State management of the digital economy in the tourism sector: a case study of Tuyên Quang province
ThS. Nguyễn Thị Thanh Quý
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên
(Quanlynhanuoc.vn) – Nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ cơ chế quản lý nhà nước đối với kinh tế số trong lĩnh vực du lịch tại tỉnh Tuyên Quang thông qua việc hệ thống hóa dữ liệu thực chứng từ Niên giám thống kê giai đoạn 2021 – 2024. Bằng phương pháp phân tích hệ thống và đánh giá thực thi chính sách, nghiên cứu làm rõ nỗ lực kiến tạo mô hình quản trị hệ sinh thái số của chính quyền địa phương nhằm thay thế phương thức quản lý du lịch truyền thống, dựa trên các trụ cột chiến lược: thể chế, hạ tầng và dữ liệu dùng chung. Kết quả cho thấy, sự bứt phá về quy mô khách du lịch và doanh thu lữ hành. Đặc biệt, nghiên cứu được đặt trong bối cảnh sáp nhập địa giới hành chính năm 2025 để dự báo các thách thức về tích hợp dữ liệu và quy hoạch hạ tầng số liên vùng. Từ đó, các giải pháp quản trị được đề xuất nhằm khơi thông nguồn lực số, đưa du lịch Tuyên Quang phát triển bứt phá và bền vững.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; kinh tế số; du lịch truyền thống; du lịch thông minh, tỉnh Tuyên Quang.
Abstract: This study focuses on elucidating the state management mechanisms for the digital economy in the tourism sector in Tuyên Quang Province through the systematization of empirical data from the Statistical Yearbook for the 2021–2024 period. Using systems analysis and policy implementation evaluation methods, the study clarifies the local government’s efforts to build a digital ecosystem governance model to replace traditional tourism management approaches, based on the strategic pillars of institutions, infrastructure, and shared data. The results indicate a significant surge in tourist numbers and tourism revenue. Notably, the study is set against the backdrop of the 2025 administrative boundary merger to forecast challenges regarding data integration and cross-regional digital infrastructure planning. Consequently, governance solutions are proposed to unlock digital resources, driving Tuyên Quang’s tourism toward breakthrough and sustainable development.
Keywords: Public administration; digital economy; traditional tourism; smart tourism; Tuyên Quang Province.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số đang tái định hình cấu trúc vận hành và năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch, đặc biệt tại các “điểm chạm” chiến lược, như: quảng bá điểm đến, quản lý lưu trú, trải nghiệm dịch vụ và hỗ trợ du khách. Quản lý nhà nước về kinh tế số tác động trực tiếp đến chất lượng hệ sinh thái du lịch thông qua việc thiết lập hạ tầng viễn thông, minh bạch hóa cơ sở dữ liệu di sản và bảo đảm tính an toàn của giao dịch số. Hiệu quả của quá trình này phụ thuộc lớn vào năng lực kiến tạo thể chế và quản trị trải nghiệm số của chính quyền địa phương.
Tại tỉnh Tuyên Quang, bám sát định hướng tại Nghị quyết số 29-NQ/TU ngày 16/6/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVII) về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, du lịch được xác định là ngành kinh tế, quyết định tính bền vững và vị thế tài chính dài hạn của địa phương. Dù đã đạt được những thành tựu nhất định trong số hóa di sản và vận hành các nền tảng du lịch thông minh, song thực tiễn quản lý nhà nước về kinh tế số trên địa bàn vẫn bộc lộ những “nút thắt” hệ thống. Trong bối cảnh sáp nhập địa giới hành chính năm 2025, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh tế số không chỉ là yêu cầu thực tiễn mà còn là nhiệm vụ quản trị cấp thiết để hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch Tuyên Quang phát triển bứt phá.
2. Thực trạng kinh tế số trong lĩnh vực du lịch tại tỉnh Tuyên Quang
Tỉnh Tuyên Quang giáp các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai, Phú Thọ, Thái Nguyên và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sau sắp xếp, toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tuyên Quang. Hiện tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.795,50 km2, quy mô dân số là 1.865.270 người1.
Tuyên Quang là tỉnh có tiềm năng về phát triển du lịch với nhiều loại hình du lịch khác nhau, như: du lịch văn hóa, lịch sử; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh; du lịch cộng đồng… Việc phát triển du lịch được gắn kết chặt chẽ với bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hóa, lịch sử và bản sắc văn hóa các dân tộc. Tỉnh có các địa điểm và các sản phẩm du lịch hấp dẫn, như: Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, Di tích lịch sử cách mạng Căng Bắc Mê, Bảo tàng tỉnh, Bảo tàng ATK Tân Trào, Quảng trường Nguyễn Tất Thành, Quảng trường 26/3; cao nguyên đá Đồng Văn… Du lịch Tuyên Quang đã được vinh danh tại giải thưởng du lịch châu Á với danh hiệu điểm đến mới nổi hàng đầu châu Á (năm 2023), điểm đến Văn hóa hàng đầu châu Á (năm 2024)2.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 đã khẳng định quyết tâm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đây là sự lựa chọn chiến lược, dựa trên tiềm năng phong phú về thiên nhiên, văn hóa và lịch sử cách mạng, đồng thời, thể hiện khát vọng vươn xa của một vùng đất giàu truyền thống. Đặc biệt, tỉnh đặc biệt quan tâm quản lý nhà nước về kinh tế số trong lĩnh vực du lịch.
Một là, thể chế hóa và hệ thống hóa khung khổ pháp lý.
Quản lý nhà nước về kinh tế số tại Tuyên Quang được triển khai dựa trên nguyên tắc nhất quán và quyết liệt trong điều hành. Việc cụ thể hóa Nghị quyết số 29-NQ/TU đã tạo ra một hệ thống văn bản chỉ đạo đồng bộ, bao gồm 5 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và 9 đề án trọng điểm của Ủy ban nhân dân tỉnh. Đặc biệt, việc ban hành các kế hoạch phát triển du lịch hằng năm gắn liền với “Đề án du lịch thông minh” và “Đề án tổng thể truyền thông du lịch giai đoạn 2021 – 2025” đã tạo lập hành lang pháp lý vững chắc, định hướng cho các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình chuyển đổi số ngành dọc một cách có lộ trình.
Bảng 1. Kết quả thực thi chính sách và xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số
Nội dung quản lý | Đơn vị | Kết quả thực hiện (Giai đoạn 2021 – 2024) |
| Văn bản quy phạm pháp luật ban hành | Văn bản | 17 (5 Nghị quyết; 9 Đề án; 3 Kế hoạch) |
| Di tích lịch sử, văn hóa được số hóa | Di tích | 439 |
| Đơn vị dịch vụ trên Cổng du lịch thông minh | Đơn vị | 1.284 |
| Lượt truy cập các nền tảng số du lịch | Lượt | > 5.000.000 |
| Thủ tục hành chính du lịch thực hiện trực tuyến (Mức độ 4) | % | 100% |
Bảng 1 cho thấy, với 17 văn bản chỉ đạo chiến lược và 439 di sản được dữ liệu hóa, tỉnh Tuyên Quang đã tạo lập được hành lang pháp lý minh bạch và nguồn “nguyên liệu số” dồi dào cho ngành Du lịch. Điều này không chỉ giúp xóa bỏ tình trạng bất đối xứng thông tin mà còn thiết lập một môi trường cộng sinh thuận lợi, định hướng cho các thành phần kinh tế tham gia vào lộ trình phát triển du lịch thông minh một cách hệ thống và có chiều sâu.
Bên cạnh đó, hiệu quả quản trị số được khẳng định qua việc duy trì 100% thủ tục hành chính du lịch trực tuyến mức độ 4 và thu hút hơn 5 triệu lượt tương tác trên các nền tảng số. Việc cắt giảm 30% thời gian giải quyết thủ tục không chỉ là bước đột phá trong cải cách hành chính mà còn trực tiếp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến, tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Những con số thực chứng này phản ánh sự chuyển dịch thực chất từ quản lý hành chính thuần túy sang quản trị hệ sinh thái số, tạo đà quan trọng để du lịch Tuyên Quang phát triển bứt phá và bền vững trong giai đoạn mới.
Hai là, kiến tạo hạ tầng số và thiết lập hệ sinh thái dữ liệu dùng chung.
Hạ tầng viễn thông – “trục xương sống” của kinh tế số – được đầu tư mạnh mẽ. Đặc biệt, từ năm 2023, số thuê bao Internet tại Tuyên Quang đã chính thức vượt số thuê bao điện thoại truyền thống, phản ánh xu hướng tiêu dùng số sâu rộng.
Sự vượt trội của thuê bao Internet (718.023) so với thuê bao điện thoại (687.032) vào năm 2024 là minh chứng thực chứng cho quá trình “số hóa” hạ tầng. Việc thuê bao Internet tăng vọt lên mức dự báo 1,55 triệu vào năm 2025 sau sáp nhập đòi hỏi quản lý nhà nước phải sớm tích hợp các hệ thống dữ liệu liên vùng để bảo đảm trải nghiệm số không đứt gãy.
Đáng chú ý, 100% các khu, điểm du lịch động lực, như: Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào, danh thắng Na Hang – Lâm Bình đã được tối ưu hóa hạ tầng kết nối, bảo đảm tính liên tục của trải nghiệm số cho du khách.
Bảng 2. Hạ tầng kỹ thuật viễn thông và Internet tại tỉnh Tuyên Quang
giai đoạn 2021 – 2024
| Chỉ tiêu | Đơn vị | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 (ước tính) |
| Tổng số thuê bao điện thoại | Thuê bao | 719.174 | 700.294 | 675.630 | 687.032 | 1.580.000 |
| Số thuê bao Internet | Thuê bao | 597.620 | 673.249 | 723.593 | 718.023 | 1.550.000 |
| Tỷ lệ phủ sóng tại các điểm du lịch | % | 100% | 100% | 100% | 100% | 100% |
Song song với hạ tầng vật lý, hệ sinh thái dữ liệu số đã bước đầu hình thành qua việc số hóa di sản văn hóa và danh lam thắng cảnh. Việc vận hành Cổng du lịch thông minh (Mytuyenquang.vn) và ứng dụng di động “Tuyen Quang tourism” với dữ liệu cập nhật từ nhiều đơn vị cung ứng dịch vụ (bao gồm lưu trú và ẩm thực) đã thu hút lượng truy cập tăng mạnh, minh chứng cho hiệu quả của việc quản trị dữ liệu trong việc kết nối cung – cầu du lịch.
Ba là, hiệu ứng lan tỏa và đóng góp kinh tế của kinh tế số du lịch.
Chuyển đổi số trong quản lý đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa lên các chỉ số kinh tế. Đặc biệt là sự bứt phá của doanh thu dịch vụ lữ hành – một chỉ số nhạy cảm với công nghệ số. Sự dịch chuyển phương thức quản trị từ trực tiếp sang nền tảng số đã tạo ra những tác động thực chứng lên các chỉ tiêu tăng trưởng.
Giai đoạn 2021 – 2024, du lịch Tuyên Quang đã thu hút 9,8 triệu lượt khách, mang lại tổng thu xã hội 10.613 tỷ đồng, đóng góp 5,2% vào GRDP toàn tỉnh năm 2024. Đặc biệt, doanh thu từ dịch vụ lữ hành năm 2024 đạt 5.509 triệu đồng, ghi nhận mức tăng trưởng đột phá 58,94% so với cùng kỳ. Những con số này phản ánh hiệu quả lan tỏa của kinh tế số trong việc tối ưu hóa giá trị gia tăng của ngành Du lịch địa phương.
Bảng 3: Các chỉ tiêu kinh tế du lịch trọng điểm của tỉnh Tuyên Quang (2021 – 2025)
| Chỉ tiêu | Đơn vị | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 (ước tính) |
| Tổng lượt khách du lịch | Lượt | 1.611.000 | 2.350.000 | 2.650.000 | 2.725.000 | 6.050.000 |
| Doanh thu dịch vụ lữ hành | Triệu đồng | 1.250 | 2.080 | 3.466 | 5.509 | 13.850 |
| Tổng thu xã hội từ du lịch | Tỷ đồng | 1.345 | 2.150 | 2.860 | 4.258 | 18.500 |
| Tỷ trọng trong GRDP toàn tỉnh | % | 3,2% | 3,8% | 4,1% | 5,2% | 8,5% |
Đặc biệt, sau sáp nhập năm 2025, doanh thu lữ hành dự kiến đạt ngưỡng 13.850 triệu đồng. Sự gia tăng đột biến về quy mô tuyệt đối này đặt ra yêu cầu cấp thiết về mặt quản trị: Nhà nước cần sớm hoàn thiện hạ tầng số liên thông để quản lý sự bùng nổ của các đơn vị lữ hành mới sau sáp nhập. Việc doanh thu lữ hành tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng lượng khách (năm 2024 tăng 58,94% so với năm 2023) minh chứng rằng, kinh tế số đang giúp nâng cao hiệu quả khai thác chi tiêu của du khách thông qua các điểm chạm công nghệ, thay vì chỉ dựa vào số lượng khách tham quan thuần túy.
Qua những kết quả nêu trên, có thể nhận thấy:
(1) Về thành tựu, tỉnh đã thành công trong việc kiến tạo môi trường số minh bạch, cắt giảm 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Hệ thống di sản được số hóa tạo ra “nguyên liệu” dồi dào cho các sản phẩm du lịch mới, như: thực tế ảo (VR). Kinh tế số đã trở thành động lực quan trọng đóng góp 5,2% vào GRDP toàn tỉnh năm 2024. Đặc biệt, sự tăng trưởng đột phá 58,94% của doanh thu lữ hành cho thấy, hiệu quả của việc tối ưu hóa giá trị gia tăng thông qua các “điểm chạm” công nghệ và nền tảng tương tác số.
(2) Về hạn chế, nguồn nhân lực là “điểm nghẽn” lớn nhất khi tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn còn thấp. Bên cạnh đó, sau sáp nhập tỉnh, sự phân mảnh dữ liệu giữa các địa phương cũ đòi hỏi một chiến lược tích hợp tốn kém và phức tạp. Phân khúc dịch vụ giải trí thông minh và lưu trú cao cấp (5 sao) còn thiếu vắng, làm hạn chế khả năng khai thác chi tiêu của phân khúc khách hàng tiềm năng. Dấu mốc sáp nhập năm 2025 đặt ra bài toán phức tạp về việc tích hợp hai hệ thống dữ liệu khác nhau thành một hệ sinh thái Big Data thống nhất để phục vụ quy mô dự kiến 1,55 triệu thuê bao internet. Cùng với đó, sự thiếu đồng bộ hạ tầng tại một số khu vực hay năng lực công nghệ và trình độ ngoại ngữ của lực lượng lao động còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của quản trị số.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, thống nhất hệ sinh thái dữ liệu sau sáp nhập. Cần xây dựng nền tảng Big Data chung cho toàn tỉnh bảo đảm tính liên thông dữ liệu du khách, đơn vị lưu trú và dịch vụ lữ hành. Trong đó, việc thống nhất hệ sinh thái dữ liệu du lịch tập trung vào xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ, “đúng, đủ, sạch, sống” để phục vụ chuyển đổi số. Điều này bao gồm tích hợp dữ liệu cơ sở lưu trú, điểm tham quan, và dịch vụ từ các địa phương sáp nhập vào một hệ thống chung nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và trải nghiệm du khách.
Thứ hai, ưu tiên hạ tầng số tại các vùng động lực mới nhằm đẩy mạnh kinh tế số, xã hội số, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư. Trong đó, tập trung hạ tầng viễn thông, phủ sóng băng rộng cáp quang và mạng di động 5G tại các vùng động lực, như: khu du lịch quốc gia Tân Trào, danh thắng Na Hang; các điểm du lịch mới tiếp nhận sau sáp nhập để xóa bỏ khoảng cách số. Cùng với đó, chú ý an toàn, an ninh mạng, bảo đảm an toàn hạ tầng số vững chắc, bảo mật thông tin cho các hệ thống thông minh.
Thứ ba, đào tạo nhân lực số thích ứng. Triển khai các khóa đào tạo kỹ năng số cho lao động trực tiếp trong ngành Du lịch của tỉnh. Tập trung vào việc ứng dụng công nghệ để nâng cao trải nghiệm khách hàng, marketing du lịch, và quản lý vận hành trực tuyến đặc biệt, trong bối cảnh du lịch xanh và cộng đồng. Các chương trình đào tạo bao gồm những kỹ năng, như: sử dụng mạng xã hội, công cụ đặt phòng/tour, xử lý dữ liệu khách hàng, marketing số…
Thứ tư, xây dựng thương hiệu số Tuyên Quang mới. Định vị lại thương hiệu trên các mạng xã hội quốc tế, quảng bá chuỗi liên kết di sản giữa các tiểu vùng trong tỉnh. Cùng với đó, Tỉnh cần tiếp tục quy hoạch, đầu tư nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, khai thác điểm du lịch có tính đặc thù, như: xây dựng Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào trở thành trung tâm giáo dục truyền thống cách mạng của cả nước; Cao nguyên đá Đồng Văn thành khu du lịch quốc gia; cột cờ Quốc gia Lũng Cú trở thành điểm đến nơi địa đầu Tổ quốc; các danh thắng Na Hang – Lâm Bình, Mã Pì Lèng, sông Nho Quế phát triển thành trung tâm du lịch sinh thái, cộng đồng; các lễ hội tiêu biểu, như: Lễ hội Thành Tuyên, Lễ hội hoa Tam giác mạch nâng tầm trở thành sự kiện văn hóa – du lịch mang tầm cỡ quốc tế…
4. Kết luận
Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với kinh tế số du lịch tại Tuyên Quang giai đoạn 2021 – 2024 cho thấy, những bước đi đúng hướng về mặt thể chế và hạ tầng, góp phần quan trọng vào sự bứt phá của ngành lữ hành địa phương. Kết quả đóng góp 5,2% vào GRDP năm 2024 là nền tảng vững chắc để hướng tới mục tiêu 8,5% vào năm 2025 sau sáp nhập. Để bứt phá trong bối cảnh mới, Nhà nước cần tiếp tục phát huy vai trò kiến tạo, tập trung khơi thông điểm nghẽn về nhân lực và hoàn thiện hạ tầng kết nối liên vùng. Chuyển đổi số toàn diện không chỉ là công cụ mà sẽ là chìa khóa để du lịch Tuyên Quang khẳng định vị thế bền vững trên bản đồ du lịch quốc gia.
Chú thích:
1. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
2. Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. https://baotuyenquang.com.vn/du-lich/202509/phat-trien-du-lich-thanh-nganh-kinh-te-mui-nhon-90a6006/
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2021). Nghị quyết số 29-NQ/TU ngày 16/6/2021 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.
2. Chi cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang (2025). Niên giám Thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 2024.
3. Tỉnh ủy Tuyên Quang (2025). Kế hoạch số 575-KH/TU ngày 07/01/2025 sơ kết thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TU ngày 16/6/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XVII) về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh
4. Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2025). Kế hoạch số 24/KH-UBND ngày 07/02/2025 về phát triển hạ tầng số tỉnh Tuyên Quang năm 2025, định hướng đến năm 2030.
5. Di sản văn hóa và phát triển du lịch trong bối cảnh công nghiệp hóa: nghiên cứu thực tiễn tại Ninh Bình. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/31/di-san-van-hoa-va-phat-trien-du-lich-trong-boi-canh-cong-nghiep-hoa-nghien-cuu-thuc-tien-tai-ninh-binh.



