Personal financial literacy education for youth in the digital age: International experience and policy implications for Vietnam
TS. Nguyễn Việt Long
FSB – Trường Đại học FPT
Trần Đoàn Anh Quân
Học viên của FSB – Trường Đại học FPT
(Quanlynhanuoc.vn) – Giáo dục năng lực tài chính cá nhân cho thanh thiếu niên là vấn đề được nhiều quốc gia ưu tiên trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là khi thế hệ trẻ ngày nay tiếp cận ngày càng sớm với các công cụ tài chính số. Tại Việt Nam, đây là một vấn đề còn rất mới nhưng rất cần thiết trong bối cảnh đất nước đang phát triển mạnh mẽ. Bài viết tổng hợp một số nghiên cứu quốc tế, phân tích kinh nghiệm xây dựng chính sách từ Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng như xu hướng ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong giáo dục năng lực tài chính cá nhân hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất một số gợi mở giải pháp cho Việt Nam về giáo dục năng lực tài chính cá nhân cho thanh thiếu niên trong kỷ nguyên số1.
Từ khóa: Giáo dục năng lực tài chính cá nhân; thanh thiếu niên; học tập thích ứng; trí tuệ nhân tạo; chính sách giáo dục.
Abstract: Enhancing financial literacy among young people has become a policy priority in many countries, especially as today’s youth increasingly access digital financial tools such as e-wallets, consumer lending apps, and online investment platforms at an early age. In Vietnam, while still an emerging domain, this issue is imperative within the context of the country’s rapid socio-economic development. This article first synthesizes the international literature, analyzing policy frameworks from the United States and China, alongside current trends in integrating technology and artificial intelligence into financial education. Drawing upon the Politburo’s Resolutions on breakthrough developments in education, science, and technology, the study proposes strategic solutions to elevate the digital financial capability of Vietnamese youth.
Keywords: Financial literacy education; youth; adaptive learning; artificial intelligence; educational policy.
1. Đặt vấn đề
Giáo dục năng lực tài chính cá nhân đang được nhiều quốc gia đưa vào chính sách ưu tiên. Khảo sát S&P Global Financial Literacy Survey (2014)2 cho thấy, tỷ lệ hiểu biết tài chính cá nhân cơ bản trên toàn cầu còn rất hạn chế. Ngày nay, với sự phát triển vũ bão của công nghệ, trí tuệ nhân tạo, nền tảng số và mạng xã hội, năng lực tài chính cá nhân càng là thách thức, đặc biệt đối với thế hệ trẻ khi từ rất sớm đã được tiếp cận ví điện tử, ứng dụng vay tiêu dùng, kênh đầu tư trực tuyến, nhưng thiếu nền tảng để sử dụng chúng an toàn và có trách nhiệm – tạo ra những rủi ro tài chính mới có tính cấu trúc. Tuy nhiên, những công nghệ mới, như học tập thích ứng và AI cũng đang mở ra cơ hội để cá nhân hóa trải nghiệm giáo dục năng lực tài chính cá nhân ở quy mô chưa từng có.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu chỉ số quốc tế cho thấy nước ta thuộc nhóm thấp trong khu vực về năng lực tài chính cá nhân (S&P, 2014)3; (Morgan & Trinh, 2019)4, trong khi các nghiên cứu trong nước ghi nhận thế hệ trẻ đặc biệt dễ tổn thương trước các rủi ro tài chính số, bởi vấn đề về giáo dục năng lực tài chính cá nhân cho thanh thiếu niên còn đang rất hạn chế.
2. Thực trạng giáo dục năng lực tài chính cá nhân cho thanh thiếu niên trong kỷ nguyên số
Theo dữ liệu quốc tế, năng lực tài chính cá nhân có khoảng cách lớn giữa các quốc gia và nhóm dân số. Khảo sát S&P Global Financial Literacy Survey (2014)5 trên 148 nền kinh tế ghi nhận các tỷ lệ người trưởng thành có hiểu biết tài chính đạt chuẩn, trong đó có Thái Lan (27%), Indonesia (32%), Malaysia (36%), Singapore (59%), và Việt Nam chỉ đạt 24% (dưới mức trung bình khu vực ASEAN).
Đối với cách tiếp cận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), đã định nghĩa năng lực tài chính là “sự kết hợp giữa nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi cần thiết để đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn và đạt được phúc lợi tài chính cá nhân” (OECD/INFE, 2023)6. Định nghĩa này nhấn mạnh năng lực tài chính cá nhân là tổ hợp hành vi, không đơn thuần là kiến thức lý thuyết, có hàm ý phương pháp luận quan trọng cho thiết kế chương trình đào tạo, và thực tế OECD đã đưa ra bộ tiêu chuẩn OECD/INFE. Các nghiên cứu áp dụng bộ tiêu chuẩn này tại Việt Nam đều ghi nhận vị trí thấp trên bản đồ năng lực tài chính cá nhân. Nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (Morgan & Trinh, 2019)7 sử dụng bộ công cụ chuẩn OECD/INFE ghi nhận điểm năng lực tài chính cá nhân tổng hợp của Việt Nam là 12,0 trên thang chuẩn hóa, nằm ở cuối dải phân phối trong số 30 quốc gia tham gia.
Đối với Gen Z, có thể hiểu là thế hệ của những người sinh trong khoảng từ 1997 – 2012, tức là nhóm còn trẻ và có điều kiện tiếp cận công nghệ vượt trội so với các thế hệ trước, đã có rất nhiều nghiên cứu riêng gần đây. Báo cáo Sun Life Asia Financial Resilience Index (2025)8, khảo sát hơn 6.000 người tại sáu thị trường châu Á, bao gồm cả Việt Nam, ghi nhận Gen Z là nhóm có chỉ số khả năng phục hồi tài chính và mức độ an toàn tài chính tự đánh giá thấp nhất trong tất cả các thế hệ được khảo sát. Tại Việt Nam, nghiên cứu khu vực Hà Nội (Đinh Thế Hùng & Võ Hà Khánh, 2025)9 xác nhận, phần lớn sinh viên Gen Z chưa nắm vững các khái niệm tài chính cơ bản, đồng thời, xác định tương quan thuận giữa trình độ học vấn, bối cảnh gia đình và mức độ hiểu biết tài chính. Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra khó khăn của Gen Z châu Á cũng như ở Việt Nam, và cho thấy rằng, năng lực tài chính khó có thể cải thiện chỉ thông qua tự học, mà cần can thiệp có hệ thống từ chính sách giáo dục.
3. Kinh nghiệm quốc tế về giáo dục năng lực tài chính cá nhân cho thanh thiếu niên trong kỷ nguyên số và xu hướng ứng dụng công nghệ
3.1. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ: từ đạo luật đến hệ sinh thái giáo dục năng lực tài chính
Hoa Kỳ là quốc gia đi đầu trong việc thể chế hóa giáo dục năng lực tài chính bắt buộc tại trường phổ thông. Theo báo cáo của tổ chức phi lợi nhuận Next Gen Personal Finance (NGPF, 2025)10, hiện có 30 tiểu bang yêu cầu học sinh hoàn thành ít nhất một học kỳ tài chính cá nhân độc lập để đủ điều kiện tốt nghiệp trung học. Khi tất cả triển khai đầy đủ, 76% học sinh trung học công lập Hoa Kỳ (lớp tốt nghiệp 2031) sẽ được bảo đảm tiếp cận chương trình này. Tiểu bang đông dân nhất Hoa Kỳ là California đã thông qua đạo luật bắt buộc (Assembly Bill 2927) vào tháng 6/2024 với sự ủng hộ tuyệt đối ở cả hai viện Thượng viện và Hạ viện, trong bối cảnh gần 900.000 cử tri đã ký kiến nghị yêu cầu đưa vấn đề này ra trưng cầu dân ý, phản ánh nhu cầu xã hội rộng rãi.
Thực tiễn tại Hoa Kỳ cho thấy, hiệu quả của chương trình phụ thuộc vào hai yếu tố cốt lõi: (1) Can thiệp sớm (càng sớm càng tốt, để sớm phát triển nhận thức); (2) Chất lượng sư phạm của giáo viên. Nghiên cứu của Jump$tart Coalition (2020)10 ghi nhận kết quả hành vi tài chính tốt hơn đáng kể ở học sinh được học qua chương trình có giáo viên đã nhận được sự chuẩn bị về sư phạm bài bản, đặc biệt ở nhóm có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, cho thấy, đây còn là công cụ giảm bất bình đẳng xã hội. Nghiên cứu như vậy đã khẳng định việc nâng cao năng lực tài chính của thanh thiếu niên cần được tiếp cận như một quá trình giáo dục có hệ thống, thay vì chỉ dựa vào tích lũy kiến thức cá nhân, và cụ thể hơn nữa là cần đầu tư đồng thời vào nội dung chương trình và đào tạo giáo viên.
3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc: chính sách nhà nước và kiểm chứng thực nghiệm
Tại Trung Quốc, Ủy ban Giám sát Ngân hàng từ năm 2013 đã tích hợp nội dung tài chính vào chương trình tiểu học và thiết lập tháng 9 hằng năm là “Tháng giáo dục năng lực tài chính cá nhân” trên phạm vi toàn quốc (Xue Hu, 2017)12. Mô hình này thể hiện cách tiếp cận “Nhà nước dẫn dắt, xã hội phối hợp”, trong đó, chính sách quốc gia tạo khung thể chế, còn các tổ chức tài chính và giáo dục triển khai nội dung cụ thể phù hợp với từng nhóm tuổi.
Đặc biệt, Zhou và cộng sự (Asia-Pacific Education Researcher, 2024)13 thực hiện thực nghiệm với học sinh tiểu học tại Trung Quốc theo học chương trình giáo dục xã hội và tài chính Aflatoun (Aflatoun International là tổ chức phi chính phủ chuyên cung cấp giáo dục xã hội và tài chính cho trẻ em), đã ghi nhận cải thiện đáng kể về các hành vi tiết kiệm thường xuyên, tiêu dùng có cân nhắc và tham gia xã hội, cho thấy tầm quan trọng của việc can thiệp một cách có cấu trúc từ bậc tiểu học trong giáo dục năng lực tài chính.
3.3. Xu hướng ứng dụng công nghệ
Kiến thức tài chính chỉ có thể trở thành năng lực hành vi khi người học được thực hành trong tình huống gắn với thực tế, không phải qua tiếp nhận lý thuyết thụ động, và sự phát triển khoa học công nghệ ngày nay đang mở rộng cánh cửa cho cách tiếp cận này. Nghiên cứu của Contrino và cộng sự (Smart Learning Environments, 2024)14 xác nhận ứng dụng công nghệ để tạo ra công cụ học tập thích ứng cải thiện đáng kể thành tích và sự hài lòng của người học so với phương pháp truyền thống, cụ thể là tăng tỷ lệ hoàn thành khóa học và giảm tỷ lệ bỏ cuộc trong môi trường đại học.
Chen và cộng sự (IEEE Access, 2020)15 nghiên cứu tổng quan về AI trong giáo dục đã xác định rằng AI cho phép theo dõi tiến trình học tập cá nhân và cung cấp phản hồi thời gian thực, góp phần cải thiện hiệu suất học tập. Trong lĩnh vực tài chính, mô hình này có thể được cụ thể hóa qua môi trường mô phỏng thị trường ảo, nơi người học thực hành quản lý dòng tiền, đánh giá rủi ro và ra quyết định đầu tư bằng tiền ảo dựa trên dữ liệu thực – học qua trải nghiệm thay vì qua bài giảng. Estima & Peguinho (2024)16 lưu ý rằng học tập qua mô phỏng và trải nghiệm trực tiếp tạo ra kết quả ghi nhớ và vận dụng tốt hơn đáng kể so với tiếp nhận thụ động, nhất quán với lý thuyết học tập chủ động. Bên cạnh đó, khảo sát sơ bộ tại TP. Hồ Chí Minh của nhóm tác giả cũng nhất quán với các nghiên cứu trên, khi cho thấy các chương trình giáo dục năng lực tài chính có ứng dụng công nghệ và AI để cá nhân hóa, tạo ra công cụ học tập thích ứng, môi trường mô phỏng thị trường ảo để thực hành, sẽ thu hút được thanh thiếu niên ngày nay.
4. Một số gợi mở định hướng giải pháp chính sách cho Việt Nam
Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu cùng với kinh nghiệm quốc tế, từ xu thế thế giới đang ngày càng phát triển giáo dục năng lực tài chính dành cho thanh thiếu niên, đến đặc điểm thế hệ trẻ và tác động của yếu tố công nghệ ngày nay, bài viết gợi mở các nhóm định hướng giải pháp có thể xem xét, quan tâm nghiên cứu thêm trong điều kiện Việt Nam:
Thứ nhất, xem xét việc có thể tích hợp nội dung tài chính cơ bản vào chương trình giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông.
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (viết tắt Nghị quyết số 71-NQ/TW) là đã chỉ đạo đổi mới nội dung giảng dạy để nâng cao hiệu quả giáo dục “pháp luật, kinh tế, tài chính, quốc phòng và an ninh”; đồng thời, xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới và “tích hợp xuyên suốt trong chương trình giáo dục ở tất cả cấp học”, cũng như “chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo”.
Giai đoạn đầu có thể xem xét việc lồng ghép có hệ thống nội dung tài chính cá nhân cơ bản như lập ngân sách, nhận diện rủi ro tài chính số, nguyên tắc tiết kiệm và đầu tư có trách nhiệm… vào các môn học hiện có, ví dụ như: Toán ứng dụng, Giáo dục công dân, Hướng nghiệp. Kinh nghiệm từ Hoa Kỳ và Trung Quốc cho thấy, can thiệp sớm từ bậc tiểu học và trung học cơ sở tạo ra hiệu quả bền vững hơn so với các chương trình bổ sung ở bậc học sau. Bên cạnh đó, thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ công nghệ – bao gồm cả AI – vào giáo dục năng lực tài chính, nhằm tăng cao hiệu quả đào tạo, đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Về phương pháp đánh giá, bộ tiêu chuẩn OECD/INFE có thể được tham chiếu làm khung đầu ra – bảo đảm chương trình đo lường được năng lực hành vi thực tế, phù hợp với tinh thần giáo dục toàn diện của Nghị quyết số 71-NQ/TW. Đây không chỉ là yêu cầu về tri thức, mà còn là đầu tư vào khả năng bảo vệ và phát triển người tiêu dùng tài chính hiệu quả trong tương lai.
Thứ hai, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trang bị kiến thức cơ bản về tài chính cho cộng đồng.
Xây dựng các chương trình nâng cao nhận thức và kiến thức về nhận diện lừa đảo đầu tư trực tuyến, phòng tránh tín dụng đen, và xây dựng thói quen quản lý tài chính lành mạnh trong cộng đồng, đến từng gia đình, người dân. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy một số nước đã rất chú trọng và thành công trong công tác tuyên truyền, xây dựng nhận thức và từ đó tạo ra sự đồng thuận của cả cộng đồng. Đối với Việt Nam, có thể phát huy các cơ quan, tổ chức chính trị – xã hội một cách đồng bộ, triển khai theo hướng có chiều sâu và có tính hệ thống, gắn với hoạt động phong trào thường xuyên nhằm mang lại hiệu quả thiết thực.
Thứ ba, thúc đẩy hợp tác công tư trong đào tạo tài chính.
Xây dựng cơ chế, chính sách để các cơ sở giáo dục hợp tác hiệu quả với các tổ chức công nghệ giáo dục uy tín, bổ sung năng lực thực hành tài chính mà chương trình chính khóa chưa đủ điều kiện trang bị đầy đủ, đúng theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW đã chỉ rõ: “xây dựng cơ chế, chính sách đủ mạnh khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh hợp tác công tư”. Kinh nghiệm Hoa Kỳ cũng cho thấy mô hình hợp tác công tư giữa trường phổ thông và tổ chức phi lợi nhuận đã mở rộng tiếp cận giáo dục năng lực tài chính cá nhân đến 76% học sinh. Ngoài ra, nghiên cứu quốc tế cũng cho thấy mô hình hợp tác công tư này cũng nên được điều tiết theo nguyên tắc minh bạch về mục tiêu học tập, chuẩn hóa phương pháp đánh giá đầu ra, đặc biệt có thể tham khảo bộ tiêu chuẩn OECD/INFE, và tuân thủ quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân người học dưới 18 tuổi.
Thứ tư, xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các mô hình giáo dục năng lực tài chính cá nhân ứng dụng công nghệ.
Lĩnh vực giáo dục năng lực tài chính có ứng dụng công nghệ, nhất là cho thanh thiếu niên, là vấn đề rất mới tại Việt Nam, liên quan đến dữ liệu, công nghệ cao, bảo mật thông tin, lại cần huy động nguồn lực xã hội, thu hút được đối tác tư tham gia, nên cần những cách tiếp cận mới. Sandbox là chìa khóa đã được chỉ rõ trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Và, đặc biệt là trong Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân: “ban hành khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với công nghệ mới, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới”. Một trong những vấn đề cụ thể hiện nay là các mô hình cần kết nối với dữ liệu thị trường thực để tạo môi trường mô phỏng có giá trị sư phạm, và việc này cần có hành lang pháp lý thí điểm. Ranh giới pháp lý giữa “giáo dục năng lực tài chính cá nhân” và “tư vấn đầu tư” đối với người dưới 18 tuổi hiện chưa được xác định rõ ràng, và một cơ chế sandbox có thể giải quyết rào cản pháp lý này trong khi vẫn đảm bảo giám sát và kiểm soát rủi ro.
5. Kết luận
Nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước đã chỉ ra xu thế toàn cầu và sự cần thiết về giáo dục năng lực tài chính cho thanh thiếu niên, một vấn đề mà ở Việt Nam vẫn còn hạn chế. Từ kinh nghiệm trên thế giới, tại Hoa Kỳ, Trung Quốc, cũng như xu thế giáo dục năng lực tài chính cá nhân trong kỷ nguyên công nghệ và AI, bài viết đã đề ra một số gợi mở giải pháp dựa trên nền tảng định hướng từ các Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, có thể ứng dụng cho Việt Nam trong giai đoạn tới, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
1. Bài viết phản ánh kết quả nghiên cứu từ đề án “Xây dựng Kế hoạch kinh doanh cho mô hình đào tạo Hybrid tích hợp AI tại TP. Hồ Chí Minh (2026 – 2029)”, thực hiện trong khuôn khổ chương trình Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh – Viện Quản trị & Công nghệ FSB, Trường Đại học FPT.
2, 3, 5. Standard & Poor’s Ratings Services (2014). S&P global financial literacy survey. Global Financial Literacy Excellence Center (GFLEC), George Washington University. https://gflec.org/initiatives/sp-global-finlit-survey/.
4, 7. Morgan, P. J., Trinh, L. Q. (2019). Determinants and impacts of financial literacy in Cambodia and Viet Nam. Journal of Risk and Financial Management, 12(1), Article 19. https://doi.org/10.3390/jrfm12010019.
6. OECD (2023). OECD/INFE 2023 international survey of adult financial literacy. OECD Business and Finance Policy Papers, No. 39. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/56003a32-en.
8. Sun Life Asia (2025). Sun Life Asia financial resilience index: Balancing today’s needs and tomorrow’s goals. https://www.sunlife.com/en/newsroom/news-releases/announcement/sun-life-asia-financial-resilience-index-reveals-gen-z-as-least-financially-secure-as-inflation-forces-a-shift-to-short-term-thinking/123979/.
9. Đinh Thế Hùng, Võ Hà Khánh (2025). Factors influencing the financial literacy of Gen Z in Vietnam. International Journal of Economics, Business and Management Research, 9(6), 119 – 130. https://doi.org/10.51505/IJEBMR.2025.9624.
10. Next Gen Personal Finance (2025). 2025 state of financial education report. NGPF. https://www.ngpf.org/state-of-fin-ed-reports/.
11. Jump$tartCoalition(2020). Jump$tart Financial Foundations for Educators (J$FFE) student impact study. https://www.jumpstart.org/.
12. Hu, X. (2017). Financial education in China. OECD/GFLEC Global Policy Research Symposium to Advance Financial Literacy, China Banking Regulatory Commission.
13. Zhou, J., Feng, S., Wu, L. và cộng sự (2024). The impact of financial education for children: Evidence from an experiment in China. Asia-Pacific Education Researcher, 33(1), 157 – 169. https://doi.org/10.1007/s40299-023-00716-2.
14. Contrino, M. F., Reyes-Millán, M., Vázquez-Villegas, P., Membrillo-Hernández, J. (2024). Using an adaptive learning tool to improve student performance and satisfaction in online and face-to-face education for a more personalized approach. Smart Learning Environments, 11(1), Article 6. https://doi.org/10.1186/s40561-024-00292-y.
15. Chen, L., Chen, P., Lin, Z. (2020). Artificial intelligence in education: A review. IEEE Access, 8, 75264 – 75278. https://doi.org/10.1109/ACCESS.2020.2988510.
16. Estima, A., Peguinho, C. (2024). Using gamification to promote financial literacy and consumer education among future generations. In Proceedings of the 10th International Conference on Higher Education Advances (HEAd’24). Universitat Politècnica de València. https://doi.org/10.4995/HEAd24.2024.17353.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
3. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
4. National Endowment for Financial Education (2024). Passing legislation is just the beginning: A 2024 legislative review of K-12 financial education requirements. NEFE.



