Vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội vào công tác giáo dục, đào tạo ở Học viện Chính trị hiện nay

Applying V.I. Lenin’s ideas on the relationship between democracy and strengthening social discipline to the current education and training work at the Political Academy

Trung tá, TS. Nguyễn Tú Anh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
ThS. Đặng Thị Quỳnh Chang
Nhà máy Z129, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng    

(Quanlynhanuoc.vn)Bài viết làm rõ tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội. Trên cơ sở đó, vận dụng vào công tác giáo dục, đào tạo tại Học viện Chính trị thông qua bốn nội dung chủ yếu: kết hợp phát huy dân chủ trong dạy học với giữ vững kỷ luật; xây dựng môi trường giáo dục chính quy, dân chủ, kỷ cương; gắn quyền dân chủ với nghĩa vụ, trách nhiệm và tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát; hướng tới xây dựng ý thức kỷ luật tự giác. Qua đó, khẳng định việc kết hợp hài hòa giữa dân chủ và kỷ cương là yếu tố quyết định nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Từ khóa: V.I.Lênin; dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội; giáo dục, đào tạo; Học viện Chính trị.

Abstract: This article clarifies V.I. Lenin’s ideas on the relationship between democracy and strengthening social discipline. Based on this, it applies these ideas to education and training at the Political Academy through four main points: combining the promotion of democracy in teaching with maintaining discipline; building a formal, democratic, and disciplined educational environment; linking democratic rights with duties and responsibilities; strengthening management, inspection, and supervision; and aiming to build a sense of self-discipline. This affirms that the harmonious combination of democracy and discipline is a decisive factor in improving the quality of education and training, contributing to building a contingent of military officers with the qualities and capabilities to meet the requirements of the mission in the new situation.

Keywords: V.I. Lenin; democracy and strengthening social discipline; education and training; Political Academy.       

1. Đặt vấn đề

Trong hệ thống di sản lý luận, thực tiễn của mình, V.I.Lênin đã phát triển sâu sắc tư tưởng về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác, coi đó là điều kiện căn bản để xây dựng và củng cố nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân, bảo đảm sự ổn định chính trị – xã hội và phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Học viện Chính trị là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị cấp chiến thuật, chiến dịch của Quân đội; đồng thời là cơ sở nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự quan trọng hàng đầu của toàn quân và quốc gia. Vì vậy, việc phát huy dân chủ trong học tập, nghiên cứu khoa học, quản lý, điều hành phải luôn đi đôi với việc giữ vững kỷ cương, nề nếp, chế độ, quy định của quân đội và Học viện. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030 đã xác định: “xây dựng Học viện vững mạnh, toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, thông minh, hiện đại; không ngừng nâng cao vị thế, uy tín là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự hàng đầu của Quân đội và quốc gia”1.

2. Tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội

Tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội không phải là sự sáng tạo tách rời mà được hình thành trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác. Những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước, dân chủ, vai trò của quần chúng và tổ chức xã hội đã cung cấp cơ sở khoa học để V.I.Lênin phát triển thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh trong điều kiện lịch sử mới. Khát quát tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội ở một số khía cạnh chủ yếu sau đây:

Một là, V.I.Lênin chỉ rõ dân chủ thực sự có ý nghĩa khi được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và trật tự xã hội nghiêm minh.

V.I.Lênin chỉ rõ dân chủ không phải là sự tự do vô hạn, cũng không phải là trạng thái xã hội thiếu tổ chức, kỷ luật và pháp luật. Trái lại, dân chủ chân chính chỉ có thể tồn tại và phát triển trong khuôn khổ trật tự xã hội nghiêm minh và hệ thống pháp luật được tôn trọng. V.I.Lênin chỉ ra rằng nếu tách dân chủ khỏi pháp luật và kỷ cương, dân chủ sẽ bị biến dạng, dẫn tới vô tổ chức, vô chính phủ và cuối cùng làm suy yếu chính quyền của Nhân dân. Theo V.I.Lênin, pháp luật không phải là công cụ đối lập với dân chủ mà là phương tiện để thể chế hóa và bảo vệ dân chủ. Pháp luật xác định rõ quyền và nghĩa vụ của công dân, thiết lập giới hạn cần thiết cho hành vi cá nhân nhằm bảo đảm lợi ích chung của xã hội, đồng thời tạo khuôn khổ ổn định để các quyền dân chủ được thực hiện bình đẳng và hiệu quả. Ông nhấn mạnh: “Đâu phải là kiêu kỳ nếu cho rằng pháp chế không thể là pháp chế của tỉnh La-gu-la hoặc của tỉnh Ca-dan được mà phải là pháp chế duy nhất cho toàn nước Nga và cho cả toàn thể liên bang của nước Cộng hòa Xô-viết nữa”2.

V.I.Lênin cũng chỉ rõ nếu tách dân chủ khỏi pháp luật và kỷ cương xã hội, dân chủ sẽ mất đi nội dung tích cực và dễ bị biến dạng thành vô tổ chức, vô chính phủ, làm suy yếu quyền lực của Nhân dân và đe dọa sự ổn định xã hội. V.I.Lênin đã phê phán sâu sắc quan điểm đồng nhất giữa dân chủ với buông lỏng quản lý và phủ nhận vai trò của nhà nước. Theo ông, cách hiểu đó về thực chất là biểu hiện của chủ nghĩa vô chính phủ và chủ nghĩa cá nhân cực đoan, từ đó dẫn đến tình trạng tùy tiện trong hành động, phá vỡ kỷ luật xã hội. Ông khẳng định: “Muốn chiến thắng, muốn thiết lập và củng cố chủ nghĩa xã hội. Giai cấp vô sản phải… làm cho hết thảy quần chúng lao động và bị bóc lột… đi theo mình vào con đường kiến thiết kinh tế mới, vào con đường tạo ra những quan hệ xã hội mới, một kỷ luật lao động mới”3. Điều đó cho thấy, dân chủ không thể tồn tại trong tình trạng hỗn loạn và vô tổ chức, vô chính phủ mà phải được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật và thiết chế quản lý thống nhất.

Trong điều kiện xây dựng xã hội mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh đến việc thiết lập kỷ cương, trật tự và kỷ luật lao động nhằm khôi phục kinh tế, củng cố chính quyền và ổn định đời sống xã hội. Bởi theo V.I.Lênin, nếu thiếu kỷ cương trong sản xuất và quản lý, thì dân chủ trong quản lý kinh tế – xã hội sẽ trở nên hình thức, không tạo ra hiệu quả thực tế, không phát huy được tính năng động, sáng tạo của Nhân dân lao động, thậm chí kìm hãm, triệt tiêu động lực và gây rối loạn và suy thoái kinh tế. V.I.Lênin chỉ rõ: “mọi nền đại công nghiệp cơ khí – tức chính là cái nguồn và nền tảng sản xuất vật chất của chủ nghĩa xã hội – đều đòi hỏi phải có một sự thống nhất ý chí hết sức chặt chẽ, tuyệt đối, điều tiết được công việc chung của hàng trăm, hàng nghìn và hàng vạn người”4.

Trong tư tưởng của V.I.Lênin, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân không chỉ là quá trình cải biến quan hệ sản xuất và thiết lập chính quyền của Nhân dân lao động mà còn là quá trình tổ chức lại toàn bộ đời sống xã hội trên cơ sở kỷ luật, trật tự và tổ chức chặt chẽ. Đây là yếu tố căn cốt để bảo đảm cho sự phát triển ổn định của xã hội. Không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tình trạng tùy tiện, vô tổ chức hay thiếu kỷ cương. Sau Cách mạng tháng Mười, trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn về kinh tế, chiến tranh và đói kém, chỉ có thông qua việc thiết lập kỷ luật lao động nghiêm minh, tổ chức quản lý khoa học và nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động thì mới có thể khôi phục sản xuất, ổn định đời sống và củng cố chính quyền cách mạng. Ông chỉ rõ: “Để đẩy mạnh phát triển kinh tế, chúng ta còn phải nâng cao tinh thần kỷ luật của những người lao động, kỹ năng lao động của họ… và tổ chức lao động cho tốt hơn”5

Hai là, V.I.Lênin chỉ rõ kỷ cương xã hội là điều kiện bảo đảm cho dân chủ được thực hiện hiệu quả.

V.I.Lênin đã xây dựng quan điểm này trên cơ sở lý luận về nhà nước và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, ông chỉ ra rằng sau khi giai cấp vô sản giành chính quyền, nhà nước mới vẫn phải tồn tại như một công cụ chuyên chính nhằm trấn áp sự phản kháng của giai cấp bị lật đổ. V.I.Lênin chỉ rõ: “Giai cấp vô sản cần có chính quyền nhà nước, cần có tổ chức sức mạnh tập trung, cần có tổ chức bạo lực để trấn áp sự phản kháng của bọn bóc lột và lãnh đạo quảng đại quần chúng nhân dân – nông dân , tiểu tư sản, nửa vô sản trong công cuộc tổ chức nền kinh tế xã hội chủ nghĩa”6. Điều đó có nghĩa là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xã hội chưa thể đạt đến sự hài hòa tuyệt đối về lợi ích. Trong điều kiện đó, nếu thiếu kỷ cương và pháp luật nghiêm minh, quyền dân chủ của đại đa số sẽ bị xâm hại bởi các thế lực chống phá hoặc bởi chính sự hỗn loạn trong quản lý xã hội. Vì vậy, kỷ cương không phải là sự hạn chế dân chủ, mà là điều kiện để dân chủ được bảo vệ trong thực tế. Như vậy, kỷ cương chính là phương tiện để duy trì môi trường chính trị – xã hội ổn định cho dân chủ phát triển.

Sau Cách mạng Tháng Mười, nước Nga rơi vào tình trạng nội chiến và khủng hoảng sâu sắc. Trong bối cảnh đó, V.I.Lênin đặc biệt cảnh giác với khuynh hướng tuyệt đối hóa dân chủ theo nghĩa tự do vô hạn. Ông cho rằng, nếu không có sự thống nhất ý chí và hành động, cách mạng sẽ bị suy yếu từ bên trong. Trong tác phẩm Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết, V.I.Lênin viết: “chủ nghĩa xã hội không thể thành công được nếu tính kỷ luật tự giác của giai cấp vô sản không thắng được tình trạng vô chính phủ tự phát của giai cấp tư sản, tình trạng này là điều đảm bảo thật sự cho bọn Kê ren xki và Cook ni lốp có khả năng được phục hồi trở lại”7. Theo V.I.Lênin, sau khi giai cấp công nhân giành chính quyền, xã hội chưa thể lập tức đạt tới trạng thái hài hòa. Thời kỳ quá độ vẫn tồn tại đấu tranh giai cấp, chống phá từ bên ngoài và những tàn dư của xã hội cũ. Trong hoàn cảnh đó, nếu không có kỷ cương nghiêm minh, trật tự chính trị sẽ bị đe dọa, kéo theo sự suy yếu của quyền dân chủ.

V.I. Lênin cho rằng, dân chủ rộng rãi đòi hỏi trình độ tổ chức cao. Ông nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết của “kỷ luật sắt” trong bộ máy nhà nước và trong lao động sản xuất. Nếu bộ máy nhà nước thiếu kỷ luật, hoạt động quản lý sẽ trì trệ, tham nhũng hoặc tùy tiện, từ đó làm suy giảm lòng tin của Nhân dân. Kỷ luật tổ chức giúp: xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân; bảo đảm quyết định được thực hiện thống nhất; tránh tình trạng chồng chéo, vô hiệu lực. Một bộ máy vận hành hiệu quả sẽ tạo điều kiện để các quyết sách phản ánh ý chí của Nhân dân được thực thi trong thực tế.

Ngược lại, nếu thiếu kỷ luật, quyền dân chủ dễ rơi vào tình trạng “trên nóng dưới lạnh”, chủ trương đúng nhưng không được triển khai hiệu quả. V.I. Lênin nhận thức sâu sắc rằng dân chủ không thể tách rời điều kiện kinh tế. Sau cách mạng, nhiệm vụ cấp bách là khôi phục sản xuất và ổn định đời sống Nhân dân. Muốn vậy, cần thiết lập kỷ luật lao động và trật tự trong quản lý kinh tế. Kỷ cương trong lao động và phân phối: bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội; ngăn chặn tham ô, lãng phí; tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất của Nhân dân. V.I. Lênin coi ổn định không chỉ là trạng thái tĩnh mà còn là quá trình chuyển hóa từ kỷ luật cưỡng chế sang kỷ luật tự giác. Khi xã hội ổn định và trật tự được duy trì lâu dài, ý thức pháp luật và trách nhiệm công dân sẽ được củng cố.

Ba là, V.I.Lênin khẳng định mối quan hệ biện chứng, thống nhất và không tách rời nhau của dân chủ và kỷ cương xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản và xây dựng xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin đã phát triển sâu sắc học thuyết Mác về dân chủ, nhà nước và pháp luật, đặc biệt là mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ cương xã hội. Ông cho rằng, đây không phải là hai phạm trù đối lập mà là hai mặt thống nhất biện chứng của một chỉnh thể, cùng hướng tới mục tiêu giải phóng con người, xây dựng xã hội mới dựa trên quyền làm chủ của Nhân dân lao động và trật tự xã hội nghiêm minh. Những tư tưởng đó vừa mang giá trị lý luận sâu sắc, vừa có tính thực tiễn to lớn đối với công xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga.

Theo V.I.Lênin, dân chủ vô sản không phải là sự tự do vô hạn, mà là quyền làm chủ của đại đa số Nhân dân lao động được thực hiện thông qua một nhà nước có tổ chức chặt chẽ, kỷ cương xã hội nghiêm minh. Kỷ cương xã hội là điều kiện không thể thiếu để bảo đảm cho dân chủ được thực hiện một cách thực chất và hiệu quả. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước. Cho nên, cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta”8. Vì thế, để quyền lực đó không bị phân tán, tùy tiện hoặc biến dạng, cần có tổ chức chặt chẽ và kỷ luật nghiêm minh; đó chính là sự thống nhất, biện chứng, bổ sung và quy định lẫn nhau giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội.

V.I.Lênin cũng chỉ rõ: dân chủ là mục tiêu, kỷ cương là điều kiện để hiện thực hóa mục tiêu ấy. Dân chủ không chỉ là hình thức thể chế, mà là quyền làm chủ thực tế của Nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; kỷ cương không chỉ là sự cưỡng chế từ bên ngoài, mà là sự tuân thủ tự giác đối với các chuẩn mực pháp luật và đạo đức xã hội. Sự thống nhất giữa dân chủ và kỷ cương xã hội tạo nền tảng chính trị – xã hội cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin chỉ rõ: “Tổ chức lao động xã hội của chế độ phong kiến dựa vào kỷ luật roi vọt, vào tình trạng ngu muội… Tổ chức lao động xã hội của xã hội tư bản dựa vào kỷ luật đói… Tổ chức lao động xã hội của xã hội chủ nghĩa cộng sản mà bước đầu là chủ nghĩa xã hội thì dựa vào và sẽ ngày càng dựa vào một kỷ luật tự giác và tự nguyện của chính những người lao động”9.

Theo V.I. Lênin, dân chủ chân chính không đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò của Nhà nước và pháp luật mà trái lại đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống pháp luật tiến bộ, nhân văn, phản ánh lợi ích của Nhân dân lao động và được thực thi một cách nghiêm minh. V.I. Lênin chỉ rõ: “Sống trong một xã hội mà lại thoát khỏi xã hội ấy để được tự do, đó là điều không thể được”10. Trong điều kiện sau khi Cách mạng tháng Mười thành công, nước Nga đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách về chính trị, kinh tế và xã hội. V.I. Lênin chỉ ra rằng nếu không nhanh chóng thiết lập trật tự, kỷ cương và pháp luật, thì quyền lực của Nhân dân sẽ không thể được củng cố và thành quả cách mạng có nguy cơ bị đe dọa. V.I. Lênin cũng chỉ ra rằng pháp luật xã hội chủ nghĩa không phải là công cụ bảo vệ lợi ích của thiểu số thống trị, mà là phương tiện để thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân. Vì vậy, tuân thủ pháp luật không làm hạn chế dân chủ mà trái lại là điều kiện để bảo vệ và mở rộng dân chủ.

3. Vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin về dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội vào công tác giáo dục, đào tạo ở Học viện Chính trị hiện nay

Học viện Chính trị là đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng; có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị cấp chiến thuật, chiến dịch; đào tạo sau đại học và giảng viên khoa học xã hội nhân văn quân sự; nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn quân sự; chỉ huy, quản lý cơ quan, đơn vị thuộc quyền theo quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Với chức năng, nhiệm vụ của mình, trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, Học viện đã đào tạo, bồi dưỡng hàng vạn cán bộ chính trị và giảng viên khoa học xã hội nhân văn cho quân đội ta… góp phần đào tạo nguồn nhân lực bậc cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Học viện Chính trị đã không ngừng nghiên cứu và truyền thụ lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mọi vấn đề cơ bản. Trong đó, Học viện đã nghiên cứu, truyền thụ và giảng dạy tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội… đem lại những kết quả thiết thực trong giáo dục, đào tạo; góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong kỷ nguyên mới. Khái quát việc vận dụng tư tưởng của V.I. Lênin về dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội vào công tác giáo dục, đào tạo ở Học viện Chính trị hiện nay ở một số khía cạnh chủ yếu sau: 

Một là, kết hợp chặt chẽ giữa việc phát huy dân chủ trong dạy học và việc giữ vững kỷ luật quân đội.

Phát huy dân chủ trong dạy học là điều kiện quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Vận dụng vào giáo dục, điều này đòi hỏi phải tạo điều kiện để học viên trở thành chủ thể tích cực của quá trình nhận thức, không chỉ tiếp thu tri thức một cách thụ động mà còn tham gia vào quá trình xây dựng tri thức. Trong thực tiễn giảng dạy tại Học viện, việc phát huy dân chủ được thể hiện thông qua việc khuyến khích học viên trao đổi, thảo luận, phản biện khoa học, mạnh dạn nêu quan điểm cá nhân dựa trên lập luận logic và căn cứ thực tiễn. Điều này góp phần phát triển tư duy độc lập, năng lực sáng tạo và khả năng xử lý tình huống.

Tuy nhiên, dân chủ trong dạy học không phải là sự tự do vô hạn hay tùy tiện, mà phải được định hướng và tổ chức một cách khoa học. Kỷ luật được thể hiện qua việc chấp hành nghiêm chế độ học tập, huấn luyện, tuân thủ điều lệnh, điều lệ, nội quy, cũng như thực hiện mệnh lệnh, chỉ thị một cách chính xác và thống nhất. Kỷ luật không chỉ nhằm duy trì trật tự mà còn bảo đảm cho quá trình đào tạo diễn ra một cách khoa học, nền nếp và hiệu quả. Khi mọi hoạt động được tổ chức trong khuôn khổ kỷ cương, việc truyền đạt và tiếp thu tri thức sẽ đạt chất lượng cao hơn, đồng thời góp phần hình thành tác phong công tác chuẩn mực cho học viên. 

Việc kết hợp giữa việc phát huy dân chủ trong dạy học và việc giữ vững kỷ luật quân đội có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo tại Học viện hiện nay. Giúp hình thành ở học viên năng lực tư duy độc lập, khả năng phân tích và xử lý vấn đề một cách sáng tạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn công tác. Đồng thời, rèn luyện cho học viên ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần chấp hành mệnh lệnh. Sự kết hợp này còn tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, trong đó mỗi học viên vừa được phát huy vai trò chủ thể trong học tập, vừa được rèn luyện trong khuôn khổ kỷ cương nghiêm túc. Đây chính là điều kiện để đào tạo ra đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực toàn diện và phẩm chất đạo đức tốt.

Hai là, xây dựng môi trường giáo dục chính quy, dân chủ gắn với kỷ cương, nề nếp trong Học viện.

Xây dựng môi trường giáo dục dân chủ là yếu tố quan trọng nhằm phát huy trí tuệ tập thể và vai trò chủ thể của giảng viên, học viên trong quá trình đào tạo. Dân chủ trong môi trường học viện được thể hiện ở việc bảo đảm quyền tham gia đóng góp ý kiến vào chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy; quyền trao đổi học thuật, phản biện khoa học; cũng như quyền được tiếp cận thông tin một cách công khai, minh bạch. Điều này góp phần tạo nên không khí học thuật cởi mở, khuyến khích sáng tạo, phát triển tư duy độc lập và nâng cao năng lực nghiên cứu của học viên. Cùng với đó, bảo đảm tính chính quy, kỷ cương, nề nếp để tạo nền tảng cho mọi hoạt động giáo dục, đào tạo diễn ra ổn định và hiệu quả. Kỷ cương không chỉ nhằm duy trì trật tự mà còn góp phần hình thành tác phong làm việc khoa học, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật cho học viên.

Cần xây dựng một môi trường vừa bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, vừa giữ vững tính nghiêm túc, chính quy và kỷ luật. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn trực tiếp rèn luyện cho học viên phong cách công tác chuẩn mực, ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm. Đồng thời, môi trường dân chủ, kỷ cương còn tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy năng lực, gắn kết với tập thể, từ đó hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực lãnh đạo, chỉ huy trong thực tiễn.

Ba là, gắn quyền dân chủ với nghĩa vụ, trách nhiệm và tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát trong giáo dục, đào tạo tại Học viện.

Việc gắn quyền dân chủ với nghĩa vụ và trách nhiệm là nguyên tắc quan trọng bảo đảm cho dân chủ được thực hiện đúng hướng. Trong môi trường học viện, học viên có quyền được học tập, nghiên cứu, tiếp cận thông tin, tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào các hoạt động đào tạo. Đây là biểu hiện của dân chủ, giúp phát huy vai trò chủ thể của người học, nâng cao khả năng tiếp thu và xử lý tri thức. Vận dụng vào giáo dục quân sự, điều này đòi hỏi học viên không chỉ thực hiện quyền của mình mà còn phải chấp hành nghiêm túc các quy định về học tập, rèn luyện, tuân thủ kỷ luật quân đội và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ giúp hình thành thái độ học tập đúng đắn, khắc phục tình trạng tùy tiện hoặc ỷ lại, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân. Bên cạnh đó, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát là yếu tố quan trọng bảo đảm kỷ cương trong toàn bộ quá trình đào tạo. Xây dựng hệ thống quản lý khoa học, chặt chẽ; tăng cường kiểm tra việc chấp hành quy chế đào tạo, kỷ luật học tập và rèn luyện; đồng thời phát huy vai trò giám sát của các tổ chức và của chính học viên. Thông qua đó, kịp thời phát hiện, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, bảo đảm mọi hoạt động diễn ra đúng định hướng và mục tiêu đào tạo.

Nếu chỉ mở rộng dân chủ mà thiếu kiểm soát, dễ dẫn đến tình trạng dân chủ hình thức hoặc bị lợi dụng; ngược lại, nếu chỉ chú trọng quản lý mà không phát huy dân chủ, sẽ làm giảm tính chủ động, sáng tạo của học viên. Do đó, cần xây dựng cơ chế trong đó quyền đi liền với trách nhiệm, dân chủ đi liền với kỷ luật và quản lý đi liền với giám sát. Việc thực hiện tốt nội dung này có ý nghĩa thiết thực đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo tại Học viện. Nó không chỉ giúp duy trì nề nếp, kỷ luật mà còn góp phần hình thành ở học viên ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm và tác phong công tác khoa học. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị vừa có năng lực chuyên môn, vừa có phẩm chất đạo đức và ý thức tổ chức kỷ luật cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bốn là, xây dựng ý thức kỷ luật tự giác của học viên.

Xây dựng ý thức kỷ luật tự giác của học viên là nội dung có ý nghĩa sâu sắc và giá trị định hướng lâu dài trong vận dụng tư tưởng của V.I. Lênin vào công tác giáo dục, đào tạo tại Học viện hiện nay. Đây không chỉ là mục tiêu cao nhất của sự kết hợp giữa dân chủ và kỷ cương, mà còn là tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về nhân cách, bản lĩnh và ý thức chính trị của người cán bộ quân đội. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ rèn luyện học viên chấp hành kỷ luật một cách nghiêm túc, mà còn quan trọng hơn là giúp họ hiểu rõ bản chất, ý nghĩa và giá trị của kỷ luật, từ đó hình thành động cơ tự giác trong học tập, rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ.

Việc xây dựng ý thức kỷ luật tự giác phải được thực hiện thông qua sự kết hợp đồng bộ giữa giáo dục lý luận chính trị, rèn luyện trong môi trường chính quy và trải nghiệm thực tiễn quân sự. Dân chủ trong giáo dục tạo điều kiện để học viên nhận thức sâu sắc hơn về quyền và trách nhiệm của mình, được tham gia vào quá trình hình thành các chuẩn mực và quy định chung; trong khi đó, kỷ cương, kỷ luật tạo ra khuôn khổ để rèn luyện thói quen, hành vi và tác phong công tác. Khi hai yếu tố này được kết hợp chặt chẽ, kỷ luật không còn là sự áp đặt từ bên ngoài mà trở thành nhu cầu nội tại, là biểu hiện của ý thức trách nhiệm và danh dự của người quân nhân. Chuyển hóa từ “kỷ luật bắt buộc” sang “kỷ luật tự giác”, từ “tuân thủ mệnh lệnh” sang “hành động có ý thức”. Một người cán bộ có ý thức tự giác cao sẽ không chỉ chấp hành nghiêm mệnh lệnh mà còn chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, biết đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

4. Kết luận

Tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội không chỉ có giá trị lý luận sâu sắc mà còn có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn đặc biệt đối với công tác giáo dục, đào tạo tại Học viện hiện nay. Việc vận dụng sáng tạo, linh hoạt tư tưởng này đã góp phần kiến tạo môi trường giáo dục vừa giàu tính dân chủ, khơi dậy trí tuệ, tính chủ động, sáng tạo của người học, vừa bảo đảm tính chính quy, nghiêm túc và kỷ luật cao của môi trường quân đội. Trên nền tảng đó, quá trình đào tạo không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức mà còn hướng tới hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức trách nhiệm sâu sắc và tác phong công tác khoa học cho học viên. Đặc biệt, sự thống nhất biện chứng giữa dân chủ và kỷ cương đã tạo điều kiện để kỷ luật được chuyển hóa từ sự tuân thủ mang tính bắt buộc sang ý thức tự giác nội tại của nhân cách người cán bộ cách mạng. Qua đó, góp phần quan trọng vào việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Chú thích:
1. Đảng bộ Học viện Chính trị (2025). Văn kiện Đại hội Đảng bộ Học viện lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030, tr. 45.
2. V.I.Lênin toàn tập (2005). Tập 45. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 232.
3, 9. V.I.Lênin toàn tập (2005). Tập 39. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 20, 16.
4, 5, 7. V.I.Lênin toàn tập (2005). Tập 36. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 245, 230, 230 – 231.
6, 8. V.I.Lênin toàn tập (2005). Tập 33. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 32, 123.
10. V.I.Lênin toàn tập (2005). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 127.