Phát triển mô hình áp dụng biện pháp xử lý thay thế dựa vào cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Developing community-based alternative measures for juveniles in conflict with the law

TS. Đỗ Ngọc Hà
TS. Nguyễn Duy Hiệp
Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích cơ sở thực tiễn của việc phát triển mô hình áp dụng biện pháp xử lý thay thế dựa vào cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và rút ra hàm ý đối với quản lý nhà nước. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát 444 người tại 10 địa bàn, chủ yếu là cán bộ thực thi và hỗ trợ pháp lý ở cấp cơ sở. Kết quả cho thấy, mức độ đồng thuận cao đối với tiếp cận dựa trên quyền trẻ em, bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên và tư pháp phục hồi; đồng thời, các biện pháp giáo dục tại cộng đồng, hỗ trợ học tập, học nghề và trợ giúp pháp lý được đánh giá là cần thiết. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn gặp hạn chế về năng lực chuyên môn, phối hợp liên ngành và nguồn lực hỗ trợ tại cộng đồng. Do đó, bài viết nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế thực thi, tăng cường năng lực đội ngũ thực thi, phát triển hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ và thiết lập cơ chế đánh giá theo kết quả phục hồi.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; biện pháp xử lý thay thế; người chưa thành niên vi phạm pháp luật; tư pháp phục hồi; mô hình dựa vào cộng đồng.

Abstract: This article examines the practical basis for developing community-based alternative measures for juveniles in conflict with the law and draws implications for public administration. The study uses survey data from 444 respondents across 10 localities, mainly frontline implementers and legal support personnel at the grassroots level. The findings show a high level of agreement with a child rights-based approach, the principle of the best interests of the juvenile, and restorative justice; community-based education, educational support, vocational training, and legal aid are also regarded as necessary measures. However, implementation remains constrained by limitations in professional capacity, inter-agency coordination, and community support resources. Accordingly, the article emphasizes the need to improve implementation mechanisms, strengthen practitioner capacity, develop a supportive service ecosystem, and establish outcome-based evaluation for rehabilitation and reintegration.

Keywords: Public administration; alternative measures; juveniles in conflict with the law; restorative justice; community-based model.

1. Đặt vấn đề

Trong tư pháp người chưa thành niên, xu hướng cải cách đương đại chuyển từ mô hình xử lý đặt nặng chế tài sang mô hình dựa trên quyền, trong đó lợi ích tốt nhất của trẻ em, tính tương xứng của biện pháp can thiệp và mục tiêu tái hòa nhập xã hội giữ vị trí trung tâm. Công ước về quyền trẻ em xác lập yêu cầu coi lợi ích tốt nhất của trẻ em là một cân nhắc hàng đầu trong mọi quyết định liên quan đến trẻ em; đồng thời, khẳng định trẻ em bị cho là, bị buộc tội hoặc bị xác định là đã vi phạm pháp luật phải được đối xử theo cách củng cố phẩm giá, giá trị bản thân và khả năng tham gia tích cực vào đời sống xã hội (United Nations, 1989)1. Trên nền tảng đó, Bình luận chung số 24 của Ủy ban Quyền trẻ em tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu mở rộng các biện pháp chuyển hướng, giảm phụ thuộc vào tư pháp chính thức và chỉ sử dụng tước tự do như biện pháp cuối cùng, trong thời gian ngắn nhất cần thiết (Committee on the Rights of the Child, 2019)2. Chuẩn mực quốc tế về tư pháp người chưa thành niên thống nhất ở một điểm cốt lõi: xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật không thể chỉ dựa trên logic kiểm soát hành vi, mà phải đặt trong khuôn khổ phòng ngừa, giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập. Quy tắc Bắc Kinh, Hướng dẫn Riyadh và Quy tắc Havana đều nhấn mạnh vai trò của gia đình, nhà trường, cộng đồng và các biện pháp không tước tự do trong xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật (United Nations, 1985)3, (United Nations, 1990a)4, (United Nations, 1990b)5. Vì vậy, biện pháp xử lý thay thế dựa vào cộng đồng không chỉ là một lựa chọn pháp lý ít nghiêm khắc hơn mà là một công cụ quản trị xã hội nhằm giảm tái phạm và tăng cường phục hồi.

Ở Việt Nam, định hướng này đã được luật hóa ngày càng rõ hơn. Luật Trẻ em năm 2016 đặt nền tảng cho bảo vệ quyền trẻ em; tiếp đó, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 thiết lập khuôn khổ chuyên biệt đối với xử lý chuyển hướng, thủ tục tố tụng, thi hành biện pháp và hỗ trợ tái hòa nhập đối với người chưa thành niên. Nghị định số 355/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 tiếp tục cụ thể hóa một số nội dung thi hành liên quan đến giáo dục tại trường giáo dưỡng, thi hành án phạt tù và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên. Như vậy, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ dừng ở việc khẳng định tính cần thiết của mô hình xử lý thay thế dựa vào cộng đồng mà còn làm rõ những điều kiện quản lý nhà nước để mô hình này vận hành thực chất, liên ngành và bền vững. Bài viết phân tích nền tảng nhận thức, mức độ sẵn sàng và những giới hạn trong thực thi biện pháp xử lý thay thế dựa vào cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật, đồng thời, qua nhận diện các điểm nghẽn, đề xuất hàm ý chính sách theo hướng chuyển trọng tâm từ quản lý vi phạm sang quản trị quá trình phục hồi và tái hòa nhập.

2. Cơ sở lý luận và khung phân tích

Bài viết dựa trên hai trụ cột lý luận là tiếp cận dựa trên quyền và tư pháp phục hồi. Tiếp cận dựa trên quyền đặt người chưa thành niên vào vị trí chủ thể của quyền; vì vậy, mọi biện pháp can thiệp phải được đánh giá không chỉ bằng tính hợp pháp, mà còn bằng mức độ tôn trọng phẩm giá, quyền tham gia, sự phù hợp với lứa tuổi và hiệu quả tái hòa nhập (Committee on the Rights of the Child, 20196; United Nations, 19897). Tư pháp phục hồi bổ sung cho cách tiếp cận này bằng việc dịch chuyển trọng tâm từ trừng phạt sang khắc phục tổn hại, phục hồi quan hệ xã hội và tăng cường trách nhiệm tích cực của người chưa thành niên. Trong logic đó, hành vi vi phạm không chỉ là một sự lệch chuẩn cần kiểm soát mà còn là một đứt gãy xã hội cần được hàn gắn bằng giáo dục, hỗ trợ và sự tham gia của cộng đồng.

Từ hai trụ cột trên, biện pháp xử lý thay thế dựa vào cộng đồng trong bài viết được hiểu là các biện pháp không hoặc hạn chế tối đa việc tước tự do, được tổ chức trong môi trường xã hội thông thường, với sự tham gia phối hợp của gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương và các dịch vụ xã hội có liên quan nhằm thực hiện bốn mục tiêu: (1) Xác lập trách nhiệm đối với hành vi vi phạm; (2) Hạn chế tác động bất lợi của tư pháp chính thức; (3) Hỗ trợ phục hồi cá nhân; (4) Thúc đẩy tái hòa nhập xã hội. Điểm cốt lõi của mô hình này không nằm ở việc “giảm nhẹ” phản ứng của Nhà nước mà ở việc thay đổi bản chất của phản ứng đó: từ kiểm soát đối tượng sang hỗ trợ quá trình phục hồi (quy định trong Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 và Nghị định số 355/2025/NĐ-CP).

Trên cơ sở đó, bài viết sử dụng khung phân tích gồm bốn hợp phần: (1) Nền tảng nhận thức và giá trị nghề nghiệp của đội ngũ thực thi; (2) Mức độ sẵn sàng thể chế và nghiệp vụ đối với các biện pháp thay thế; (3) Năng lực tổ chức thực hiện, gồm phối hợp liên ngành và khả năng vận hành các hoạt động hỗ trợ cộng đồng; (4) Nguồn lực, điều kiện bảo đảm, bao gồm: đào tạo, dịch vụ chuyên gia, hỗ trợ vật chất và cơ chế theo dõi – đánh giá. Khung phân tích này cho phép đọc dữ liệu khảo sát như một chỉ báo về năng lực quản lý nhà nước đối với mô hình xử lý thay thế dựa vào cộng đồng.

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp từ bộ tổng hợp các phát hiện chính của khảo sát MKS1 thuộc đề tài cấp quốc gia về phát triển mô hình áp dụng biện pháp xử lý thay thế dựa vào cộng đồng đối với thanh thiếu niên vi phạm pháp luật. Mẫu khảo sát gồm 444 người tại 10 địa bàn. Cơ cấu mẫu nghiêng rõ về đội ngũ thực thi và hỗ trợ pháp lý ở tuyến cơ sở, trong đó công an (chiếm 42,1%), tư pháp (28,8%), công tố viên (14,0%); người trả lời công tác chủ yếu ở cấp xã (43,7%) và cấp tỉnh (30,4%). Với đặc điểm đó, dữ liệu có giá trị phản ánh tương đối tốt góc nhìn của những chủ thể trực tiếp tham gia vào xử lý, hỗ trợ và tái hòa nhập người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Nền tảng nhận thức thuận lợi cho mô hình xử lý thay thế dựa vào cộng đồng

Kết quả khảo sát cho thấy, nền tảng nhận thức về quyền và nguyên tắc bảo vệ người chưa thành niên trong xử lý vi phạm pháp luật là tương đối tích cực. Tỷ lệ đồng ý rất cao tập trung ở những nguyên tắc cốt lõi như quyền được bào chữa, trợ giúp pháp lý (95,9%), bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên (95,4%), quyền được chăm sóc y tế (95,0%), quyền được trình bày ý kiến (91,9%) và không phân biệt đối xử (90,8%). Đồng thời, mức độ nhận thức về các bảo đảm tố tụng thân thiện cũng khá rõ ở các nội dung như thông báo quyền của người chưa thành niên (92,8%), bảo đảm lợi ích tốt nhất (88,3%), trợ giúp pháp lý (86,1%), bảo vệ quyền riêng tư (80,2%) và sử dụng ngôn ngữ phù hợp (79,7%).

Những kết quả khảo sát cho thấy, nền tảng giá trị nghề nghiệp của mẫu khảo sát khá phù hợp với tiếp cận dựa trên quyền và định hướng tư pháp thân thiện. Tuy nhiên, nhận thức pháp lý của người trả lời vẫn tập trung mạnh vào các văn bản gắn trực tiếp với xử lý vi phạm, trong khi hiểu biết về các văn bản liên quan đến hỗ trợ và bảo đảm quyền còn thấp hơn. Chẳng hạn, tỷ lệ biết đến Luật Trẻ em (55,9%), Bộ luật Tố tụng hình sự (50,2%), Bộ luật Hình sự (45,0%) và Luật Xử lý vi phạm hành chính (41,7%) nhưng thấp hơn rõ rệt ở Luật Thanh niên (27,0%) và Luật Trợ giúp pháp lý (25,0%). Điều này gợi ý rằng, nền tảng nhận thức hiện có tuy tích cực nhưng vẫn thiên về “khung xử lý” nhiều hơn “khung hỗ trợ”, trong khi mô hình cộng đồng chỉ có thể vận hành hiệu quả nếu đội ngũ thực thi có nhận thức cân bằng giữa yêu cầu quản lý vi phạm và yêu cầu phục hồi, hỗ trợ, tái hòa nhập. Do vậy, nền tảng nhận thức tích cực hiện nay là điều kiện cần nhưng chưa phải điều kiện đủ cho một mô hình cộng đồng vận hành đúng tinh thần quyền trẻ em và tư pháp phục hồi (Committee on the Rights of the Child, 20198; United Nations, 19899).

3.2. Sự dịch chuyển từ tiếp cận trừng phạt sang tiếp cận phục hồi

Một phát hiện đáng chú ý là xu hướng giảm kỳ thị đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Tỷ lệ bác bỏ các định kiến tiêu cực tương đối cao, như: quan niệm “hư hỏng, khó sửa chữa” (82,9%), “bản chất là xấu” (76,8%), “luôn tìm cách lấy của người khác” (74,5%) hay “phạt tù là biện pháp tốt nhất” (65,5%). Đồng thời, mức đồng thuận với tư pháp phục hồi cũng rất cao, có 92,7% cho rằng cách tiếp cận này giúp tránh kỳ thị; 91,2% cho rằng tạo cơ hội tái hòa nhập; 87,3% cho rằng góp phần phòng ngừa tái phạm và 87,4% cho rằng giúp người chưa thành niên nhận biết, sửa chữa sai lầm. Những dữ liệu này cho thấy, tư duy phục hồi đã có chỗ đứng tương đối rõ trong nhận thức của đội ngũ thực thi. Tuy nhiên, sự dịch chuyển ấy vẫn chưa hoàn toàn ổn định, vẫn còn 45,3% cho rằng, kỷ luật nghiêm khắc có thể giúp người chưa thành niên sửa chữa sai lầm và 48,2% đánh giá nhận định “người chưa thành niên lười biếng, không muốn học” là “gần đúng”. Như vậy, trong nhận thức thực hành vẫn tồn tại sự đan xen giữa hai hệ quy chiếu: một bên là logic phục hồi, một bên là quán tính kiểm soát – kỷ luật.

Về mặt quản lý nhà nước, đây là điểm rất quan trọng, bởi cải cách mô hình xử lý không chỉ là vấn đề sửa đổi quy định mà còn là quá trình chuyển đổi tư duy nghề nghiệp của các chủ thể thực thi. Quan sát này cũng phù hợp với tinh thần, vốn nhấn mạnh rằng hệ thống tư pháp người chưa thành niên phải hướng đến giảm tác hại của việc tiếp xúc với hệ thống công lý hình sự, mở rộng sự đa dạng hóa và tăng biện pháp không tước tự do (Committee on the Rights of the Child, 2019)10

3.3. Mức độ sẵn sàng và giới hạn trong thực thi các biện pháp cộng đồng

Dữ liệu khảo sát cho thấy, mức độ sẵn sàng khá cao đối với các biện pháp xử lý thay thế và hỗ trợ dựa vào cộng đồng. Các biện pháp được đánh giá “cần thiết” ở mức rất cao, gồm: xin lỗi người bị hại (92,8%), bồi thường thiệt hại (89,4%), giáo dục tại xã/phường (89,2%), học văn hóa (87,6%), trợ giúp pháp lý (86,3%) và quản lý tại gia đình (84,2%). Bên cạnh đó, có 90,1% đồng ý cần hỗ trợ học nghề, việc làm và 88,5% đồng ý cần hỗ trợ tâm lý – xã hội cho người chưa thành niên. Những con số này cho thấy, nhận thức thực hành của đội ngũ thực thi đã nghiêng rõ về các biện pháp không tước tự do, có tính trách nhiệm, có tính phục hồi và có tính cộng đồng. 

Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng về mặt nhận thức chưa đồng nghĩa với sự hoàn chỉnh trong thực thi. Một mặt, người trả lời nhận diện khá rõ các biện pháp chính thức hoặc cưỡng chế hơn là các biện pháp mềm. Tỷ lệ lựa chọn “có” cao ở chuyển đến trường giáo dưỡng (80,0%), giáo dục tại xã/phường (73,4%), chuyển đến cơ sở giáo dục bắt buộc (54,5%) và tăng cường quản lý, giám sát (50,5%), trong khi khiển trách (39,0%) và hòa giải (37,6%) thấp hơn đáng kể. Mặt khác, trong thực tế hỗ trợ cộng đồng, khoảng trống lớn nhất lại nằm ở nguồn lực: hỗ trợ vật chất, tài chính chưa có ở 80,0% trường hợp được phản ánh, còn chương trình hỗ trợ của chuyên gia chưa có ở 57,0%. Điều này cho thấy, hệ thống đã có định hướng đúng, nhưng “cấu phần mềm” của mô hình cộng đồng, như: hòa giải, công tác xã hội, hỗ trợ chuyên gia, hỗ trợ vật chất thiết thực vẫn chưa được phát triển tương xứng. 

Một phát hiện tích cực khác, đó là hoạt động hỗ trợ tại cộng đồng đã có tần suất triển khai tương đối rõ, nhất là liên hệ gia đình (86,5%), phổ biến giáo dục pháp luật (85,7%), hướng nghiệp – dạy nghề (82,8%), hoạt động văn hóa – thể thao (80,3%), dạy học văn hóa (78,7%) và giới thiệu việc làm (77,1%). Kết quả này khá tương thích với khuôn khổ mới của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, trong đó người trực tiếp giám sát tại cộng đồng có trách nhiệm kết nối học văn hóa, học nghề, kỹ năng sống, hoạt động xã hội và phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức liên quan. Tuy nhiên, việc luật hóa cơ chế là điều kiện “cần”, còn điều kiện “đủ” vẫn là năng lực vận hành và bảo đảm nguồn lực thực hiện ở cấp địa phương.

4. Các điểm nghẽn quản lý nhà nước trong tổ chức thực hiện

Từ dữ liệu khảo sát, có thể nhận diện bốn điểm nghẽn chủ yếu của quản lý nhà nước đối với mô hình xử lý thay thế dựa vào cộng đồng.

Thứ nhất, thiếu chiều sâu chuyên môn. Dù phần lớn người trả lời cho biết đã từng được đào tạo, mức năng lực hiện có vẫn thấp đáng kể so với mức năng lực được kỳ vọng, đặc biệt ở các năng lực chuyên biệt liên quan đến làm việc với người chưa thành niên, tư pháp phục hồi, đánh giá nhu cầu, hỗ trợ sang chấn tâm lý và điều phối liên ngành. Điều đó cho thấy đào tạo hiện hành mới chủ yếu dừng ở phổ biến khung pháp lý và quy trình chung.

Thứ hai, phối hợp liên ngành chưa thực chất. Dữ liệu cho thấy mạng lưới thực thi vẫn nghiêng mạnh về trục tư pháp – hành chính, trong đó công an là chủ thể phối hợp thường xuyên nổi trội nhất, còn sự tham gia của các chủ thể khác như luật sư, công tố viên, thẩm phán và các thiết chế hỗ trợ trẻ em chưa đồng đều. Điều này phản ánh một bất cân xứng quen thuộc: Nhà nước hiện diện rõ trong khâu kiểm soát, nhưng phần liên kết với các chủ thể hỗ trợ và phục hồi còn yếu.

Thứ ba, chuẩn thực thi thân thiện chưa được chuyển hóa đầy đủ thành quy trình chuyên môn. Nhiều bảo đảm quyền phổ quát được đánh giá thực hiện tương đối tốt, nhưng những thực hành chuyên sâu theo hướng nhạy cảm với sang chấn và phù hợp tâm lý lứa tuổi lại có tỷ lệ thực hiện thấp hơn đáng kể. Khoảng cách giữa chuẩn mực và năng lực vận hành là dấu hiệu điển hình của một mô hình cải cách đang phát triển theo chiều rộng nhiều hơn chiều sâu (Committee on the Rights of the Child, 2019)11.

Thứ tư, nguồn lực cộng đồng còn mỏng và phân tán. Thiếu hỗ trợ vật chất, thiếu chương trình hỗ trợ của chuyên gia và thiếu gói hỗ trợ tích hợp cho học tập, nghề nghiệp, tâm lý – xã hội và tái hòa nhập cho thấy nhiều địa phương mới có “khung quản lý” mà chưa có “hạ tầng hỗ trợ”. Đây là điểm nghẽn quan trọng nhất, bởi biện pháp xử lý thay thế dựa vào cộng đồng chỉ tạo ra hiệu quả phục hồi khi tồn tại đồng thời năng lực thực thi, cơ chế phối hợp và dịch vụ hỗ trợ đủ dày.

5. Hàm ý chính sách đối với phát triển mô hình xử lý thay thế dựa vào cộng đồng

Thứ nhất, cần chuyển trọng tâm cải cách từ quy định biện pháp sang thiết kế cơ chế thực thi biện pháp. Trong bối cảnh Luật Tư pháp người chưa thành niên và các văn bản hướng dẫn đã tạo lập khuôn khổ pháp lý cơ bản, vấn đề trung tâm hiện nay không phải là bổ sung thêm các mệnh đề nguyên tắc mà là chuẩn hóa quy trình vận hành: đánh giá ban đầu, phân loại nhu cầu, lập kế hoạch hỗ trợ, phân công giám sát, kết nối dịch vụ, theo dõi tiến trình và kết thúc can thiệp. Nếu không hoàn thiện khâu này, cải cách rất dễ dừng ở mức pháp điển hóa chủ trương mà chưa chuyển thành năng lực thực thi ở địa phương.

Thứ hai, tái cấu trúc cơ chế phối hợp liên ngành theo hướng thực chất hơn. Mô hình cộng đồng chỉ hiệu quả khi có đầu mối điều phối rõ ràng, trách nhiệm được lượng hóa và quy trình phối hợp được thiết kế theo chuỗi can thiệp. Công an, tư pháp, giáo dục, trợ giúp pháp lý, lao động – xã hội, y tế, gia đình và các tổ chức xã hội cần được đặt trong cùng một logic quản lý và cùng chịu trách nhiệm đối với kết quả tái hòa nhập. Trong cấu trúc đó, Đoàn Thanh niên có thể là một chủ thể hỗ trợ xã hội quan trọng ở cấp cơ sở, nhưng vai trò này chỉ có ý nghĩa khi được thể chế hóa bằng nhiệm vụ, nguồn lực và chỉ số đánh giá cụ thể.

Thứ ba, cần coi phát triển năng lực là điều kiện hạ tầng của cải cách. Đào tạo trong giai đoạn tới không nên tiếp tục dừng ở phổ biến pháp luật hoặc hướng dẫn quy trình chung, mà phải chuyển sang bồi dưỡng chuyên sâu theo chức năng: phỏng vấn thân thiện, làm việc với sang chấn tâm lý, tư pháp phục hồi, đánh giá nguy cơ – nhu cầu, hỗ trợ gia đình và điều phối liên ngành. Điểm cốt lõi không phải là đào tạo nhiều hơn, mà là đào tạo đúng hơn, sâu hơn và gắn với chuẩn năng lực nghề nghiệp.

Thứ tư, phát triển hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng như một cấu phần bắt buộc của mô hình. Hỗ trợ học văn hóa, học nghề, tư vấn tâm lý – xã hội, trợ giúp pháp lý, hỗ trợ gia đình, hoạt động cộng đồng và hỗ trợ sinh kế tối thiểu không phải là phần phụ trợ, mà là điều kiện để biện pháp cộng đồng tạo ra kết quả phục hồi thực chất. Khác biệt căn bản giữa một mô hình “quản lý đối tượng” và một mô hình “hỗ trợ tái hòa nhập” nằm chính ở độ dày của hệ thống dịch vụ này.

Thứ năm, cần xây dựng cơ chế theo dõi và đánh giá dựa trên kết quả, thay vì chỉ đo lường theo số lượng vụ việc được xử lý. Những chỉ báo như quay lại học tập, tham gia học nghề, tiếp cận trợ giúp pháp lý, tiếp cận tư vấn tâm lý – xã hội, mức độ tham gia của gia đình, hoàn thành nghĩa vụ phục hồi và tái phạm sau can thiệp cần được tích hợp vào hệ thống giám sát chính sách. Chỉ khi có dữ liệu kết quả, Nhà nước mới có thể đánh giá đúng mô hình nào thực sự hiệu quả, phân bổ nguồn lực hợp lý và nhân rộng thực hành tốt (Committee on the Rights of the Child, 201912; United Nations, 198513; United Nations, 198914).

6. Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nền tảng nhận thức cho việc phát triển mô hình xử lý thay thế dựa vào cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật ở Việt Nam là tương đối thuận lợi. Đội ngũ thực thi thể hiện mức đồng thuận cao đối với tiếp cận dựa trên quyền, bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên và tư pháp phục hồi; đồng thời cũng ủng hộ rõ các biện pháp giáo dục tại cộng đồng, hỗ trợ học tập, học nghề, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ tâm lý – xã hội. Tuy nhiên, khoảng cách giữa định hướng chính sách và năng lực tổ chức thực hiện vẫn còn đáng kể. Thiếu chiều sâu chuyên môn, phối hợp liên ngành chưa thực chất, chuẩn thực thi thân thiện chưa đồng đều và nguồn lực cộng đồng còn mỏng là bốn điểm nghẽn chủ yếu đang giới hạn hiệu quả của mô hình.

Vì vậy, phát triển biện pháp xử lý thay thế dựa vào cộng đồng cần được tiếp cận như một quá trình hoàn thiện quản lý nhà nước theo hướng liên ngành, chuyên nghiệp, dựa trên quyền và lấy tái hòa nhập làm đích. Chỉ khi chuyển được từ tư duy xử lý vụ việc sang tư duy quản trị quá trình phục hồi, mô hình cộng đồng mới có thể trở thành một trụ cột thực chất của tư pháp người chưa thành niên ở Việt Nam.

Chú thích:
1, 7, 9, 14. United Nations. (1989). Convention on the Rights of the Child. Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights.
2, 6, 8, 10, 11, 12. Committee on the Rights of the Child (2019). General comment No. 24 (2019) on children’s rights in the child justice system (CRC/C/GC/24). Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights.
3, 13. (United Nations, 1985).  United Nations (1985). United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice (The Beijing Rules). Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights.
4. United Nations. (1990a). United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile Delinquency (The Riyadh Guidelines). Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights.
5. United Nations. (1990b). United Nations Rules for the Protection of Juveniles Deprived of their Liberty. Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2025). Nghị định số 355/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tư pháp người chưa thành niên về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, thi hành án phạt tù tại trại giam và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên.
2. Quốc hội (2016). Luật Trẻ em năm 2016.  
3. Quốc hội (2024). Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024.