Enhancing strategies for preventing and mitigating marine environmental pollution in Vietnam
Trung tá Hoàng Tiến Thật
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Ô nhiễm môi trường biển đang trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế biển, gia tăng dân số ven biển và mở rộng hoạt động khai thác, du lịch biển đảo. Các nghiên cứu gần đây (2015 – 2025) cho thấy, mức độ ô nhiễm ngày càng gia tăng cả về quy mô lẫn mức độ phức tạp. Các nguồn gây ô nhiễm chính, gồm: rác thải nhựa, vi nhựa, kim loại nặng và suy thoái hệ sinh thái biển. Trước thực trạng đó, cần thực hiện tốt đồng bộ các giải pháp, như: hoàn thiện cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường biển; tăng cường quản lý, giám sát và xử lý vi phạm; nâng cao nhận thức cộng đồng và phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nhằm góp phần bảo vệ môi trường biển Việt Nam theo hướng phát triển bền vững.
Từ khóa: Ô nhiễm môi trường biển; thực trạng; nguyên nhân; giải pháp.
Abstract: Marine environmental pollution is becoming one of the most serious challenges, especially in the context of marine economic development with the increase of coastal populations, and the expansion of marine exploitation and island tourism activities. Recent studies (2015 – 2025) indicate that the level of pollution is rising in both scale and complexity. Major sources of pollution include plastic waste, microplastics, heavy metals, and the degradation of marine ecosystems. In response to this situation, it is necessary to implement comprehensive and synchronized solutions, including the improvement of legal frameworks and policies on marine environmental protection; strengthening management, monitoring, and enforcement; raising public awareness; and promoting the role of social organizations in order to protect Vietnam’s marine environment in a sustainable manner.
Keywords: Marine environmental pollution; current situation; causes; solutions.
1. Đặt vấn đề
Với hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km² và trên 3.000 đảo lớn nhỏ, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng biển lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Biển không chỉ là không gian sinh tồn của hàng chục triệu cư dân ven biển mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Các ngành kinh tế biển, như: khai thác và nuôi trồng thủy sản, du lịch biển đảo, vận tải biển, khai thác dầu khí, năng lượng tái tạo ngoài khơi… đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế quốc dân.
Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước xác định rõ mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường và hệ sinh thái biển. Tuy nhiên, quá trình phát triển nhanh của các ngành kinh tế biển, cùng với tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh mẽ ở các vùng ven biển đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với môi trường biển. Ô nhiễm môi trường biển không chỉ gây suy thoái các hệ sinh thái quan trọng, như: rạn san hô, rừng ngập mặn, cỏ biển mà còn tác động trực tiếp đến sinh kế của cộng đồng cư dân ven biển, làm suy giảm nguồn lợi thủy sản và đe dọa mục tiêu phát triển bền vững.
2. Thực trạng ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
Những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp, thể hiện ở nhiều dạng khác nhau, như: ô nhiễm rác thải nhựa, ô nhiễm hóa chất độc hại, ô nhiễm hữu cơ, tràn dầu, suy thoái hệ sinh thái và suy giảm đa dạng sinh học biển.
(1) Ô nhiễm rác thải nhựa đại dương đang trở thành một trong những thách thức môi trường nghiêm trọng nhất. Theo nhiều nghiên cứu quốc tế, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có lượng rác thải nhựa ra biển lớn trên thế giới. Các vùng biển ven bờ, đặc biệt là khu vực gần các đô thị lớn, khu công nghiệp và cảng biển đang chịu áp lực ô nhiễm nặng nề từ nhiều nguồn khác nhau, “ô nhiễm rác thải nhựa đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách nhất”1. Theo số liệu của Bộ Công Thương Việt Nam năm 2020, Việt Nam là một trong những quốc gia có lượng rác thải nhựa xả ra biển nhiều nhất trên thế giới, với khối lượng rác thải nhựa xả ra biển khoảng 0,28 – 0,73 triệu tấn/năm, tương đương 6% tổng lượng rác thải nhựa ra biển trên toàn thế giới. Việt Nam xếp thứ tư trong danh sách những nước làm phát sinh ô nhiễm nhựa biển trên toàn thế giới, sau Trung Quốc, Indonesia và Philippines2. Hằng năm, một lượng lớn rác thải nhựa từ các hoạt động sinh hoạt, du lịch, công nghiệp và nông nghiệp theo các hệ thống sông ngòi, kênh rạch đổ ra biển. Tại nhiều khu vực bãi biển và đảo du lịch, rác thải nhựa, như: túi nilon, chai nhựa, hộp xốp, đồ ăn, ngư cụ bị bỏ lại… tích tụ ngày càng nhiều, không chỉ gây mất mỹ quan mà còn gây nguy hại trực tiếp cho sinh vật biển. Nhiều loài động vật biển, như: rùa biển, cá, chim biển có thể bị mắc kẹt hoặc nuốt phải rác nhựa, dẫn đến thương tổn hoặc tử vong.
(2) Ô nhiễm nước biển do các chất hữu cơ, kim loại nặng và hóa chất độc hại cũng đang ở mức đáng báo động. Nhiều khu vực ven biển có nồng độ các chất ô nhiễm, như: chì, thủy ngân, cadmium vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Ngoài ra, ô nhiễm biển từ nước thải là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng đối với hệ sinh thái đại dương, khi hàng triệu tấn nước thải sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp từ đất liền đổ thẳng ra biển mà không qua xử lý đầy đủ. Những chất độc hại, như: kim loại nặng, hóa chất, chất dinh dưỡng dư thừa (nitơ, photpho) và vi sinh vật gây bệnh từ nước thải đô thị, nhà máy và khu nuôi trồng thủy sản gây hiện tượng phú dưỡng hóa dẫn đến tảo nở hoa ồ ạt, làm chết hàng loạt cá và sinh vật biển do thiếu oxy. Hệ sinh thái san hô, một trong những tài sản quý giá của biển Việt Nam, đang bị tàn phá nghiêm trọng, “nguyên nhân chủ yếu là do ô nhiễm, biến đổi khí hậu, đánh bắt hủy diệt và hoạt động du lịch không bền vững. Hiện tượng tẩy trắng san hô xảy ra ngày càng thường xuyên, đe dọa đến sự tồn tại của toàn bộ hệ sinh thái biển”3.
(3) Rừng ngập mặn, được ví như “lá chắn xanh” bảo vệ bờ biển cũng đang bị thu hẹp đáng kể. Diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam đã giảm trầm trọng trong vài thập kỷ qua do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nuôi trồng thủy sản không kiểm soát và ô nhiễm môi trường. Sự suy giảm này không chỉ làm mất đi nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật mà còn làm giảm khả năng chống xói mòn bờ biển và hấp thụ carbon. Tình trạng cá chết hàng loạt đã xảy ra tại nhiều vùng biển, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế và làm xói mòn lòng tin của người dân đối với chất lượng môi trường biển. Sự cố môi trường biển nghiêm trọng năm 2016 do nước thải công nghiệp của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh tại bốn tỉnh miền Trung là một ví dụ điển hình, khiến hàng trăm tấn cá chết, ảnh hưởng đến sinh kế của hàng vạn hộ dân ven biển và gây thiệt hại kinh tế ước tính hàng nghìn tỷ đồng4.
Ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân đan xen, phức tạp, bao gồm cả các yếu tố từ hoạt động kinh tế – xã hội, quản lý và ý thức cộng đồng. Hoạt động công nghiệp và khu chế xuất là một trong những nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất. Nhiều nhà máy, khu công nghiệp ven biển có hệ thống xử lý nước thải không đạt chuẩn hoặc thậm chí xả thải trực tiếp ra biển. Các ngành công nghiệp, như: hóa chất, giấy, dệt nhuộm, chế biến thực phẩm thường xả ra môi trường lượng lớn nước thải chứa các chất độc hại. Việc giám sát và xử lý vi phạm còn nhiều hạn chế dẫn đến tình trạng một số doanh nghiệp lợi dụng để xả thải không đúng quy định. Nước thải sinh hoạt từ các đô thị ven biển cũng đóng góp đáng kể vào tình trạng ô nhiễm môi trường biển; sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa nhanh chóng và phát triển các khu công nghiệp, làng nghề đã làm phát sinh lượng lớn nước thải sinh hoạt và công nghiệp. Trong khi đó, hệ thống thu gom và xử lý chất thải ở nhiều địa phương còn hạn chế, khiến một lượng lớn rác thải nhựa, hóa chất nông nghiệp, chất hữu cơ và kim loại nặng theo dòng chảy ra biển. Nhiều thành phố ven biển lớn, như: Hải Phòng, Đà Nẵng, Khánh Hòa có tỷ lệ nước thải sinh hoạt được xử lý đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường còn thấp, “theo thống kê chỉ có khoảng 10 – 15% lượng nước thải sinh hoạt ở các đô thị ven biển được xử lý đạt tiêu chuẩn”5.
Hoạt động khai thác tài nguyên và đánh bắt thủy sản thiếu bền vững; một bộ phận ngư dân vẫn sử dụng các phương pháp khai thác mang tính hủy diệt, như: chất nổ, xung điện, hóa chất độc hại hoặc khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản. Những phương thức này không chỉ làm suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi sinh vật biển mà còn phá hủy các hệ sinh thái quan trọng, như: rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn. Bên cạnh đó, chất thải từ tàu thuyền, dầu mỡ, ngư cụ hỏng hoặc bị bỏ lại trên biển cũng góp phần làm gia tăng ô nhiễm môi trường biển. Bên cạnh đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm quảng canh và bán thâm canh đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường biển. Việc sử dụng thức ăn công nghiệp, thuốc kháng sinh và hóa chất trong nuôi trồng thủy sản đã làm ô nhiễm nguồn nước, tích lũy các chất độc hại trong trầm tích và sinh vật biển. Nước thải từ các ao nuôi chứa hàm lượng cao chất hữu cơ, nitơ, phốt pho được xả trực tiếp ra biển mà không qua xử lý, gây hiện tượng phù dinh dưỡng.
Ngành Du lịch biển có đóng góp quan trọng vào kinh tế nhưng cũng đang tạo ra áp lực lớn lên môi trường biển. Lượng khách du lịch tăng nhanh nhưng hạ tầng và ý thức bảo vệ môi trường chưa theo kịp. Rác thải từ hoạt động du lịch đang gây ô nhiễm nghiêm trọng tại các bãi biển, đặc biệt vào mùa cao điểm, làm phát sinh khối lượng lớn rác thải sinh hoạt, như: túi nilon, chai nhựa, hộp xốp, thức ăn thừa… Trong khi đó, hệ thống thu gom và xử lý rác thải ở một số khu du lịch ven biển chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, dẫn đến tình trạng rác thải bị xả trực tiếp ra bãi biển hoặc theo dòng nước trôi ra biển, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cảnh quan sinh thái. Các hoạt động giải trí, như: lặn biển, câu cá, chèo thuyền… nếu không được quản lý tốt có thể gây tổn hại đến san hô và hệ sinh thái biển. Hoạt động giao thông vận tải biển và cảng biển cũng góp phần gây ô nhiễm đáng kể. Dầu tràn từ tàu thuyền, rác thải từ hoạt động cảng, các tàu chứa các sinh vật ngoại lai có thể gây rối loạn hệ sinh thái biển địa phương. Việt Nam có nhiều tuyến đường biển quốc tế đi qua, rủi ro về sự cố tràn dầu và ô nhiễm từ giao thông biển luôn tiềm ẩn.
Rác thải nhựa từ đất liền là một trong những nguồn ô nhiễm nghiêm trọng nhất. Thói quen sử dụng nhựa dùng một lần còn rất phổ biến ở Việt Nam. Hệ thống quản lý rác thải còn nhiều bất cập, tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở nhiều địa phương chưa cao. Rác thải nhựa từ các hoạt động sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp được thải ra môi trường, theo các dòng sông đổ ra biển và tích tụ lại, tạo thành các “đảo rác” trôi nổi hoặc chìm xuống đáy biển, “ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng còn hạn chế cũng là một nguyên nhân quan trọng”6. Nhiều người dân chưa hiểu rõ tác hại của việc xả rác, đổ chất thải ra biển. Thói quen xả rác bừa bãi, đặc biệt là tại các khu vực công cộng, vẫn còn phổ biến. Sự thiếu nhận thức về tác động dài hạn của hành động cá nhân đối với môi trường biển là một thách thức lớn. Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển còn nhiều bất cập. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa chặt chẽ, việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm còn chưa nghiêm. Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường biển tuy đã được ban hành nhưng việc thực thi còn gặp nhiều khó khăn. Nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường biển còn hạn chế so với quy mô và tính chất phức tạp của vấn đề.
Biến đổi khí hậu cũng đang làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm môi trường biển. Nhiệt độ nước biển tăng, mực nước biển dâng, hiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra thường xuyên hơn đều ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch của biển và làm suy yếu các hệ sinh thái biển, khiến chúng dễ bị tổn thương hơn trước các tác động ô nhiễm.
4. Một số giải pháp
Một là, tiếp tục quán triệt các văn bản của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về bảo vệ môi trường biển, trọng tâm là Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 48-NQ/CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ Phê duyệt “Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”; Luật Biển Việt Nam năm 2012; Luật Bảo vệ môi trường năm 2020…tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường thực thi là ưu tiên hàng đầu. Cần rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường biển cho phù hợp với tình hình thực tế và xu hướng quốc tế. Tăng cường chế độ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển. Áp dụng các hình phạt đủ sức răn đe để ngăn chặn hành vi vi phạm. Các đô thị ven biển cần đầu tư xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường. Các khu công nghiệp, khu chế xuất phải bảo đảm có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoạt động hiệu quả. Các doanh nghiệp phải đầu tư vào công nghệ xử lý nước thải tiên tiến, bảo đảm nước thải đạt tiêu chuẩn quy định trước khi xả ra môi trường.
Hai là, quản lý chặt chẽ rác thải nhựa là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Cần có chính sách hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần, khuyến khích sử dụng các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường. Xây dựng hệ thống thu gom, phân loại và xử lý rác thải hiệu quả, đặc biệt tại các khu vực ven biển. Phát triển nền kinh tế tuần hoàn, tăng cường tái chế và tái sử dụng nhựa. Tổ chức các chiến dịch thu gom rác thải trên biển và bãi biển thường xuyên, có sự tham gia của cộng đồng. Khuyến khích chuyển đổi sang các mô hình nuôi trồng thủy sản thân thiện với môi trường, giảm thiểu sử dụng kháng sinh và hóa chất. Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm. Quy hoạch lại các vùng nuôi trồng thủy sản, bảo đảm phù hợp với khả năng tự làm sạch của môi trường. Khuyến khích phát triển các mô hình nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, thân thiện với môi trường, như: nuôi tuần hoàn, nuôi kết hợp.
Ba là, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái biển cần được ưu tiên. Thiết lập và mở rộng hệ thống các khu bảo tồn biển, bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực có giá trị sinh thái cao. Triển khai các dự án phục hồi rạn san hô, rừng ngập mặn và cỏ biển. Cấm hoặc hạn chế các hoạt động có nguy cơ cao gây tổn hại đến các hệ sinh thái nhạy cảm. Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học để hỗ trợ phục hồi hệ sinh thái biển. Xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn về du lịch sinh thái biển. Hạn chế số lượng du khách tại các khu vực nhạy cảm, áp dụng phí môi trường phù hợp. Nâng cao ý thức của du khách và doanh nghiệp du lịch về bảo vệ môi trường biển. Phát triển các sản phẩm du lịch gắn với bảo vệ môi trường và văn hóa địa phương.
Bốn là, tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng. Đây là giải pháp bền vững, lâu dài, đem lại hiệu quả cao. Đưa nội dung giáo dục về bảo vệ môi trường biển vào chương trình giáo dục ở các cấp học. Tổ chức các chiến dịch truyền thông đại chúng về tác hại của ô nhiễm môi trường biển và vai trò của mỗi người trong việc bảo vệ biển. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động bảo vệ môi trường biển thông qua các chương trình quản lý cộng đồng. Tăng cường nghiên cứu về hiện trạng môi trường biển, các nguồn gây ô nhiễm và tác động của chúng. Phát triển và ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong quan trắc, giám sát môi trường biển. Nghiên cứu và áp dụng các giải pháp công nghệ để xử lý ô nhiễm và phục hồi hệ sinh thái biển. Khuyến khích đổi mới sáng tạo trong phát triển các sản phẩm, vật liệu thay thế thân thiện với môi trường.
Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường biển. Tham gia tích cực các công ước, hiệp định quốc tế về bảo vệ môi trường biển. Học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia tiên tiến trong quản lý và bảo vệ môi trường biển. Hợp tác trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và huy động nguồn lực tài chính quốc tế cho các dự án bảo vệ môi trường biển.
5. Kết luận
Ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam là một vấn đề nghiêm trọng, đòi hỏi sự quan tâm và hành động quyết liệt từ các cấp, các ngành và toàn xã hội. Biển không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn là di sản cần được bảo vệ cho các thế hệ tương lai. Việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường biển không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn đòi hỏi sự tham gia tích cực của doanh nghiệp, cộng đồng và mỗi cá nhân. Mặc dù thách thức còn rất lớn, nhưng với quyết tâm chính trị cao, đầu tư thích đáng, áp dụng các giải pháp khoa học và công nghệ tiên tiến, cùng với sự nâng cao nhận thức của toàn xã hội, Việt Nam hoàn toàn có thể kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển. Hành trình này đòi hỏi kiên trì và nỗ lực lâu dài, nhưng đó là con đường cần thiết để bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và gìn giữ vẻ đẹp, sự phong phú của biển cả Việt Nam cho mai sau.
Chú thích:
1. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 1316/QĐ-TTg ngày 22/7/2021 phê duyệt Đề án tăng cường quản lý rác thải nhựa ở Việt Nam.
2. Bước đầu đánh giá hiện trạng ô nhiễm rác thải nhựa tại một số bãi biển Việt Nam. https://moit.gov.vn/bao-ve-moi-truong/buoc-dau-danh-gia-hien-trang-o-nhiem-rac-thai-nhua-tai-mot-s.html
3, 5. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2021). Hiện trạng môi trường biển Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020. H. NXB. Khoa học và Công nghệ.
4. Nguyên nhân sự cố môi trường gây hải sản chết bất thường ở 4 tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam. https://vpcp.chinhphu.vn/nguyen-nhan-su-co-moi-truong-gay-hai-san-chet-bat-thuong-o-4-tinh-ven-bien-mien-trung-vn-11515378.htm
6. Chính phủ (2023). Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 05/4/2023 phê duyệt chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Quốc hội (2012). Luật Biển Việt Nam năm 2012.
5. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.



