One year of implementing the two-tier local government model in Hanoi: emerging issues for ward government development
ThS. Ngô Thị Vân Anh
UBND thành phố Hà Nội
TS. Bùi Thu Chang
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Là địa phương có quy mô dân số lớn, tốc độ đô thị hóa nhanh và giữ vai trò trung tâm chính trị – hành chính quốc gia, Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu trong triển khai mô hình này. Sau một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Hà Nội đã bước đầu đạt được những kết quả quan trọng về tổ chức bộ máy, cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết nhằm xây dựng chính quyền phường tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Bài viết phân tích kết quả bước đầu, những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng chính quyền phường ở Hà Nội trong thời gian tới.
Từ khóa: Hà Nội; chính quyền địa phương hai cấp; chính quyền phường; xây dựng chính quyền; cải cách hành chính.
Abstract: As the political-administrative center of Vietnam with a large population and rapid urbanization, Hanoi has been among the pioneering localities in implementing this model. After one year of operation, the two-tier local government model in Hanoi has achieved significant initial results in organizational restructuring, administrative reform, decentralization, and public service delivery. However, several challenges remain that require further attention to build effective and efficient ward-level governments. This article analyzes the initial achievements, limitations, causes, and proposes solutions to improve the quality of ward-level government building in Hanoi in the coming years.
Keywords: Hanoi; two-tier local government; ward-level government; government building; administrative reform.
1. Đặt vấn đề
Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương là một trong những yêu cầu quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ trương thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc tinh gọn bộ máy, giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Đối với Hà Nội, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là yêu cầu thực hiện chủ trương chung của Trung ương mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của một đô thị đặc biệt với quy mô dân số lớn, tốc độ đô thị hóa cao và yêu cầu quản trị đô thị ngày càng hiện đại. Sau một năm vận hành, việc sơ kết mô hình có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình xây dựng chính quyền phường trong giai đoạn tiếp theo.
2. Thực trạng một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Hà Nội
2.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận về việc hoàn thiện, vận hành mô hình tổ chức mới của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp được đẩy mạnh.
Thành phố đã tổ chức quán triệt, phổ biến kịp thời các nghị quyết, kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các văn bản của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy bằng nhiều hình thức linh hoạt, trực tiếp kết hợp với trực tuyến từ thành phố đến cơ sở; tổ chức 12 hội nghị quán triệt với 44.703 lượt cán bộ, đảng viên tham dự; tổ chức 62 lớp tập huấn với 30.766 lượt cán bộ tham gia. 100% cấp ủy, cơ quan, đơn vị và 126 xã, phường tổ chức sinh hoạt chuyên đề, tập huấn, phố biến quy trình vận hành mô hình mới, bảo đảm 100% cán bộ chủ chốt, đảng viên được tiếp cận đầy đủ các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương và Thành ủy (Thành ủy Hà Nội, 2026). Nội dung quán triệt tập trung làm rõ yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị địa bàn, phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, trách nhiệm người đứng đầu trong điều kiện không còn tổ chức chính quyền cấp huyện.
Thứ hai, công tác lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả.
Trong quá trình triển khai, thành phố đã kịp thời cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương thành hệ thống văn bản lãnh đạo, chỉ đạo: Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành 321 văn bản; HĐND thành phố ban hành 92 văn bản; UBND thành phố và các sở, ngành ban hành 422 văn bản, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội ban hành 39 văn bản; các cấp ủy, chính quyền cơ sở ban hành trên 35.000 văn bản để tổ chức thực hiện. Các văn bản được ban hành bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thống nhất và bám sát thực tiễn; tập trung giải quyết những vấn đề cốt lõi của quá trình chuyển đổi mô hình như tổ chức bộ máy, công tác cán bộ, phân cấp, phân quyền, chuyên đổi số, cải cách hành chính, quản lý tài chính, tài sản công và tô chức hoạt động của hệ thống chính trị trong điều kiện không còn cấp huyện. Đây là cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng bảo đảm toàn bộ quá trình sắp xếp và vận hành mô hình mới được triển khai thông nhất trên phạm vi toàn thành phố.
Cùng với việc cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, thành phố đã tiến hành rà soát toàn diện hệ thống văn bản, quy định, quy chế và quy trình công tác; sửa đổi, bổ sung, ban hành mới 163 văn bản; bãi bỏ 7 văn bản không còn phù hợp; ban hành 29 quy chế làm việc và 42 quy trình nội bộ theo nguyên tắc “6 rõ”. 126/126 đảng ủy phường, xã hoàn thành việc ban hành quy chế làm việc của cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra đảng ủy và các quy chế phối hợp liên quan (Thành ủy Hà Nội, 2026).
Thứ ba, công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành thường xuyên
Từ 01/7/2025 đến nay, Ban Thường vụ Thành ủy đã tổ chức 4 cuộc kiểm tra, giám sát với 58 đoàn công tác đối với các cấp ủy, cơ quan, đơn vị và 126 phường, xã; Ủy ban Kiểm tra Thành ủy, HĐND thành phố và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố tổ chức 38 cuộc giám sát chuyên đề. Nội dung tập trung vào việc triển khai các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Thành phố; vận hành chính quyền địa phương hai cấp; công tác cán bộ, quản lý biên chế, phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số, giải ngân đầu tư công, quản lý đất đai, trật tự xây dựng và công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Đặc biệt, thực hiện Quyết định số 332-QĐ/TU, ngày 01/12/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy, 20 đoàn giám sát do các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Thành ủy viên làm trưởng đoàn đã trực tiếp làm việc với các sở, ngành, và phường, xã để đánh giá toàn diện việc tổ chức và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp sau sắp xếp. Đây là đợt giám sát có quy mô lớn, được triển khai đồng bộ trên toàn Thành phố, cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Thành phố. Ủy ban Kiểm tra Thành ủy thực hiện giám sát thường xuyên đối với 21 nội dung trọng tâm, tập trung vào tiến độ xử lý các điểm nghẽn lớn của Thành phố, công tác giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm, các công trình theo Nghị quyết số 258/2025/QH15 của Quốc hội và các nhiệm vụ cấp bách về quản lý đô thị, phòng chống ngập úng.
Ở cấp cơ sở, các đảng ủy trực thuộc đã tổ chức 530 cuộc kiểm tra, 1.386 cuộc giám sát gắn với trách nhiệm người đứng đầu và việc thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp, ủy quyền. Thông qua kiểm tra, giám sát, đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế trong quản lý đất đai, trật tự xây dựng, cải cách hành chính, đầu tư công và thực thi công vụ, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, hạn chế vi phạm từ sớm, từ cơ sở và giữ vững ổn định địa bàn (Thành ủy Hà Nội, 2026).
Thứ tư, về đơn vị hành chính cấp xã, tổ chức bộ máy, biên chế hiện nay ở cấp thành phố, cấp xã được tinh gọn và hoạt động tương đối hiệu quả.
Về số lượng, phân loại đơn vị hành chính cấp xã: thực hiện chủ trương của Trung ương về sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thành phố Hà Nội đã giảm từ 526 xã, phường, thị trấn xuống còn 126 xã, phường; giảm 400 đơn vị hành chính cấp xã, tương ứng khoảng 76%; đồng thời, kết thúc hoạt động của 30 quận, huyện, thị xã. Cấp xã sau sắp xếp trực tiếp quản lý 5.463 thôn, tổ dân phố; toàn thành phố có diện tích 3.334,70 km2, dân số 8.855.946 người, mật độ bình quân chung khoảng 2.647,8 người/km2.
Theo Quyết định số 2655/QĐ-UBND ngày 25/5/2026 của UBND thành phố về phân loại đơn vị hành chính cấp xã, Hà Nội hiện có 51 phường và 75 xã, trong đó 109 đơn vị hành chính loại I, 16 đơn vị hành chính loại II, 1 đơn vị hành chính loại III. Kết quả phân loại cho thấy quy mô, tính chất và yêu cầu quản trị giữa các phường, xã có sự khác biệt rất lớn.
Về tổ chức bộ máy cấp thành phố và cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Thành phố đã hoàn thành sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đồng bộ với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm bám sát chủ trương của Trung ương và phù hợp với yêu cầu quản trị Thủ đô và đặc điểm của đô thị đặc biệt. Tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội từ thành phố đến phường, xã được kiện toàn đồng bộ, thống nhất và đưa vào vận hành ổn định ngay từ thời điểm thực hiện mô hình.
Bảng 1: Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị thành phố theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp
| Trục tổ chức | Cấp thành phố | Cấp xã |
| Khối Đảng | 5 cơ quan tham mưu, giúp việc; 2 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Thành uỷ; 132 đảng bộ trực thuộc Thành uỷ (126 đảng bộ xã, phường, 2 đảng bộ lực lượng vũ trang và 4 đảng bộ cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp) | 126 đảng bộ xã phường; 378 cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng; 30 trung tâm chính trị tại 30 xã, phường nơi đặt trụ sở trung tâm chính trị của cấp huyện trước đây. |
| Khối HĐND | Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố, 5 Ban HĐND thành phố | 126 Thường trực HĐND; 252 Ban HĐND cấp xã |
| Khối UBND | 15 sở; 1 cơ quan tương đương sở; 9 chi cục; 167 phòng thuộc sở; 290 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc sở; 19 đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND thành phố | 126 Văn phòng HĐND và UBND; 378 phòng chuyên môn; 126 điểm phục vụ hành chính công; các đơn vị sự nghiệp thiết yếu |
| Khối MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội | UB MTTQ Việt Nam thành phố; 5 tổ chức chính trị – xã hội; 6 hội quần chúng; 10 đơn vị sự nghiệp trực thuộc | 126 UB MTTQ cấp xã và các tổ chức chính trị – xã hội. |
Về công tác cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị: đến tháng 5/2026, toàn thành phố có 128.795 cán bộ, công chức, viên chức; trong đó cấp xã có 109.800 người, chiếm khoảng 85% tổng số cán bộ, công chức, viên chức toàn thành phố. Cơ cấu được điều chuyển theo hướng tăng cường cho cơ sở, phù hợp với yêu cầu tổ chức bộ máy và phân công nhiệm vụ sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ đại học và sau đại học đạt trên 94%; đội ngũ lãnh đạo, quản lý và công chức chuyên môn cơ bản được bố trí đúng chuyên ngành, lĩnh vực công tác. Đáng chú ý, mặc dù số lượng công chức hiện có mới đạt khoảng 88,8% biên chế được giao, song đội ngũ công chức trong hệ thống chính trị cấp xã cơ bản đáp ứng yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Kết quả rà soát cho thấy, có 7.892/7.938 công chức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm, đạt khoảng 99,42%.
Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thành phố đã tổ chức 62 lớp tập huấn với 30.766 lượt cán bộ tham gia; 22 lớp bồi dưỡng chuyên đề cho gần 4.000 lượt cán bộ, công chức; triển khai 27 lớp Trung cấp lý luận chính trị với 1.890 học viên và cử 282 cán bộ tham gia xét tuyến Cao cấp lý luận chính trị năm 2026. Nội dung đào tạo tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm như tổ chức bộ máy, phân cấp, ủy quyền, quản lý nhà nước ở cơ sở, cải cách hành chính, chuyên đổi số, quản lý đất đai, đầu tư công, tài chính- ngân sách, quản lý đô thị, kỹ năng lãnh đạo, điều hành và xử lý tình huống thực tiễn.
Về công tác đánh giá cán bộ, năm 2025 có 121/691 cán bộ diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (17,51%); 691/691 đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; quý I/2026 có 71/647 đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (11%) và 574/647 đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ (88,7%). Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức toàn thành phố, có 9.734 đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 88.672 đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Về chế độ, chính sách, thành phố đã thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện sắp xếp, tinh giản theo quy định Nghị định số 178/2024/NĐ-CP và Nghị định số 67/2025/NĐ-CP; phê duyệt danh sách đối với 4.310 trường hợp với tổng kinh phí 4.175 tỷ đồng, đạt tỷ lệ chi trả 100%. Đồng thời, triển khai thực hiện chủ trương kết thúc sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, bảo đảm đúng quy định, công khai, minh bạch và ổn định tình hình cơ sở.
2.2. Những khó khăn sau một năm vận hành
Cùng với việc kết thúc hoạt động của 30 quận, huyện, thị xã, nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước, điều phối phát triển, hướng dẫn chuyên môn và hỗ trợ cơ sở được chuyển trực tiếp lên cấp thành phố và cấp xã, làm gia tăng đáng kể khối lượng công việc, phạm vi quản lý và yêu cầu điều hành.
Một số phường, xã có khối lượng công việc và áp lực quản lý rất lớn nhưng cơ chế tổ chức bộ máy, biên chế và vị trí việc làm chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm đó. Điều này ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và khả năng bố trí nguồn lực phù hợp với yêu cầu thực tế.
Bên cạnh đó, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức phường chưa đồng đều. Cơ sở vật chất và hạ tầng số ở một số nơi còn bất cập. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị cần tiếp tục hoàn thiện.
3. Những vấn đề đặt ra đối với xây dựng chính quyền phường ở Hà Nội
Những chuyển đổi trên cho thấy, sau một năm vận hành, yêu cầu đặt ra đối với Hà Nội trong xây dựng chính quyền phường, xã hiện nay:
Một là, năng lực thực thi của chính quyền phường, xã phải tương thích với yêu cầu nhiệm vụ mới. Khối lượng nhiệm vụ tăng và tính chất công việc phức tạp hơn đang làm thay đổi căn bản yêu cầu vận hành của chính quyền phường, xã. Cán bộ, công chức phường không chỉ thực hiện quy trình hành chính thông thường, mà còn phải xử lý nhiều công việc liên quan đến pháp luật, dữ liệu, kỹ thuật chuyên ngành, phối hợp liên thông và quan hệ trực tiếp với người dân. Vì vậy, năng lực thực thi ở phường cần được hiểu rộng hơn, bao gồm năng lực phân tích tình huống, vận dụng pháp luật, phối hợp với cơ quan chuyên môn của Thành phố, khai thác dữ liệu trong xử lý công việc, đối thoại và giải trình với Nhân dân.
Yêu cầu này đòi hỏi cấp ủy phường, xã phải đổi mới phương thức lãnh đạo đối với chính quyền cùng cấp. Lãnh đạo không dừng ở phân công nhiệm vụ, đôn đốc tiến độ, mà phải gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực đáp ứng yêu cầu quản trị cơ sở đô thị. Đảng ủy phường cần nhận diện đúng các khâu yếu trong vận hành bộ máy, nhất là những lĩnh vực dễ phát sinh hồ sơ phức tạp, kiến nghị kéo dài hoặc áp lực xã hội cao; từ đó, lãnh đạo công tác đào tạo, bố trí, kiểm tra và đánh giá cán bộ theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Nếu năng lực thực thi không được nâng lên tương ứng, phân cấp khó phát huy đầy đủ vai trò trao quyền chủ động cho cơ sở; ngược lại, có thể làm gia tăng áp lực tổ chức thực hiện, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phục vụ người dân.
Hai là, phân bổ nguồn lực phải dựa trên đặc điểm quản trị của từng địa bàn. Các phường ở Hà Nội có sự khác biệt lớn về quy mô dân số, mật độ cư trú, tính chất đô thị, khối lượng hồ sơ hành chính và mức độ phức tạp trong quản lý địa bàn. Phường nội đô lịch sử, phường ven đô đang đô thị hóa, phường có nhiều chung cư, trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học, di tích hoặc không gian du lịch không thể được quản trị theo cùng một cách thức và cùng một định mức nguồn lực.
Sự khác biệt giữa các địa bàn sau sắp xếp thể hiện rất rõ: phường Hà Đông có 211.572 người, trong khi xã Minh Châu có 6.702 người; xã Ba Vì có diện tích 81,28 km², trong khi phường Cửa Nam chỉ 1,68 km²; mật độ dân cư của phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám cao gấp khoảng 183,1 lần xã Yên Bài⁵. Những chênh lệch này cho thấy, việc bố trí nguồn lực ở cấp cơ sở, nhất là đối với các phường đô thị, không thể chỉ dựa trên một khung bình quân, mà phải căn cứ vào quy mô dân số, tính chất địa bàn, áp lực quản trị và mức độ phức tạp của nhiệm vụ.
Từ góc độ lãnh đạo của cấp ủy, vấn đề đặt ra không chỉ là tăng biên chế hoặc bổ sung kinh phí, mà là nhận diện đúng đặc điểm quản trị của từng địa bàn để đề xuất mô hình tổ chức, nhân lực và điều kiện thực thi phù hợp. Đảng ủy phường cần nắm chắc thực tiễn vận hành ở cơ sở; Thành ủy và các cơ quan thành phố cần có cơ chế phân loại phường, xã làm căn cứ giao nhiệm vụ, bố trí nguồn lực, hỗ trợ chuyên môn và kiểm tra kết quả.
Ba là, phân cấp, phân quyền phải đi đôi với điều kiện bảo đảm. Phân cấp, phân quyền là yêu cầu khách quan khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tuy nhiên, phân quyền chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với nhân lực, tài chính, dữ liệu, quy trình, hạ tầng số và hướng dẫn chuyên môn. Nếu nhiệm vụ được giao thêm nhưng điều kiện thực hiện chưa tương ứng, chính quyền phường sẽ gặp khó khăn trong tổ chức thực thi, nhất là ở các lĩnh vực có tính chuyên môn sâu, liên ngành và dễ phát sinh trách nhiệm pháp lý.
Áp lực này càng rõ hơn khi đội ngũ công chức chuyên môn nghiệp vụ cấp xã còn thiếu 1.403 người so với nhu cầu thực tế; nhu cầu là 7.430 vị trí, trong khi mới bố trí được 6.027 người. Sự thiếu hụt tập trung ở các lĩnh vực phức tạp, như đất đai, xây dựng, tài chính, quản lý đô thị. Vì vậy, phân cấp, phân quyền nếu không đi cùng năng lực thực thi và điều kiện bảo đảm sẽ khó tạo ra chuyển biến thực chất ở cơ sở.
Mặt khác, nhiều nhiệm vụ ở cấp phường, xã cần có sự phối hợp với cơ quan chuyên ngành, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài chính, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo, chuyển đổi số và dữ liệu. Điều đó cho thấy, chính quyền phường, xã không thể tự xử lý toàn bộ công việc theo logic đơn tuyến, mà cần được đặt trong cơ chế hỗ trợ chuyên môn liên thông với các sở, ngành thành phố. Phân cấp vì vậy phải đi liền với cơ chế hỗ trợ, giám sát và giải trình rõ ràng.
Bốn là, quản trị phường, xã ngày càng phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu và quy trình liên thông. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hiệu quả chỉ đạo, điều hành giữa thành phố và phường, xã phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng dữ liệu, mức độ liên thông của quy trình và khả năng phản hồi nhanh giữa các cấp, các ngành. Chính quyền phường, xã chỉ có thể giải quyết nhiệm vụ kịp thời, chính xác khi được tiếp cận dữ liệu đầy đủ, cập nhật và kết nối với các cơ quan chuyên môn. Nếu dữ liệu còn phân tán, phần mềm thiếu đồng bộ, quy trình phối hợp chưa rõ, việc xử lý hồ sơ dễ kéo dài do phải xác minh, đối chiếu hoặc xin ý kiến nhiều lần.
Theo Báo cáo số 170-BC/TU ngày 15/6/2026 của Thành ủy, Hà Nội đã xử lý 619.214 hồ sơ không phụ thuộc địa giới hành chính; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 91,42%, số hóa hồ sơ đạt 98,22%, giải quyết đúng và trước hạn đạt 99,49%. Cùng với đó, nền tảng Công dân Thủ đô số iHanoi đã hình thành kênh tương tác số giữa chính quyền và người dân, với hơn 6,21 triệu tài khoản và hơn 107.000 phản ánh, kiến nghị được tiếp nhận, xử lý. Những số liệu này là tín hiệu tích cực, đồng thời cho thấy hiệu quả vận hành của chính quyền phường, xã ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng dữ liệu, mức độ liên thông của quy trình và khả năng phản hồi kịp thời đối với yêu cầu của người dân.
Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý ở cơ sở. Cấp ủy, chính quyền phường cần từng bước chuyển từ điều hành chủ yếu dựa trên báo cáo định kỳ sang điều hành dựa trên dữ liệu, tiến độ xử lý công việc và kết quả phục vụ người dân. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và sử dụng hiệu quả, cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và người dân có thêm căn cứ để theo dõi, giám sát hoạt động của chính quyền phường, xã.
Năm là, kiểm soát quyền lực ở phường, xã phải gắn với trách nhiệm giải trình và quyền làm chủ của Nhân dân. Khi phường đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ hơn, hoạt động của chính quyền phường tác động trực tiếp hơn đến đời sống hằng ngày của người dân. Vì vậy, kiểm soát quyền lực ở cơ sở cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với trách nhiệm giải trình, chất lượng phục vụ và sự tham gia của Nhân dân.
Trong mô hình mới, đảng ủy phường, xã giữ vai trò lãnh đạo; Hội đồng nhân dân phường quyết định và giám sát theo thẩm quyền; Ủy ban nhân dân phường tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân tham gia giám sát, phản biện, góp ý. Nếu cơ chế phối hợp giữa các chủ thể này chưa rõ, có thể phát sinh tình trạng hành chính hóa hoạt động của hệ thống chính trị hoặc phân tán trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Do đó, xây dựng chính quyền phường, xã phải gắn với mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh giám sát của người dân, như tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, đối thoại trực tiếp, phản ánh hiện trường và giám sát qua nền tảng số. Khi ý kiến của người dân được tiếp nhận, xử lý và công khai kết quả, trách nhiệm giải trình của chính quyền phường được tăng cường, kỷ luật công vụ được củng cố, đồng thời quyền làm chủ của Nhân dân ở cơ sở được bảo đảm thực chất hơn.
4. Kết luận
Sau một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho việc xây dựng chính quyền phường, xã tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển của Thủ đô trong giai đoạn mới, việc tiếp tục hoàn thiện mô hình, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới phương thức lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội đối với chính quyền phường, xã là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Kết quả sơ kết một năm thực hiện mô hình không chỉ là cơ sở để điều chỉnh chính sách, cơ chế quản lý mà còn góp phần cung cấp những luận cứ thực tiễn quan trọng cho quá trình xây dựng và hoàn thiện chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hà Nội năm 2025.
2. Thành ủy Hà Nội (2025). Báo cáo số 858-BC/TU ngày 29/9/2025, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVII trình Đại hội đại biểu lần thứ XVIII Đảng bộ thành phố Hà Nội.
3. Thành ủy Hà Nội (2026). Báo cáo số 170-BC/TU ngày 15/6/2026 về rà soát nhiệm vụ, thủ tục hành chính, nguồn lực, chuyển đổi số và văn bản liên quan theo 4 trụ của hệ thống chính trị, hai cấp chính quyền địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Thành ủy Hà Nội (2026). Báo cáo số 168-BC/TU ngày 15/6/2026 sơ kết 01 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
5. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
6. Thành ủy Hà Nội (2026). Báo cáo số 122-BC/TU ngày 22/4/2026 sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.
7. Thành ủy Hà Nội (2026). Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 08/7/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về xây dựng và triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trên địa bàn thành phố.
8. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2026). Đề án triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trên địa bàn thành phố Hà Nội.



