Optimizing administrative decision-making processes in multi-stakeholder environments: the roles of policy analysis and public consultation in the current Vietnamese context.
TS. Phạm Văn Phong
Tạp chí Cộng sản
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh nền hành chính Việt Nam đứng trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và thích ứng với các vấn đề mới của kinh tế số, xã hội số, quản trị dữ liệu và rủi ro phi truyền thống, quy trình ra quyết định hành chính ngày càng vận hành trong một “môi trường đa chủ thể”, nơi lợi ích và tiếng nói của cơ quan nhà nước các cấp, doanh nghiệp, các tổ chức đại diện, giới chuyên gia và người dân đan xen, tác động lẫn nhau. Cùng với đó, yêu cầu về tính hợp hiến, hợp pháp, minh bạch, trách nhiệm giải trình đang được đặt ở mức cao hơn trong hệ thống chính trị và hệ thống pháp luật, thể hiện rõ trong Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 16/11/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, nhấn mạnh kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lợi ích nhóm, phát huy giám sát, phản biện xã hội và sự tham gia rộng rãi, thực chất của người dân, tổ chức và doanh nghiệp.
Từ khóa: Tối ưu hóa quy trình ra quyết định; tính hợp hiến; hợp pháp; minh bạch; trách nhiệm giải trình; quyết định hành chính; môi trường đa chủ thể.
Abstract: Against the backdrop of Vietnam’s administrative system facing the need for rapid, sustainable development and adaptation to the new challenges of the digital economy, the digital society, data governance, and non-traditional risks, administrative decision-making processes are increasingly operating within a “multi-stakeholder environment,” where the interests and voices of government agencies at all levels, businesses, representative organizations, experts, and the public intertwine and influence one another. Concurrently, demands for constitutionality, legality, transparency, and accountability are being raised to a higher standard within the political and legal systems, as clearly reflected in Resolution No. 66-NQ/TW dated November 16, 2025, of the Politburo on innovating the work of lawmaking and law enforcement, emphasizing the control of power, anti-corruption, preventing the influence of special interest groups, and promoting oversight, social criticism, and the broad, substantive participation of citizens, organizations, and businesses.
Keywords: Optimizing decision-making processes, constitutionality, legality, transparency, accountability, administrative decisions, multi-stakeholder environment.
1. Đặt vấn đề
Giai đoạn 2025 – 2026 ghi nhận những bước điều chỉnh quan trọng: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 thiết kế lại quy trình theo hướng nhấn mạnh “xây dựng chính sách” gắn với “đánh giá tác động”, “tham vấn chính sách”, “lấy ý kiến” và “phản biện xã hội”, quy định ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số và vai trò của cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong toàn bộ vòng đời làm luật và thi hành pháp luật. Các đo lường độc lập và chính thức, như PAR INDEX và SIPAS cho thấy, cải cách hành chính và mức độ hài lòng của người dân có tiến bộ, nhưng đồng thời bộc lộ thách thức của cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính và phát triển chính phủ số, cũng như nhu cầu tiếp tục nâng cao trách nhiệm giải trình, cơ hội tham gia của người dân và chất lượng phản hồi đối với phản ánh, kiến nghị.
Ra quyết định hành chính là sự lựa chọn có thẩm quyền của Nhà nước nhằm phân bổ nguồn lực, thiết lập quy tắc, tổ chức thực thi và xử lý các vấn đề công. Trong giai đoạn hiện nay, tính “đa chủ thể” trở thành đặc trưng nổi bật, xuất phát từ ít nhất ba động lực cấu trúc.
Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh của chính sách công mở rộng mạnh sang các lĩnh vực mới (dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế nền tảng, an ninh mạng, chuyển dịch xanh…), đòi hỏi tri thức chuyên sâu và bằng chứng đa nguồn, trong khi khu vực tư nhân và cộng đồng chuyên gia nắm giữ nhiều thông tin và năng lực đổi mới. Các luật mới về dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, cùng khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân, cho thấy rõ xu thế này trong chương trình lập pháp giai đoạn gần đây.
Thứ hai, chuyển đổi số đang thay đổi cách thức tương tác giữa Nhà nước và xã hội; công nghệ làm tăng kỳ vọng của người dân về công khai, minh bạch, phục vụ nhanh chóng, cá thể hóa và có phản hồi. Luật Giao dịch điện tử năm 2023 là một nền tảng quan trọng về giao dịch số và hành chính số, tạo điều kiện cho quy trình quyết định hành chính giảm phụ thuộc vào giấy tờ, mở rộng kênh tiếp nhận, xử lý thông tin và ý kiến.
Thứ ba, yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lợi ích nhóm và nâng cao chất lượng thể chế được đặt ở tầm chiến lược; theo đó, sự tham gia thực chất của người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong xây dựng và thi hành pháp luật được nhấn mạnh như một cơ chế tạo đồng thuận xã hội, tăng tính tuân thủ và phòng ngừa rủi ro chính sách.
Những động lực trên làm cho “bài toán tối ưu” trong ra quyết định hành chính thay đổi căn bản. Nếu trước đây tối ưu thường bị đồng nhất với “rút ngắn thời gian ban hành” hoặc “tinh giản thủ tục” thì nay tối ưu phải được hiểu là sự cân bằng động giữa tốc độ, chất lượng, tính chính danh, khả năng thực thi, chi phí tuân thủ và kiểm soát rủi ro. Các chỉ dấu thực chứng gần đây cho thấy, yêu cầu cân bằng này ngày càng “chạm” trực tiếp vào cảm nhận của xã hội.
Báo cáo tóm tắt PAR INDEX 2023 ghi nhận giá trị trung bình chỉ số cải cách hành chính của 17 bộ, cơ quan ngang bộ đạt 84,38%, tăng nhẹ so với năm 20221, đồng thời cho thấy, một số chỉ số thành phần giảm, trong đó có “cải cách thể chế”, “cải cách thủ tục hành chính” và “xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số”. Ở chiều ngược lại, SIPAS 2024 đạt trung bình 83,94% và tăng so với năm 20232; đáng chú ý, SIPAS đo trực tiếp mức độ hài lòng đối với trách nhiệm giải trình về chính sách, cơ hội tham gia của người dân vào quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách và mức độ hài lòng về việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị.
Nghiên cứu quản trị địa phương, PAPI của UNDP đo lường các chiều cạnh như tham gia của người dân ở cấp cơ sở, minh bạch, trách nhiệm giải trình theo chiều dọc, kiểm soát tham nhũng và chính quyền điện tử, qua đó phản ánh trực tiếp mối liên hệ giữa hành chính công và niềm tin xã hội.
Về mặt thể chế vận hành, gánh nặng số lượng và độ phức tạp của hệ thống quy phạm là sức ép khách quan lên chất lượng quy trình quyết định. Báo cáo tổng kết thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp xây dựng, giai đoạn từ ngày 01/7/2016 – 31/12/2023, hệ thống trung ương và địa phương đã ban hành khối lượng văn bản quy phạm pháp luật rất lớn (ở trung ương: hàng nghìn văn bản; ở địa phương: hàng chục nghìn văn bản); đồng thời, phản ánh yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện phương thức làm luật, rà soát, hệ thống hóa và bảo đảm nguồn lực.
Khi “môi trường đa chủ thể” làm gia tăng luồng thông tin và đa dạng lợi ích, quy trình ra quyết định nếu thiếu năng lực phân tích và thiếu cơ chế tham vấn, phản hồi thực chất sẽ đối diện rủi ro kép: một mặt dễ rơi vào hình thức, hợp thức hóa quyết định đã định sẵn; mặt khác có thể bị kéo dài, phân tán trách nhiệm, làm giảm năng lực phản ứng chính sách trong thời gian thực. Do đó, vấn đề đặt ra không chỉ là mở rộng hay thu hẹp tham vấn mà là thiết kế lại toàn bộ quy trình ra quyết định hành chính như một chu trình quản trị chính sách dựa trên bằng chứng, có cơ chế phối hợp liên ngành, có trách nhiệm giải trình và có hậu kiểm, trong đó phân tích chính sách và tham vấn công chúng giữ vai trò “cặp bánh răng” trung tâm: phân tích tạo nền tảng tri thức và kỷ luật ra quyết định; tham vấn tạo nền tảng xã hội và kỷ luật trách nhiệm giải trình.
2. Khung pháp lý và thể chế cho quy trình ra quyết định hành chính
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 quy định trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách thuộc về cơ quan lập đề xuất chính sách; nội dung đánh giá tác động bao gồm ít nhất bốn nhóm: tác động đối với hệ thống pháp luật (tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và tương thích điều ước quốc tế), tác động kinh tế – xã hội dựa trên phân tích dự báo chi phí – lợi ích và tác động tích cực/tiêu cực, tác động về giới (nếu có), và tác động của thủ tục hành chính (nếu có) dựa trên phân tích sự cần thiết của thủ tục. Quy định này mang ý nghĩa “hành chính hóa” chuẩn phân tích chính sách: không coi đánh giá tác động là tùy nghi mà là nghĩa vụ gắn với hồ sơ chính sách và kỷ luật giải trình của cơ quan đề xuất.
Song song với đánh giá tác động, Luật ghi nhận “tham vấn chính sách” như một cấu phần có tổ chức. Nội dung “tham vấn” không chỉ là đăng dự thảo lên mạng mà bao gồm cả việc tổ chức hội nghị tham vấn với Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội và các bộ, cơ quan ngang bộ đối với chính sách liên quan trực tiếp; có thể mời đối tượng chịu tác động, tổ chức đại diện, chuyên gia, nhà khoa học; lãnh đạo cơ quan lập đề xuất phải thuyết trình và giải trình; và cơ quan lập đề xuất phải lập văn bản kết quả tham vấn, nêu rõ quan điểm của các chủ thể được tham vấn. Đồng thời, Luật quy định cơ quan lập đề xuất chính sách phải tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu tác động trực tiếp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội, các đoàn đại biểu Quốc hội, bộ, cơ quan ngang bộ và các chủ thể liên quan.
Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật cũng cho thấy, mối liên hệ giữa quyết định hành chính và kiểm soát chất lượng quy phạm: trong một số trường hợp, cơ quan có thẩm quyền có thể sử dụng nghị quyết hoặc “quyết định hành chính” để bãi bỏ hoặc đình chỉ thi hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật, hoặc khi thay đổi thẩm quyền do sắp xếp, tổ chức bộ máy. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho cơ chế “hậu kiểm” trong tối ưu hóa quy trình: không chỉ làm tốt từ đầu, mà còn phải có đường lui thể chế để sửa sai nhanh, rõ trách nhiệm và minh bạch; Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, tạo nền tảng cho giai đoạn sau ban hành: phát hiện xung đột, chồng chéo, bất cập; xử lý văn bản trái pháp luật và cập nhật hệ thống hóa.
Quyền tiếp cận thông tin và dân chủ ở cơ sở đóng vai trò như điều kiện để tham vấn công chúng đi vào thực chất. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định nguyên tắc cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; đồng thời ghi nhận cơ chế khiếu nại, khởi kiện, tố cáo khi quyền tiếp cận thông tin bị vi phạm và vai trò giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc bảo đảm quyền này. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2025 xác lập nguyên tắc bảo đảm quyền của công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được biết, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát; nhấn mạnh công khai, minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình trong quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sở, cũng như yêu cầu tôn trọng ý kiến đóng góp và kịp thời giải quyết kiến nghị, phản ánh.
Đặc biệt, ở lĩnh vực dữ liệu và quyền riêng tư, việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 cùng Nghị định số 356/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành, cho thấy yêu cầu phối hợp đa chủ thể và quản trị rủi ro ngày càng nổi bật trong quyết định hành chính liên quan tới dữ liệu. Trước khi có Luật, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP đã quy định trách nhiệm liên ngành trong bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong đó thể hiện rõ trách nhiệm của các bộ và địa phương cũng như yêu cầu phát triển nhân lực và thiết lập cơ chế quản trị, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Cùng với Luật Dữ liệu (Luật số 60/2024/QH15, hiệu lực ngày 01/7/2025), hệ thống pháp luật đang tiến tới một không gian quyết định mới: quyết định hành chính trở thành quyết định dựa trên dữ liệu nhưng đồng thời bị ràng buộc chặt chẽ hơn bởi kỷ luật bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm giải trình trong toàn bộ vòng đời xử lý dữ liệu.
3. Phân tích chính sách và tham vấn công chúng trong môi trường đa chủ thể
Trong môi trường đa chủ thể, “phân tích chính sách” không đơn thuần là tổng hợp ý kiến hay mô tả hiện trạng mà là hoạt động tri thức, kỹ thuật nhằm struktur hóa vấn đề công, xây dựng bộ phương án, dự báo hệ quả, xác định rủi ro và lựa chọn công cụ phù hợp với mục tiêu công, từ đó tạo cơ sở cho quyết định có thẩm quyền. “Tham vấn công chúng” không chỉ là kênh thu thập ý kiến mà là cơ chế tạo tính chính danh, phát hiện thông tin phân tán trong xã hội và thiết lập trách nhiệm giải trình của cơ quan ra quyết định. Hai cấu phần này chỉ phát huy đầy đủ khi được đặt trong một kiến trúc quy trình thống nhất, có tiêu chí, có thời hạn, có cơ chế phản hồi và có hậu kiểm.
Về phương diện pháp lý, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã tạo điểm tựa thể chế cho phân tích chính sách bằng quy định bắt buộc đánh giá tác động và cấu phần hồ sơ chính sách. Nội dung đánh giá tác động trong Luật cho phép hình dung một “khung phân tích tối thiểu” mà cơ quan đề xuất phải hoàn thành: tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và tương thích điều ước quốc tế; chi phí, lợi ích và tác động tích cực/tiêu cực với các nội dung kinh tế – xã hội; tác động giới; tác động thủ tục hành chính. Khung này, nếu được thực thi nghiêm, sẽ kéo quy trình quyết định hành chính ra khỏi quán tính “làm theo kinh nghiệm” hoặc “phản ứng theo áp lực”, tiến tới kỷ luật phân tích dựa trên tiêu chí, bằng chứng và dự báo hệ quả.
Tuy nhiên, để phân tích chính sách phù hợp môi trường đa chủ thể, cần mở rộng logic đánh giá tác động theo ba hướng mà khung pháp lý hiện nay cho phép và thực tiễn quốc tế khuyến nghị. (1) Phân tích “phân phối tác động”, tức tác động lên nhóm lợi ích khác nhau, nhất là nhóm yếu thế, bởi chi phí, lợi ích tổng thể có thể che khuất bất bình đẳng trong phân bổ hệ quả. (2) Phân tích “khả năng thực thi” như một thành phần ngang hàng với nội dung chính sách: năng lực tổ chức thực hiện, chi phí tuân thủ, cơ chế phối hợp và điều kiện dữ liệu, công nghệ. (3) Phân tích rủi ro và thích ứng coi rủi ro chính sách là đối tượng phải quản trị.
Các khuyến nghị của OECD cho thấy, nâng chất lượng quy định bằng cách tăng tính thích ứng, hiệu quả, tương xứng với mục tiêu, đồng thời nhấn mạnh sự tham gia có ý nghĩa của các bên chịu tác động; đặc biệt cảnh báo tình trạng thiếu truyền thông và phản hồi về việc ý kiến của xã hội đã ảnh hưởng thế nào tới quyết định khiến đối tượng tham vấn giảm động lực tham gia. Cũng theo các dữ liệu của OECD, “giám sát và kiểm soát chất lượng” thường là điểm yếu nhất trong hệ thống tham vấn của nhiều quốc gia; trong khi đó, các quốc gia có thực hành tham vấn số ở mức hệ thống thường có chất lượng tham gia cao hơn mức trung bình. Điều này gợi mở một nguyên tắc quan trọng cho Việt Nam: tham vấn không thể chỉ đo bằng số lượng góp ý mà phải đo bằng chất lượng quy trình (có công khai, có phản hồi, có kiểm soát chất lượng) và chất lượng ảnh hưởng (ý kiến được xử lý thế nào, đã làm thay đổi gì).
Ở chiều tham vấn, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 tạo một cấu trúc đa tầng: tham vấn chính sách với các cơ quan của Quốc hội và bộ, ngành; lấy ý kiến đối tượng chịu tác động, Mặt trận và tổ chức chính trị, xã hội; phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đăng tải hồ sơ trong thời gian ít nhất 20 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý. Điểm đáng chú ý là Luật không chỉ yêu cầu “lấy ý kiến” mà đặt nghĩa vụ “tiếp thu, giải trình” như một hành vi bắt buộc trong hoàn thiện hồ sơ chính sách và dự thảo. Nghĩa vụ giải trình này, nếu được cụ thể hóa bằng thông lệ công vụ và công nghệ, sẽ là cơ chế gốc tạo niềm tin: xã hội nhìn thấy tác động của tham gia, từ đó nâng mức độ hợp tác và tuân thủ.
Để tham vấn công chúng phù hợp môi trường đa chủ thể, thiết kế tham vấn cần dịch chuyển từ “công bố dự thảo” sang “đối thoại dựa trên bằng chứng”. Điều này bao gồm bốn yêu cầu kỹ thuật nhưng có ý nghĩa chính trị, hành chính. (1) Phân loại đối tượng tham vấn theo mức độ chịu tác động và năng lực cung cấp thông tin: người dân ở khu vực chịu tác động trực tiếp, doanh nghiệp trong ngành, chuyên gia, hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội đại diện nhóm yếu thế. (2) Cung cấp “gói thông tin tham vấn” theo cấu trúc thống nhất: vấn đề, mục tiêu, phương án chính sách, phân tích tác động, rủi ro, câu hỏi tham vấn cụ thể. (3) Thiết lập “hạ tầng xử lý ý kiến”: không chỉ nhận ý kiến mà phải mã hóa, phân loại, trích xuất luận cứ, công khai kết quả tổng hợp và phản hồi. (4) Tích hợp tham vấn vào quản trị vòng đời: tham vấn sớm (chính sách), tham vấn khi dự thảo và tham vấn sau ban hành (hậu kiểm, đánh giá tác động thực tế).
Trong bối cảnh ở Việt Nam, Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt yêu cầu phát huy sự tham gia rộng rãi, thực chất của người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong xây dựng và thi hành pháp luật, đồng thời nhấn mạnh kiểm soát quyền lực, phòng chống lợi ích nhóm, hướng lái chính sách. Điều này cho thấy, tham vấn công chúng không chỉ là “kỹ thuật quản trị” mà là “cơ chế phòng vệ” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: nếu quy trình tham vấn yếu và thiếu phản hồi, rủi ro chính sách không chỉ là kém hiệu quả mà còn là rủi ro về tính chính danh, niềm tin và năng lực huy động nguồn lực xã hội.
4. Giải pháp tối ưu hóa quy trình ra quyết định hành chính
Thứ nhất, chuẩn hóa chu trình ra quyết định hành chính dựa trên phân tích chính sách như một quy trình nghiệp vụ thống nhất, áp dụng cho cả quyết định quy phạm và các quyết định hành chính quan trọng có tác động lớn. Chu trình này cần lấy cấu trúc đánh giá tác động trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 làm “mẫu tối thiểu”, đồng thời bổ sung ba mô-đun nghiệp vụ: bản đồ chủ thể và lợi ích gắn với phân phối tác động; mô-đun khả năng thực thi và chi phí tuân thủ; mô-đun rủi ro, thích ứng (phương án quản trị rủi ro). Trên phương diện pháp lý, đây là việc hoàn thiện đầy đủ nội dung cho nghĩa vụ đánh giá tác động (chi phí – lợi ích, tác động hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính, tác động giới) đã được luật hóa. Về phương diện quản trị, điều này giúp các cơ quan ra quyết định không bị cuốn vào tranh luận cảm tính, mà quy chiếu tranh luận vào tiêu chí và bằng chứng.
Thứ hai, nâng chất lượng tham vấn công chúng bằng cách chuyển từ đăng tải dự thảo sang tham vấn có cấu trúc và có phản hồi bắt buộc, trong đó phản hồi là một phần không tách rời của quyết định hành chính. Luật đã yêu cầu tiếp thu, giải trình và quy định tối thiểu 20 ngày đăng tải hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết. Cần cụ thể hóa bằng ba chuẩn vận hành: chuẩn “gói thông tin tham vấn” (tóm tắt chính sách, cơ sở dữ liệu, phương án và tác động); chuẩn “báo cáo tiếp thu, giải trình” (công khai danh mục vấn đề, nhóm ý kiến, phương án xử lý, lý do tiếp thu/không tiếp thu); chuẩn “báo cáo phản hồi sau tham vấn” theo mô hình phù hợp, nhằm duy trì động lực tham gia và tăng tính chính danh. Tham chiếu quốc tế cho thấy việc công khai báo cáo tóm tắt phản hồi và thời hạn công bố.
Thứ ba, phát triển hạ tầng dữ liệu và công nghệ phục vụ quyết định hành chính, theo hướng vừa tăng năng lực phân tích vừa bảo đảm an toàn dữ liệu và quyền riêng tư. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã đặt ra vai trò của cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và ứng dụng công nghệ số trong xây dựng, ban hành, tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp kiến nghị cụ thể hóa theo hướng xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật “thông minh” và ứng dụng dữ liệu lớn, trợ lý ảo, AI trong soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, rà soát và hệ thống hóa. Tuy nhiên, việc “ra quyết định dựa trên dữ liệu” phải đi cùng “quản trị dữ liệu”: Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP tạo khung trách nhiệm và điều kiện thi hành, đặt ra yêu cầu về đánh giá tác động xử lý dữ liệu, nhân sự bảo vệ dữ liệu và điều kiện đối với dịch vụ xử lý dữ liệu.
Thứ tư, tối ưu hóa cơ chế phối hợp liên ngành theo hướng “một đầu mối chịu trách nhiệm, nhiều đầu mối cung cấp thông tin” nhằm giải quyết xung đột lợi ích và bất cân xứng thông tin. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã thiết kế tham vấn chính sách và cơ chế lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ, Mặt trận, tổ chức chính trị – xã hội, chuyên gia. Vấn đề là cần quy trình hóa phối hợp: xác định rõ cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm cuối cùng về chất lượng phân tích và quyết định; cơ quan phối hợp chịu trách nhiệm cung cấp dữ liệu, phương án kỹ thuật, đánh giá tác động trong phạm vi quản lý. Với chính sách liên ngành như dữ liệu cá nhân, cấu trúc trách nhiệm liên ngành đã được quy định trong Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2013; cần chuyển cấu trúc này thành cơ chế phối hợp thường trực trong thi hành luật.
Thứ năm, thiết lập vòng “hậu kiểm, phản hồi, điều chỉnh” như một phần bắt buộc của tối ưu hóa quy trình. Nghị định số 79/2025/NĐ-CP tạo nền cho kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; Quyết định số 48/2025/QĐ-TTg ngày 12/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ mở kênh phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật trên hệ thống thông tin chuyên trách. Đây là cơ sở để hình thành cơ chế tự sửa sai có trách nhiệm: quy định không phù hợp sẽ được phát hiện qua phản ánh xã hội và kiểm tra pháp lý; cơ quan ban hành có trách nhiệm giải trình, sửa đổi hoặc bãi bỏ và kết quả xử lý phải được công khai. Về mặt hành chính, vòng hậu kiểm giúp giảm sức ép “phải đúng ngay từ đầu” trong điều kiện bất định, đồng thời, đặt ra trách nhiệm thiết kế cơ chế giám sát và tiêu chí kích hoạt sửa đổi.
Chú thích:
1. Kết quả chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX 2023). https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/bao-cao-tom-tat-ket-qua-chi-so-cai-cach-hanh-chinh-nam-2023-par-index-2023-119240417172124352.htm
2. Chỉ số SIPAS năm 2024 đạt trung bình 83,94%, tăng 1,28% so năm 2023. https://nhandan.vn/chi-so-sipas-nam-2024-dat-trung-binh-8394-tang-128-so-nam-2023-post870471.html
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 16/11/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Bộ Tư pháp (2024). Báo cáo tổng kết thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020.
3. Chính phủ (2023). Báo cáo số 139/BC-CP ngày 26/4/2023 tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).
4. Chính phủ (2025). Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
5. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 17/5/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW.
6. Chính phủ (2025). Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
7. Quốc hội (2025). Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
8. Quốc hội (2024). Luật Đất đai năm 2024.
9. Quốc hội (2025). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.
10. Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024.
11. Quốc hội (2023). Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
12. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 48/2025/QĐ-TTg ngày 12/12/2025 ban hành quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị trên hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật.
13. Kết quả chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX 2023). https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/bao-cao-tom-tat-ket-qua-chi-so-cai-cach-hanh-chinh-nam-2023-par-index-2023-119240417172124352.htm
14. Chỉ số SIPAS năm 2024 đạt trung bình 83,94%, tăng 1,28% so năm 2023. https://nhandan.vn/chi-so-sipas-nam-2024-dat-trung-binh-8394-tang-128-so-nam-2023-post870471.html



