Sau đại học | Seoul National University (Hàn Quốc) | Chương trình thạc sĩ ngắn hạn, nghiên cứu sau đại học |
| 3 | Đại học Hoa Sen (HSU) | De Montfort University (Anh) | Quản trị kinh doanh, Thiết kế, Công nghệ thông tin |
| 4 | Đại học Quốc tế – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh | University of Gloucestershire (Anh) | Quản trị, Logistics, Công nghệ |
| 5 | Đại học FPT | Swinburne University of Technology (Úc) | Công nghệ thông tin, Thiết kế, Kinh doanh |
Thứ tư, với những lợi thế nổi trội về điều kiện tự nhiên, quy mô kinh tế và mức độ phát triển đô thị, cùng với việc mở rộng không gian phát triển theo chủ trương sáp nhập tỉnh Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm thu hút và hội tụ nguồn nhân lực chất lượng cao của vùng Đông Nam Bộ và khu vực phía Nam, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học – công nghệ. Với những lợi thế về quy mô thị trường, môi trường kinh doanh năng động, hệ sinh thái doanh nghiệp đa dạng và mức độ hội nhập quốc tế cao đã tạo sức hút mạnh mẽ đối với đội ngũ nhân lực trình độ cao từ các địa phương lân cận như Đồng Nai, Tây Ninh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều kỹ sư, chuyên gia trẻ lựa chọn học tập, làm việc và sinh sống tại Thành phố nhằm tìm kiếm cơ hội phát triển nghề nghiệp trong các ngành công nghệ mũi nhọn, như: trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ sinh học, công nghệ tài chính (Fintech) và nghiên cứu – phát triển tại các trung tâm nghiên cứu, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tập đoàn công nghệ và Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh.
2.2. Một số vấn đề đặt ra
Mặc dù TP. Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả rất quan trọng trong thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho đột phá phát triển khoa học, công nghệ. Thành phố vẫn cần tiếp tục giải quyết các vấn đề đặt ra một cách đồng bộ như sau:
Thứ nhất, quy mô và chất lượng nguồn nhân lực khoa học – công nghệ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển và hội nhập trong bối cảnh không gian kinh tế được mở rộng. Việc sáp nhập Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương làm gia tăng nhanh chóng quy mô kinh tế, hệ thống cảng biển, logistics và công nghiệp công nghệ cao, kéo theo nhu cầu lớn về nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực công nghệ lõi. Tuy nhiên, nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay chủ yếu tập trung tại khu vực trung tâm Thành phố trước thời điểm mở rộng địa giới, trong khi, các khu vực phát triển mới đang thiếu đội ngũ chuyên gia và kỹ sư trình độ cao. Đặc biệt, các ngành chiến lược, như: AI, vi mạch – bán dẫn, công nghệ biển, năng lượng mới, tự động hóa, khoa học vật liệu và công nghệ sinh học – y sinh vẫn thiếu hụt nhân lực có trình độ chuyên sâu và năng lực nghiên cứu – phát triển. Đây là điểm nghẽn quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện mục tiêu đột phá phát triển khoa học – công nghệ theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Thứ hai, sau khi mở rộng không gian phát triển, TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa hình thành được cụm liên kết nhân lực chất lượng cao mang tính liên vùng giữa ba cực tăng trưởng công nghiệp – logistics – khoa học – công nghệ. Mặc dù tiềm năng bổ trợ giữa các khu vực là rất lớn, song cơ chế phối hợp trong đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân lực chất lượng cao chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả. Việc xây dựng và chia sẻ hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm nghiên cứu – phát triển, cũng như các chương trình đào tạo liên kết liên vùng còn hạn chế, thiếu tính tích hợp và liên thông. Điều này làm giảm khả năng tối ưu hóa nguồn lực, chưa tạo được mạng lưới đổi mới sáng tạo có tính hệ thống, qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả thu hút và phát triển nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ chiến lược.
Thứ ba, mặc dù Thành phố đã được trao cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc hội và Nghị quyết số 27/2023/NQ-HĐND ngày 08/12/2023 về mức thu nhập đối với chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt đối với lĩnh vực TP. Hồ Chí Minh có nhu cầu thu hút. Đồng thời, UBND Thành phố đã cụ thể hóa bằng Quyết định số 38/2024/QĐ-UBND ngày 27/10/2022 ban hành quy định về cơ chế thu hút nhân tài phục vụ phát triển Thành phố, song hiệu quả thực tiễn vẫn còn những hạn chế nhất định. So với một số quốc gia trong khu vực châu Á, như: Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản…, mức đãi ngộ và điều kiện làm việc của Thành phố chưa thực sự có tính cạnh tranh cao. Bên cạnh đó, quy trình tuyển dụng và sử dụng nhân lực vẫn chịu sự ràng buộc của cơ chế hành chính nhà nước, làm giảm tính linh hoạt trong đàm phán, ký kết hợp đồng và triển khai các chính sách thu hút nhân tài. Ngoài yếu tố thu nhập, các điều kiện bảo đảm về nhà ở, môi trường sống, hạ tầng nghiên cứu và không gian sáng tạo dành cho chuyên gia còn chưa đồng bộ, chưa tạo được sức hút toàn diện và bền vững đối với đội ngũ nhân lực khoa học – công nghệ trình độ cao.
Thứ tư, cạnh tranh trong thu hút nhân tài và nguy cơ “chảy máu chất xám” đang diễn ra ngày càng gay gắt. Trong bối cảnh thị trường lao động khoa học – công nghệ mang tính toàn cầu, sự cạnh tranh giữa khu vực công và khu vực tư, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ đa quốc gia, ngày càng mạnh mẽ. Mức thu nhập hấp dẫn, điều kiện làm việc chuyên nghiệp, môi trường nghiên cứu hiện đại và cơ hội phát triển nghề nghiệp quốc tế đã tạo ra làn sóng dịch chuyển nhân lực chất lượng cao từ khu vực công sang khu vực tư, thậm chí ra nước ngoài. Xu hướng này không chỉ làm gia tăng áp lực giữ chân nhân tài mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về xây dựng cơ chế đãi ngộ và môi trường làm việc đủ sức cạnh tranh trong khu vực công, nhất là đối với các lĩnh vực công nghệ lõi và nghiên cứu chiến lược.
Thứ năm, hệ sinh thái khoa học – công nghệ của Thành phố chưa tạo được áp lực đổi mới đủ mạnh và chưa hình thành sức hút thực sự đối với nguồn nhân lực chất lượng cao. Mặc dù Thành phố đã xây dựng Khu Công nghệ cao, các trung tâm đổi mới sáng tạo và mạng lưới viện – trường tương đối phát triển, song hoạt động nghiên cứu – phát triển (R&D) vẫn còn phân tán, thiếu sự điều phối và kết nối theo chuỗi giá trị. Hạ tầng dữ liệu, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm và các trung tâm nghiên cứu trong các lĩnh vực chiến lược như bán dẫn, công nghệ sinh học, AI còn thiếu tính liên thông và tích hợp. Cơ chế chia sẻ tài nguyên nghiên cứu chưa hiệu quả, chưa hình thành mạng lưới đổi mới sáng tạo có tính hệ thống. Đồng thời, các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D và hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ cao chưa đủ mạnh để tạo động lực bền vững, qua đó hạn chế khả năng thu hút và giữ chân đội ngũ nhân lực khoa học – công nghệ trình độ cao.
Thứ sáu, mặc dù quy mô phát triển của Thành phố sau khi mở rộng không gian kinh tế ngày càng lớn, song nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các lĩnh vực mới nổi vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt, nhân lực chuyên sâu trong quy hoạch đô thị thông minh, quản lý hạ tầng số, quản trị dữ liệu lớn và phát triển kinh tế biển còn thiếu cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, chương trình đào tạo và bồi dưỡng hiện nay chưa theo kịp tốc độ phát triển của các ngành công nghệ chiến lược, như: AI, vi mạch – bán dẫn, công nghệ nano, an ninh mạng, khoa học dữ liệu và logistics thông minh. Sự chậm điều chỉnh về nội dung, phương pháp và mô hình đào tạo đã tạo ra khoảng cách giữa cung – cầu nhân lực, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng triển khai các mục tiêu đột phá về khoa học – công nghệ trong giai đoạn mới.
3. Giải pháp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho đột phá phát triển khoa học công nghệ tại TP. Hồ Chí Minh
Văn kiện Đại hội Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 xác định rõ: “thực hiện chính sách đặc thù phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài thông qua các nhiệm vụ nghiên cứu và các chương trình đột phá của Thành phố, nhất là trong các lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, tài chính quốc tế, logistics và năng lượng tái tạo; đồng thời, nghiên cứu cơ chế, chính sách thu hút các chuyên gia quốc tế trong và ngoài nước; tuyển dụng nhân tài vào khu vực công”2. Trên cơ sở định hướng đó và từ thực trạng đã phân tích, việc xây dựng hệ thống giải pháp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển khoa học – công nghệ trong thời gian tới cần tập trung vào các nội dung sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao theo hướng tăng tính cạnh tranh và linh hoạt. Cần cụ thể hóa đầy đủ tinh thần của Nghị quyết số 98/2023/QH15, đặc biệt trong việc xây dựng cơ chế tiền lương, tiền thưởng tiệm cận với thị trường lao động quốc tế; mở rộng quyền chủ động trong ký kết và sử dụng hợp đồng linh hoạt đối với chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước. Đồng thời, áp dụng chế độ đãi ngộ đặc thù, có thể vượt khung đối với các lĩnh vực công nghệ chiến lược, như: trí tuệ nhân tạo (AI), vi mạch – bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ biển và năng lượng mới. Việc thiết kế chính sách cần bảo đảm tính minh bạch, ổn định và đủ sức cạnh tranh trong khu vực, qua đó tạo động lực thu hút và giữ chân đội ngũ nhân lực khoa học – công nghệ trình độ cao.
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ngang tầm khu vực, coi đây là nền tảng quan trọng để thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ. Hệ sinh thái này cần được tổ chức theo hướng tích hợp, liên thông giữa viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, bảo đảm tạo lập môi trường đổi mới sáng tạo có tính cạnh tranh và bền vững.
Trọng tâm trước hết là hình thành các viện công nghệ chuyên sâu đạt chuẩn quốc tế, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trình độ cao, đồng thời là trung tâm hội tụ các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước với cơ chế đãi ngộ vượt trội. Có thể nghiên cứu thành lập các thiết chế như: Viện Công nghệ bán dẫn; Viện Công nghệ biển và năng lượng xanh; Viện Trí tuệ nhân tạo và Khoa học dữ liệu; Viện Công nghệ sinh học và y sinh. Song song với đó, cần hoàn thiện cơ chế phát triển chuỗi phòng thí nghiệm liên vùng và trung tâm nghiên cứu – phát triển trọng điểm, tập trung vào các lĩnh vực chiến lược như thiết kế chip và vật liệu bán dẫn thế hệ mới, công nghệ tự động hóa và robot, công nghệ sinh học ứng dụng, mô phỏng và số hóa công nghiệp. Việc đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và bảo đảm tính liên thông hạ tầng nghiên cứu sẽ góp phần hình thành mạng lưới đổi mới sáng tạo có quy mô và sức lan tỏa, qua đó nâng cao năng lực thu hút và giữ chân nhân lực khoa học – công nghệ chất lượng cao..
Thứ ba, tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ. Đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững dựa trên đổi mới sáng tạo, Thành phố cần chuyển mạnh từ mô hình đào tạo truyền thống sang mô hình giáo dục mở, linh hoạt, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động công nghệ cao và xu thế phát triển của khoa học – công nghệ hiện đại. Theo đó, cần xây dựng các chương trình đào tạo chất lượng cao, cập nhật chuẩn quốc tế, tập trung vào các ngành chiến lược, như: AI, vi mạch – bán dẫn, công nghệ sinh học, quản trị đô thị thông minh, năng lượng mới và logistics thông minh. Nội dung và phương pháp đào tạo cần chú trọng phát triển năng lực nghiên cứu, tư duy đổi mới sáng tạo, kỹ năng liên ngành và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ biến đổi nhanh.
Song song với đó, Thành phố cần thiết kế và triển khai các chương trình học bổng, quỹ phát triển nhân tài và cơ chế hỗ trợ nghiên cứu dành cho sinh viên xuất sắc, nhà khoa học trẻ trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn. Chính sách này không chỉ góp phần thu hút và nuôi dưỡng nhân tài từ sớm mà còn tạo nguồn nhân lực kế cận có chất lượng, đáp ứng yêu cầu đột phá phát triển khoa học – công nghệ trong dài hạn.
Thứ tư, xây dựng môi trường sống và làm việc hấp dẫn, có sức cạnh tranh khu vực và tiệm cận tiêu chuẩn của một “thành phố toàn cầu” (global city), nhằm thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học – công nghệ. Trong bối cảnh cạnh tranh nhân tài mang tính toàn cầu, chất lượng sống, môi trường sáng tạo và cơ hội phát triển nghề nghiệp có ý nghĩa không kém các chính sách đãi ngộ tài chính. Thành phố cần kiến tạo không gian sống và làm việc hiện đại, an toàn, thân thiện, đồng thời, phát triển mô hình đô thị sáng tạo đa cực gắn với các trung tâm nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, khu công nghiệp công nghệ cao và các khu đô thị sinh thái thông minh.
Việc hình thành các cụm đổi mới sáng tạo tích hợp theo mô hình “nghiên cứu – đào tạo – sản xuất – khởi nghiệp” sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp công nghệ. Ở tầm chiến lược dài hạn, Thành phố cần định vị mình là trung tâm khoa học – công nghệ có khả năng kết nối quốc tế mạnh mẽ, hội tụ chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ cao trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Điều này đòi hỏi đầu tư đồng bộ vào hạ tầng giao thông chiến lược, hạ tầng số, dịch vụ giáo dục – y tế chất lượng cao và không gian văn hóa quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng sống và hình thành thị trường lao động khoa học – công nghệ có tính tập trung, chuyên nghiệp và hội nhập sâu rộng.
4. Kết luận
Với vai trò là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước và động lực phát triển của khu vực phía Nam, TP. Hồ Chí Minh cần xây dựng đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao có quy mô và trình độ vượt trội, đáp ứng yêu cầu đột phá phát triển khoa học – công nghệ trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh cạnh tranh nhân tài ngày càng gay gắt và xu thế đổi mới sáng tạo mang tính toàn cầu, việc thu hút, phát triển và giữ chân nhân lực khoa học – công nghệ phải được xác định là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài và có tính quyết định. Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết đã đề xuất hệ thống giải pháp mang tính đồng bộ, từ hoàn thiện thể chế, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đổi mới đào tạo đến kiến tạo môi trường sống và làm việc có sức cạnh tranh khu vực. Nếu được triển khai nhất quán và hiệu quả, các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao năng lực thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo nền tảng để TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo có tầm ảnh hưởng trong khu vực, đóng vai trò dẫn dắt phát triển quốc gia trong thời kỳ chuyển đổi số và kinh tế tri thức.
Chú thích:
1. Vị thế của TP. Hồ Chí Minh sau sáp nhập: Hình thành siêu đô thị mới. https://thanhtra.com.vn/ky-nguyen-moi-cua-dan-toc-6E454529F/vi-the-cua-tphcm-sau-sap-nhap-hinh-thanh-sieu-do-thi-moi-48a07c15c.html
2. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025- 2030. https://www.hcmcpv.org.vn/tu-lieu/van-kien-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tphcm-lan-thu-i-nhiem-ky-2025-2030/chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-thanh-pho-ho-chi-minh-lan-thu-i-1491379150.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Quốc hội (2023). Nghị quyết 98/2023/QH15 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
4. Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh (2025). Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
5. World Bank (2020). Vietnam: Science, Technology and Innovation Report. Washington, D.C.
6. OECD (2021). Talent mobility and the future of innovation ecosystems. Paris.
7. UNESCO (2022). Science Report: The race against time for smarter development.
8. Chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/05/06/chinh-sach-thu-hut-va-su-dung-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-kinh-te-xa-hoi/.



