Opportunities and challenges for private enterprises in Ninh Binh in participating in the night-time economy model associated with sustainable tourism development
TS. Nguyễn Tử Hoài Sơn
ThS. Bùi Kiến Thưởng
ThS. Nguyễn Văn Thành
Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình
Email: nguyentuhoaison@gmail.com;
Buikienthuongtcthn@gmail.com; thanhchinhtri@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Những năm qua để phát triển du lịch toàn diện và bền vững, kinh tế ban đêm dần trở thành hợp phần quan trọng của kinh tế du lịch Ninh Bình. Sau sáp nhập Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình (thành tên tỉnh Ninh Bình) – đây không chỉ là cách thức mở rộng không gian kinh tế, tạo thêm động lực tăng trưởng mà còn là hướng đi mới để khai thác sâu hơn các giá trị văn hóa, lịch sử và con người của vùng đất Cố đô. Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp tư nhân tỉnh Ninh Bình trong phát triển kinh tế ban đêm gắn với du lịch bền vững, đề xuất các giải pháp về cơ chế, chính sách, liên kết vùng, chuyển đổi số và phát triển sản phẩm du lịch đặc sắc. Qua đó, góp phần phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển du lịch bền vững của tỉnh Ninh Bình mới.
Từ khóa: Kinh tế đêm; doanh nghiệp tư nhân; cơ hội, thách thức; phát triển du lịch bền vững; Ninh Bình.
Abstract: In recent years, the night-time economy has gradually become an important component of Ninh Binh’s tourism economy, contributing to the comprehensive and sustainable development of the tourism sector. Following the merger of Ha Nam and Nam Dinh provinces with Ninh Binh Province to form the new Ninh Binh Province, the expansion of the province has not only created a broader economic space and new growth momentum but has also opened up opportunities to further capitalize on the cultural, historical, and human values of the former imperial capital region. This article analyzes the opportunities and challenges facing private enterprises in Ninh Binh Province in developing the night-time economy in association with sustainable tourism. It also proposes solutions relating to institutional mechanisms, policies, regional cooperation, digital transformation, and the development of distinctive tourism products. Thereby, the article contributes to strengthening the role of the private sector in promoting sustainable tourism development in the newly expanded Ninh Binh Province.
Keywords: Night-time economy; private enterprises; opportunities and challenges; sustainable tourism development; Ninh Binh.
1. Đặt vấn đề
Sự kiện hợp nhất ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình thành tỉnh Ninh Bình mới không chỉ là một bước ngoặt về địa giới hành chính, quản trị vùng mà còn tạo ra một “siêu không gian” kinh tế – văn hóa – du lịch tại dải đất phía Nam đồng bằng sông Hồng. Với quy mô dân số hơn 4,4 triệu người và sự hội tụ của ba trung tâm du lịch lớn (Tâm linh Hà Nam – Di sản Ninh Bình – Biển văn hóa Nam Định) (Xuân Thu & cộng sự, 2026), khối doanh nghiệp tư nhân Ninh Bình đang đứng trước vận hội lớn để phát triển.
Trong cấu trúc kinh tế mới, kinh tế ban đêm (night-time econom) được xác định là mũi nhọn chiến lược nhằm thay đổi định kiến “du lịch một ngày”, tăng chi tiêu của du khách và thúc đẩy phát triển bền vững. Là lực lượng xung kích, khối doanh nghiệp tư nhân tỉnh Ninh Bình vừa đứng trước những cơ hội “vô tiền khoáng hậu”, vừa phải đối mặt với những thách thức không nhỏ từ nội tại và thị trường cạnh tranh mới. Các hoạt động về đêm không chỉ đáp ứng nhu cầu giải trí, thưởng thức văn hóa của du khách mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Thực tế cho thấy, ban ngày du khách thường dành thời gian tham quan danh thắng, di tích; còn ban đêm mới là “thời gian vàng” cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và tiêu dùng. Mức chi tiêu vào buổi tối của du khách thường chiếm khá lớn trong tổng chi phí chuyến đi, đây chính là dư địa lớn để doanh nghiệp tư nhân Ninh Bình khai thác hiệu quả.
Việc khai thác, đưa vào kinh doanh nhiều hoạt động kinh tế ban đêm thời gian qua trên địa bàn tỉnh cũng cho thấy được “sức hút” đối với du khách, góp phần làm gia tăng đáng kể lượng khách đến với Ninh Bình. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như cạnh tranh gia tăng, hạn chế về hạ tầng phục vụ kinh tế ban đêm, chất lượng nguồn nhân lực và yêu cầu bảo vệ môi trường, di sản, an ninh trật tự, an toàn xã hội.
2. Cơ hội vàng cho doanh nghiệp tư nhân sau hợp nhất
Thứ nhất, mở rộng quy mô thị trường và chuỗi liên kết sản phẩm du lịch.
Việc hợp nhất không gian phát triển đã tạo ra một cực tăng trưởng mới ở khu vực phía Nam đồng bằng sông Hồng với quy mô dân số lớn, nguồn tài nguyên du lịch đa dạng và hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện, tạo ra không gian phát triển rộng lớn, đa dạng tài nguyên du lịch văn hóa, sinh thái, tâm linh và biển, đồng thời mở rộng quy mô thị trường và nguồn lực đầu tư, với: quần thể danh thắng Tràng An; Tam Cốc – Bích Động; vườn quốc gia Cúc Phương; Đền Trần; Phủ Dầy; chùa Tam Chúc. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp tư nhân giữ vai trò tiên phong trong đầu tư, tổ chức các hoạt động dịch vụ, vui chơi giải trí, thương mại, văn hóa, ẩm thực và các mô hình kinh tế ban đêm hiện đại.
Đây là điều kiện thuận lợi để hình thành các sản phẩm kinh tế ban đêm liên kết vùng, góp phần kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng chi tiêu của du khách và nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhân Ninh Bình hình thành, cung cấp các sản phẩm du lịch đêm liên vùng, nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến, hình thành các tuyến du lịch liên hoàn ngày và đêm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển các sản phẩm dịch vụ đa dạng: liên tuyến di sản xuyên đêm – doanh nghiệp có thể thiết kế các tour khép kín kéo dài 3 ngày 2 đêm ban ngày chiêm bái chùa Tam Chúc – chiều tối trải nghiệm phố cổ Hoa Lư, đầm Vân Long – đêm muộn trải nghiệm ẩm thực, phố đi bộ dệt may hoặc du lịch biển Quất Lâm, Thịnh Long; tiếp cận nguồn khách hàng khổng lồ với quy mô thị trường nội tỉnh tăng gấp 4 lần mở ra lượng khách nội địa tiềm năng cho các hoạt động giải trí, mua sắm về đêm của doanh nghiệp.
Thứ hai, mở ra dư địa thu hút đầu tư và hạ tầng kết nối liên vùng được nâng cấp.
Hệ thống giao thông kết nối giữa Phủ Lý – Ninh Bình – Nam Định ngày càng hoàn thiện, rút ngắn thời gian di chuyển. Điều này giúp doanh nghiệp tư nhân giảm chi phí logistics, dễ dàng trung chuyển du khách giữa các điểm vui chơi ban đêm.Chính sách thu hút đầu tư của tỉnh mới được đồng bộ hóa, thông thoáng hơn, tạo hành lang pháp lý an tâm cho khối tư nhân mạnh dạn rót vốn vào các dự án bất động sản du lịch đêm (khách sạn 5 sao, trung tâm thương mại, tổ hợp giải trí). Hình thành chuỗi sản phẩm kinh tế ban đêm quy mô lớn.Doanh nghiệp tư nhân có cơ hội đầu tư: phố đi bộ; chợ đêm; trung tâm mua sắm đêm; biểu diễn nghệ thuật dân gian; du lịch tâm linh về đêm; dịch vụ ẩm thực đặc sản vùng; trải nghiệm làng nghề truyền thống về đêm.
Việc liên kết nguồn lực này giúp nâng cao sức hấp dẫn của các sản phẩm du lịch đêm và tránh tình trạng trùng lặp sản phẩm.Tăng khả năng thu hút đầu tư,quy mô kinh tế lớn hơn sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư chiến lược trong lĩnh vực: (1) Du lịch nghỉ dưỡng; (2) Công nghiệp văn hóa; (3) Kinh tế sáng tạo; (4) Thương mại dịch vụ ban đêm; (5) Chuyển đổi số du lịch. Các doanh nghiệp tư nhân địa phương có điều kiện liên doanh, liên kết với các tập đoàn lớn để nâng cao năng lực quản trị và sức cạnh tranh, cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch được đầu tư đồng bộ. Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có khoảng 1.500 cơ sở lưu trú với hơn 20.000 buồng ngủ; trong đó có 8 cơ sở 4-5 sao, 48 cơ sở 1-3 sao, cùng hàng trăm homestay, resort sinh thái, khu nghỉ dưỡng cao cấp (Việt Thắng, 2026).
Hệ thống giao thông, bến bãi, trung tâm thông tin và dịch vụ du lịch ngày càng hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách và doanh nghiệp. Các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng môi trường du lịch văn minh, thân thiện. Nhiều dự án lớn được triển khai và phát huy hiệu quả: dự án hạ tầng khu du lịch sinh thái Tràng An; tổ hợp du lịch tâm linh Tam Chúc – lớn nhất Đông Nam Á; công viên động vật hoang dã Quốc gia; các khu nghỉ dưỡng cao cấp: Emeralda, Vedana, Mường Thanh Luxury Hà Nam, Melia Vinpearl Phủ Lý, Legend Valley, tổ hợp giải trí Sun World với công viên nước Hà Nam Water Park và chương trình nhạc nước Sun Urban City…
Thứ ba, khai thác sâu chuỗi giá trị văn hóa bản địa đa dạng.
Với kho tàng văn hóa phi vật thể đồ sộ – là nơi hội tụ các trung tâm tôn giáo lớn của Việt Nam. Chùa Bái Đính, chùa Tam Chúc, Nhà thờ đá Phát Diệm hay Vương cung Thánh đường Sở Kiện đều là những công trình kiến trúc mang giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc, có sức hút quốc tế. Ninh Bình cũng chính là Cố đô, nơi khai mở kỷ nguyên độc lập tự chủ của dân tộc dưới các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần. Bề dày lịch sử của dân tộc cũng đã tạo nên nền móng vững chắc để xây dựng thương hiệu “đô thị di sản thiên niên kỷ”. Những làn điệu hát Xẩm, hát Chèo, hát Ca trù, hát Dậm, hát Văn hay hát Trống quân vẫn vang vọng trong đời sống cộng đồng. Các làng nghề truyền thống, như: đá mỹ nghệ Ninh Vân, thêu ren Văn Lâm, gốm Bồ Bát, đúc đồng Tống Xá, mộc La Xuyên không chỉ lưu giữ tinh hoa lao động mà còn mở ra hướng phát triển du lịch trải nghiệm, gắn với sản phẩm đặc sản địa phương.
Các lễ hội như: lễ hội Tràng An, lễ hội Hoa Lư hay sự kiện đại lễ Vesak tại chùa Tam Chúc không chỉ giữ gìn văn hóa truyền thống mà còn trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc, góp phần đưa hình ảnh Ninh Bình ra thế giới. Với không gian văn hóa phong phú của tỉnh Ninh Bình mới:văn hóa cố đô Hoa Lư; tín ngưỡng thờ Mẫu; các lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; khai thác hiệu quả giá trị văn hóa bản địa:nghệ thuật chèo, hát Chầu văn; ẩm thực ba vùng (bánh cuốn Phủ Lý, phở bò Nam Định, cơm cháy dê núi Ninh Bình). Đây thực sự là những “mỏ vàng” để doanh nghiệp tư nhân xây dựng các show diễn thực cảnh ban đêm và các khu chợ đêm ẩm thực đậm chất Bắc Bộ cũng đang là nguồn tài nguyên quan trọng để doanh nghiệp xây dựng các sản phẩm du lịch đêm mang bản sắc riêng, góp phần phát triển du lịch bền vững.
Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số và kinh tế sáng tạo.
Chuyển đổi số và kinh tế sáng tạo mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp du lịch tại Ninh Bình. Doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng:trí tuệ nhân tạo (AI) tích hợp Chatbot trên website/fanpage để hỗ trợ tư vấn lịch trình tham quan Tràng An, Tam Cốc 24/7. Dùng AI phân tích hành vi để gửi ưu đãi phòng hoặc tour phù hợp; thực tế ảo (VR) thực tế tăng cường (AR), xây dựng tour tham quan 3D cho các di tích cố đô Hoa Lư, dùng AR tại điểm đến để du khách quét không gian, xem lại hình ảnh tái hiện lịch sử sống động; thanh toán không tiền mặt kết nối cổng thanh toán quét mã QR (VNPAY, Momo, thẻ quốc tế) trực tiếp trên nền tảng như Cổng thông tin du lịch Ninh Bình để minh bạch doanh thu; quản trị dữ liệu khách hàng (CRM): lưu trữ lịch sử đặt dịch vụ, sở thích ăn uống, đi lại để chăm sóc khách hàng và để chính những du khách trở thành khách hàng trung thành, qua đó, nâng cao chất lượng trải nghiệm du khách và hiệu quả kinh doanh.
3. Thách thức đối diện và những “nút thắt” cần tháo gỡ
Một là, sự thiếu hụt về nguồn lực và quy mô của doanh nghiệp tư nhân địa phương còn nhỏ.
Phần lớn doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Ninh Bình mới có quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ.Nguồn vốn mỏng khiến doanh nghiệp khó lòng đầu tư bài bản cho các sản phẩm kinh tế đêm đòi hỏi công nghệ cao (như hệ thống chiếu sáng nghệ thuật 3D Mapping, nhạc nước, show thực cảnh).Nhân sự du lịch chưa bắt kịp xu hướng vận hành “24/7”, thiếu kỹ năng quản lý rủi ro và dịch vụ giải trí ban đêm. Hoạt động kinh tế ban đêm ở tỉnh Ninh Bình còn thiếu tính đa dạng, mới chỉ khai thác ở quy mô nhỏ, hoạt động mang tính riêng lẻ ở trung tâm thành phố Hoa Lư. Một số loại hình, hoạt động kinh tế ban đêm bước đầu có sự định hướng thúc đẩy của chính quyền các cấp, song định hướng ấy còn chưa thực sự cụ thể, chưa tạo đủ dấu ấn khác biệt so với các hoạt động kinh tế trong các khung giờ truyền thống.
Hai là, nguy cơ đồng điệu, “bão hòa” sản phẩm và xung đột phát triển bền vững.
Phát triển sản phẩm du lịch đêm vẫn còn là mô hình mới, còn nghèo nàn, đơn điệu… Hiện nay, vẫn còn thiếu những cơ chế, chính sách khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào kinh tế ban đêm – một lĩnh vực còn tiềm ẩn không ít rủi ro. Đầu tư hạ tầng logistics, hạ tầng sáng tạo và nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi xanh vẫn là những điểm nghẽn lớn cần được tháo gỡ trong giai đoạn tới. Sự khác biệt về mô hình quản lý, định hướng phát triển, đặc trưng văn hoá và trình độ phát triển không đồng đều giữa các địa phương khiến công tác điều phối, thống nhất chiến lược và phân bổ nguồn lực gặp nhiều khó khăn. Thách thức bền vững: phát triển kinh tế đêm gây áp lực lớn lên môi trường (rác thải nhựa, ô nhiễm tiếng ồn, ánh sáng) và an ninh trật tự tại các vùng lõi di sản, như: Tràng An, Cố đô Hoa Lư. Doanh nghiệp phải cân bằng giữa lợi nhuận và việc bảo tồn bản sắc.Nếu thiếu quy hoạch tổng thể, nhiều địa phương có thể phát triển các mô hình kinh tế ban đêm giống nhau, làm giảm tính đặc sắc và sức hấp dẫn của điểm đến. Nếu phát triển nóng, kinh tế ban đêm có thể gây ra: ô nhiễm môi trường; quá tải hạ tầng; tiếng ồn; xung đột lợi ích với cộng đồng dân cư; suy giảm giá trị di sản. Điều này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận và trách nhiệm xã hội.
Ba là, rào cản pháp lý và cơ chế quản lý.
Hoạt động sau 22h đêm hiện nay vẫn chịu nhiều ràng buộc về an ninh, phòng cháy chữa cháy, quản lý tiếng ồn. Cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho kinh tế đêm chưa thực sự đồng bộ, phù hợp cho tỉnh sau hợp nhất, khiến doanh nghiệp tư nhân còn tâm lý e ngại, “vừa làm vừa run”. Phát triển kinh tế ban đêm cũng kéo theo nhiều hệ lụy tiêu cực nếu không được quy hoạch và quản lý hiệu quả. Chẳng hạn, việc phát triển kinh tế ban đêm sẽ đặt ra yêu cầu về tái cấu trúc không gian đô thị do kinh tế ban đêm trong nhiều trường hợp gây ảnh hưởng lớn đến khu vực dân cư như các vấn đề về hành vi tác động tiêu cực xã hội, ô nhiễm tiếng ồn, tội phạm, lai căng văn hóa và mất ổn định an ninh, trật tự xã hội.
Việc lượng hóa tác động của các vấn đề này lại hầu như không thể chính xác. Đồng thời, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù cho phát triển du lịch – công nghiệp văn hóa – kinh tế đêm. Đầu tư hạ tầng logistics, hạ tầng sáng tạo và nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi xanh vẫn là những điểm nghẽn lớn cần được tháo gỡ trong giai đoạn tới. Sự khác biệt về mô hình quản lý, định hướng phát triển, đặc trưng văn hóa và trình độ phát triển không đồng đều giữa các địa phương khiến công tác điều phối, thống nhất chiến lược và phân bổ nguồn lực gặp nhiều khó khăn.
Bốn là, cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Sau hợp nhất, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ tăng mạnh. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh về:vốn đầu tư; chất lượng dịch vụ; công nghệ; nguồn nhân lực; thương hiệu. Chất lượng sản phẩm du lịch chưa đồng đều, nhiều khu vực khai thác còn đơn lẻ, manh mún, thiếu các sản phẩm đặc trưng gắn với công nghiệp sáng tạo. Liên kết vùng, hạ tầng kết nối và giao thông công cộng giữa các khu, điểm du lịch chưa đồng bộ. Cơ sở vật chất ở nhiều nơi còn hạn chế; chưa có mô hình quản lý thống nhất các dịch vụ du lịch. Các hoạt động sản xuất, phân phối và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ văn hóa của ngành Công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm mới bước đầu hình thành. Các sản phẩm, dịch vụ văn hóa chưa đa dạng, thiếu tính độc đáo và chưa mang lại nhiều giá trị kinh tế; chưa phát triển xứng tầm, chưa phát huy hiệu quả những tiềm năng, lợi thế, giá trị đặc trưng riêng có của địa phương để tạo ra các sản phẩm chủ lực, trọng tâm.
Năm là, hạn chế về nguồn nhân lực chất lượng cao.
Kinh tế ban đêm đòi hỏi đội ngũ lao động có:trình độ ngoại ngữ; kỹ năng phục vụ chuyên nghiệp; năng lực quản lý hiện đại; khả năng ứng dụng công nghệ số. Trong khi đó, nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao tại địa phương vẫn còn thiếu. Nguồn nhân lực du lịch, văn hóa chất lượng cao còn thiếu và yếu. Đội ngũ nghệ sĩ, nhà sáng tạo, chuyên gia thiết kế chưa được đào tạo bài bản; năng lực quản lý nhà nước còn hạn chế. Công tác xúc tiến, quảng bá chưa chuyên nghiệp, thiếu định hướng chiến lược, chưa tận dụng hiệu quả công nghệ số trong truyền thông (UBND tỉnh Ninh Bình, 2025).
Sáu là, hệ thống cơ chế, chính sách cần tiếp tục hoàn thiện.
Các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn liên quan đến:thủ tục đầu tư; quản lý đất đai; cấp phép hoạt động ban đêm; chính sách thuế; cơ chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Sự khác biệt trong cách thức quản lý trước khi hợp nhất cũng đòi hỏi thời gian để thống nhất. Nguồn lực đầu tư cho các lĩnh vực kinh tế đêm, công nghiệp văn hóa còn hạn chế. Các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động sáng tạo văn hóa, sản xuất các sản phẩm, dịch vụ văn hóa chưa nhiều. Kết cấu hạ tầng phục vụ cho sự phát triển công nghiệp văn hóa thiếu đồng bộ. Chính sách, pháp luật về quy hoạch phát triển kinh tế ban đêm còn chung chung chưa thể hiện rõ những yếu tố đặc thù phù hợp với đặc điểm của kinh tế ban đêm nên chưa giải quyết hiệu quả những vấn đề riêng của kinh tế ban đêm. Chính sách, pháp luật còn thiếu những quy định về loại hình, ngành nghề kinh doanh, dịch vụ cũng như ưu đãi đầu tư cho kinh tế ban đêm; chính sách, pháp luật về đầu tư, phát triển hạ tầng cho kinh tế ban đêm chưa cụ thể, mới tạo dựng được những nguyên tắc pháp lý ban đầu giúp thu hút đầu tư vào phát triển hạ tầng, dịch vụ cho kinh tế ban đêm.
Chính sách, pháp luật về du lịch gắn với phát triển kinh tế ban đêm chưa có các quy định cụ thể và mang tính đặc thù cho du lịch đêm, như quản lý tiếng ồn, chiếu sáng, vệ sinh, và bảo đảm an ninh, trật tự. Chính sách, pháp luật về lao động, việc làm cho kinh tế ban đêm chưa cụ thể, mới cung cấp một số quy định cơ bản nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động. Chưa có quy định đặc thù về thuế, phí, các nghĩa vụ tài chính đối với kinh tế ban đêm, mà đang tuân theo các nguyên tắc chung. Thiếu các quy định mang tính nguyên tắc hoặc những hướng dẫn trực tiếp liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường trong kinh tế ban đêm; thiếu chính sách, pháp luật về quảng bá, phát triển thương hiệu cho các dịch vụ và hoạt động đặc thù của kinh tế ban đêm; thiếu chính sách, pháp luật về quản lý nhà nước cho kinh tế ban đêm, chưa có quy định đặc thù cho các dịch vụ và hoạt động diễn ra vào ban đêm; thiếu cơ chế, quy định cụ thể về thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế trong phát triển kinh tế ban đêm (Đinh Sỹ Dung & Kiều Thị Thùy Linh, 2026).
4. Định hướng mục tiêu và đề xuất một số giải pháp
Mục tiêu đến năm 2030: Khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh, bền vững, hiện đại và hội nhập, đóng góp chủ đạo vào tăng trưởng GRDP, ngân sách và tạo việc làm; trong đó đóng góp trên 55% GRDP và 60% vốn đầu tư toàn xã hội; là hạt nhân trong phát triển công nghiệp chế biến, du lịch dịch vụ và kinh tế số. Có đóng góp ngày càng tăng về đổi mới sáng tạo, chuyền đổi xanh và năng lực cạnh tranh vùng. Hình thành các doanh nghiệp đủ khả năng tham gia chuỗi cung ứng quốc tế. Đến năm 2030, có trên 34.000 doanh nghiệp tư nhân hoạt động, trong đó có 15 – 20 doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh vùng; có từ 3- 5 doanh nghiệp có thương hiệu ASEAN với quy mô đầu tư trên 1 tỷ đô la Mỹ. Năng suất lao động tăng trên 9%/năm, gắn với ứng dụng công nghệ số, tự động hóa và đổi mới quản trị nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, góp phần đưa kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GRDP. Hình 3 thành ít nhất 5 cụm liên kết ngành trọng điểm (cụm cơ khí – ô tô – điện tử – công nghiệp hỗ trợ; cụm xi măng – vật liệu xây dựng; cụm nông nghiệp công nghệ cao – chế biến thực phẩm – dược liệu; cụm du lịch – dịch vụ – thủ công mỹ nghệ; cụm năng lượng tái tạo – logistics ven biển) (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026). Để doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển kinh tế ban đêm cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp tư nhân (chủ động tự lực).
Cần đổi mới tư duy liên kết, liên minh: thay vì cạnh tranh manh mún, các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình mới cần chủ động bắt tay hình thành các “Liên minh Du lịch Đêm”. Doanh nghiệp lữ hành liên kết với doanh nghiệp lưu trú và nhà hàng để tạo ra gói Combo đêm hấp dẫn.Đổi mới sáng tạo dựa trên văn hóa cốt lõi: Đầu tư vào các sản phẩm độc bản. Ví dụ: Phát triển tour thuyền đêm Tràng An ngắm trăng/thả đèn hoa đăng sinh học; xây dựng các chuỗi không gian thưởng trà, nghe hát Chèo cổ phong cách hiện đại. Chuyển đổi xanh trong kinh tế đêm: cam kết nói không với rác thải nhựa tại các chợ đêm; ứng dụng năng lượng mặt trời cho hệ thống chiếu sáng; đảm bảo xử lý nước thải du lịch đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường. Chủ động tham gia liên kết vùng du lịch sau hợp nhất. Đầu tư các sản phẩm kinh tế ban đêm mang bản sắc văn hóa địa phương. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh. Thực hiện các tiêu chuẩn du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm. Tăng cường hợp tác công tư trong phát triển hạ tầng du lịch. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Xây dựng các mô hình kinh tế ban đêm gắn với bảo tồn di sản và nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư.
Thứ hai, hoàn thiện và nâng cao chất lượng quy hoạch, rà soát, tổ chức lại không gian phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa phù hợp với đơn vị hành chính mới.
Cần tiến hành nghiên cứu, đánh giá tổng thể tài nguyên du lịch và thực trạng phát triển du lịch làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc quy hoạch, tổ chức lại không gian, định hướng phát triển hạ tầng du lịch phù hợp với địa giới hành chính mới và định hướng phát triển xanh, bền vững gắn với bảo tồn di sản. Quản lý chặt chẽ quy hoạch, kiến trúc cảnh quan đô thị và nông thôn, bảo đảm sự hài hòa giữa khu vực di sản với đô thị.Cho phép áp dụng khung giờ linh hoạt (đến 2h – 6h sáng) đối với một số tổ hợp dịch vụ đêm đạt chuẩn tại trung tâm phường Hoa Lư, mảng du lịch biển.
Có chính sách giảm thuế, tiền thuê đất hoặc hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp tư nhân tiên phong đầu tư vào hạ tầng kinh tế đêm xanh, bền vững. Quản lý chặt chẽ quy hoạch, kiến trúc cảnh quan đô thị và nông thôn, bảo đảm sự hài hòa giữa khu vực di sản với đô thị. Đặc biệt, cần tổ chức không gian phát triển du lịch theo hướng lấy Di sản thế giới Tràng An làm trung tâm động lực, vừa là lõi bảo tồn, vừa là đầu mối kết nối các không gian du lịch của cả tỉnh theo hướng: 1 trung tâm, 2 trục du lịch động lực; 3 không gian chiến lược; 3 vành đai du lịch và 9 cụm du lịch; hướng tới quy hoạch không gian phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng liên kết vùng, xây dựng các cụm văn hóa sáng tạo ở đô thị trung tâm với hạ tầng đồng bộ, phát triển các tuyến du lịch văn hóa – di sản kết nối liên tỉnh, xây dựng bản đồ di sản số và phát triển sản phẩm du lịch theo chủ đề.
Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ về tư duy và quyết liệt trong hành động.
Trọng tâm là chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, đầu tư hạ tầng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và xây dựng thương hiệu quốc gia. Cần tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về vai trò của du lịch và công nghiệp văn hóa để thúc đẩy phát triển kinh tế ban đêm. Nâng cao nhận thức giá trị của văn hóa không chỉ là di sản mà còn là động lực phát triển kinh tế đêm trong đông đảo quần chúng nhân dân để mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đều tham gia vào tiến trình bảo tồn và sáng tạo văn hóa thì công nghiệp văn hóa và kinh tế đêm mới thật sự trở thành động lực phát triển bền vững của tỉnh Ninh Bình mới trong tương lai. Gắn phát triển du lịch với bảo tồn di sản, phát triển kinh tế đêm, coi văn hóa là sức mạnh mềm, thị trường là động lực.
Tiếp tục xác định du lịch là trục động lực định hướng, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực liên quan phát triển theo hướng xanh, thông minh, bền vững và bao trùm, trên nền tảng hệ thống di sản hỗn hợp, độc đáo, cảnh quan sinh thái đa dạng và không gian văn hóa – tâm linh đặc sắc, giàu bản sắc, điển hình của vùng đất cố đô và đồng bằng sông Hồng. Để giúp doanh nghiệp tư nhân có bệ đỡ vững chắc, UBND tỉnh Ninh Bình và các sở, ngành quan tâm: quy hoạch rõ ràng các phân khu kinh tế đêm biệt lập (khu phố ẩm thực, khu bar/pub giải trí, khu tĩnh lặng trải nghiệm văn hóa) để tránh xung đột đời sống dân cư và vùng lõi di sản.
Thứ tư, cần có chính sách, chiến lược thu hút đầu tư phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm.
Theo đó, vừa thu hút các nhà đầu tư chiến lược phát triển các cơ sở dịch vụ du lịch cao cấp, trung tâm vui chơi giải trí, mua sắm, vừa tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp phát triển các loại hình du lịch dựa vào cộng đồng, du lịch đại trà. Trước mắt, cần tập trung thu hút đầu tư phát triển sản phẩm dịch vụ du lịch đẳng cấp quốc tế để sớm khắc phục những hạn chế của du lịch Ninh Bình. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh đa dạng hóa các loại hình, sản phẩm dịch vụ theo hướng gắn với các giá trị văn hóa, ẩm thực, sản phẩm đặc trưng, của địa phương. Với lợi thế hàng trăm làng nghề, cần ưu tiên thúc đẩy phát triển du lịch biển gắn với làng nghề và cộng đồng.
Tăng cường gắn phát triển nông nghiệp, nông thôn mới với phát triển du lịch, xây dựng các thôn xóm xanh, sạch đẹp, an toàn và hấp dẫn trở thành nơi đáng sống, đáng đến với khách du lịch. Hỗ trợ cộng đồng sáng tạo, phát triển các sản phẩm thủ công truyền thống, sản phẩm OCOP, nông sản phục vụ nhu cầu mua sắm, trải nghiệm của khách du lịch. Đồng thời, tạo lập nhiều không gian nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh tổ chức các cuộc thi trực tiếp và trực tuyến về thiết kế, sáng tạo mẫu mã sản phẩm phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của thị trường, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch – văn hoá địa phương (UBND tỉnh Ninh Bình, 2026).
Thứ năm, tập trung xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch – công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm tỉnh Ninh Bình.
Tiếp tục định vị và phát triển thương hiệu du lịch của tỉnh gắn với các giá trị “Thiên nhiên – Di sản – Văn hoá – Lịch sử – Tâm linh – Cộng đồng”; xây dựng và triển khai thống nhất, đồng bộ Bộ nhận diện hình ảnh, thương hiệu du lịch “Tuyệt sắc miền cố đô”. Đồng thời, đổi mới mạnh mẽ phương thức xúc tiến quảng bá, kết hợp các hình thức truyền thông, xây dựng hình ảnh bên trong điểm đến với các phương thức truyền thông, xúc tiến quảng bá hiện đại, thông minh trên các nền tảng số. Phát triển ứng dụng du lịch thông minh, số hóa dữ liệu, sử dụng AI kết hợp với các nền tảng số, mạng xã hội để tiếp cận thị trường khách du lịch quốc tế. Thực hiện các dự án, đề án, kế hoạch truyền thông thường kỳ, mạnh mẽ về du lịch và công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh, đẩy mạnh truyền thông đa kênh, ứng dụng công nghệ số; thực hiện đào tạo đội ngũ thuyết minh viên, hướng dẫn viên tại các điểm đến, đào tạo, hướng dẫn để mỗi người dân sẽ là một “đại sứ du lịch”. Bên cạnh đó, cần tăng cường tham gia các hội chợ, triển lãm du lịch quốc tế và mời các đoàn Famtrip, presstrip, đoàn làm phim đến tỉnh khảo sát và quảng bá hình ảnh du lịch Ninh Bình.
5. Kết luận
Sau hợp nhất ba tỉnh Ninh Bình, Hà Nam và Nam Định, doanh nghiệp tư nhân đứng trước cơ hội lớn để mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa – du lịch và hình thành các sản phẩm kinh tế ban đêm có sức cạnh tranh cao. Kinh tế ban đêm gắn với du lịch bền vững chính là chiếc chìa khóa vàng để doanh nghiệp tư nhân biến tiềm năng di sản thành giá trị kinh tế thực tế. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là những thách thức về nguồn lực, quản trị, môi trường và phát triển bền vững. Vì vậy, doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tư nhân cần đổi mới tư duy, tăng cường liên kết vùng, ứng dụng công nghệ và phát triển các mô hình kinh doanh dựa trên bản sắc văn hóa địa phương; không ngừng đổi mới, sáng tạo, chung sức cùng chính quyền để thắp sáng “kinh tế đêm” Ninh Bình, biến nơi đây thành điểm đến, xanh, sạch và đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần đưa Ninh Bình trở thành trung tâm du lịch và kinh tế ban đêm hàng đầu khu vực đồng bằng sông Hồng.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnhNinh Bình (2025). Nghị quyết số 22-NQ/TU, ngày 28/02/2025 về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2025 – 2035, định hướng đến năm 2050.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2026). Nghị quyết số 07-NQ/ TU, ngày 30/01/2026 về chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá, du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình (2026). Nghị quyết số 10/NQ-TU ngày 30/01/2026 về phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đinh Dũng Sỹ & Kiều Thị Thùy Linh (13/5/2026). Nhận diện kinh tế ban đêm và định hướng hoàn thiện khung chính sách, pháp luật cho phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam. https://vwu.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/nhan-dien-kinh-te-ban-%C4%91em-va-%C4%91inh-huong-hoan-thien-khung-chinh-sach-phap-luat-cho-phat-trien-kinh-te-ban-%C4%91em-o-viet-nam-907501-6601.html
Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình (2025). Đề án và Chính sách phát triển du lịch – công nghiệp văn hoá trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Việt Thắng (30/3/2026). Ninh Bình với mục tiêu trở thành đô thị sáng tạo toàn cầu. Báo Ninh Bình. https://baoninhbinh.org.vn/ninh-binh-voi-muc-tieu-tro-thanh-do-thi-sang-tao-toan-cau-260330072825058.html
Xuân Thu & Hồng Giang, Việt Thắng (19/6/2026). Ninh Bình sau 1 năm thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp: Xây dựng nền quản trị địa phương hiện đại, phục vụ nhân dân tốt hơn. Báo Ninh Bình. https://baoninhbinh.org.vn/ninh-binh-sau-1-nam-thuc-hien-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-xay-dung-nen-quan-tr-260616075659557.html



