Heritage management information systems for monitoring the intangible cultural heritage economy: a case study in Bac Ninh
ThS. Lê Hải Hà
Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Bắc Thăng Long
(Quanlynhanuoc.vn) – Nghiên cứu phân tích thực trạng chức năng kiểm tra, giám sát trong hệ thống quản lý kinh tế di sản văn hóa phi vật thể tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022 – 2026. Áp dụng phương pháp hỗn hợp suy diễn, kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp, so sánh quốc tế có hệ thống với sáu mô hình quản lý truyền thống và đánh giá tính khả thi theo khung phân tích thể chế và phát triển (IAD) của Ostrom (1990). Kết quả đề xuất mô hình hệ thống thông tin quản lý di sản 5 module đầu tiên ở cấp tỉnh tại Việt Nam với lộ trình ba giai đoạn 2027 – 2035, dự báo nâng điểm chức năng kiểm tra, giám sát từ 2,0/5 lên 3,8/5 vào năm 2030, giảm tỷ lệ hàng giả xuống dưới 5% và tiết kiệm trên 9,6 tỷ đồng mỗi năm. Các kiến nghị chính sách được thiết kế để triển khai từ năm 2027, phù hợp với chu kỳ ngân sách và khung pháp lý hiện hành.
Từ khóa: Hệ thống thông tin quản lý di sản; kiểm tra, giám sát; di sản văn hóa phi vật thể; gốm Phù Lãng; Bắc Ninh.
Abstract: A study analyzing the current status of inspection and supervision functions within the management system for intangible cultural heritage in Bac Ninh Province for the 2022–2026 period. A mixed-methods approach was applied, combining secondary literature analysis and systematic international comparisons with six traditional management models, and assessing feasibility using Ostrom’s (1990) Institutional Analysis and Development (IAD) framework. The results propose the first five-module cultural heritage management information system model at the provincial level in Vietnam, with a three-phase roadmap for 2027–2035. It projects an increase in the inspection and supervision function score from 2.0/5 to 3.8/5 by 2030, a reduction in the counterfeit goods rate to below 5%, and annual savings of over 9.6 billion VND. The policy recommendations are designed for implementation starting in 2027, aligning with the current budget cycle and legal framework.
Keywords: Heritage management information system; monitoring and control; intangible cultural heritage; Phu Lang pottery; Bac Ninh
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế di sản văn hóa phi vật thể theo tinh thần Kết luận 76-KL/TW và Nghị quyết 80-NQ/TW (2026) về văn hóa số, tỉnh Bắc Ninh, nổi lên như một địa bàn thực tiễn điển hình để nghiên cứu và triển khai các giải pháp quản lý di sản theo hướng đổi mới. Sau sáp nhập, quy mô di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh mở rộng từ 627 lên khoảng 898 đơn vị di sản (tăng 43%), hình thành “Tam giác gốm Kinh Bắc” (Phù Lãng – Thổ Hà – Bát Tràng) với tổng doanh thu ước tính vượt 500 tỷ đồng mỗi năm.
Tuy nhiên, một nghịch lý đáng chú ý đang diễn ra tại làng gốm Phù Lãng (tỉnh Bắc Ninh): dù doanh thu vượt 100 tỷ đồng năm 2025, chỉ số kinh tế di sản (heritage economy index – HEI) chỉ đạt 2,5/5, phản ánh trạng thái “bẫy sinh kế thấp”. Điểm yếu mang tính hệ thống nằm ở chức năng kiểm tra, giám sát (C) chỉ đạt 2,0/5, biểu hiện qua 3 dấu hiệu cụ thể: không có module nào trong số 5 module hệ thống thông tin quản lý di sản được vận hành; gốm giả chiếm khoảng 20% thị phần; thiệt hại ước tính khoảng 12 tỷ đồng mỗi năm cho cộng đồng nghệ nhân (Cục Quản lý thị trường Bắc Ninh năm 2024)1; (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh năm 2025)2.
Ba sự kiện thể chế diễn ra đồng thời đã tạo ra “cửa sổ chính sách” thuận lợi cho cải cách: (1) Luật Di sản văn hóa năm 2024 (có hiệu lực từ 01/7/2025) lần đầu tiên quy định ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý di sản tại Chương VII; (2) Nghị quyết 80-NQ/TW (2026) đặt mục tiêu chuyển đổi số văn hóa; (3) việc sáp nhập tỉnh làm tăng áp lực quản lý khi tỷ lệ cán bộ trên số lượng di sản giảm từ 1:14 xuống 1:20, trong khi bộ máy chưa được điều chỉnh tương ứng.
Từ bối cảnh đó, bài viết đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu: (1) Những hạn chế cụ thể nào của chức năng kiểm tra – giám sát khi đang đạt mức 2,0/5 cần được hệ thống thông tin quản lý di sản giải quyết. (2) Mô hình hệ thống thông tin quản lý di sản nào phù hợp với bối cảnh hậu sáp nhập và khung pháp lý mới. (3) Lộ trình và suất sinh lợi đầu tư (return on investment – ROI) khả thi để nâng điểm chức năng từ 2,0/5 lên 3,8/5 vào năm 2030.
2. Cơ sở lý luận và khung phân tích
2.1. Bối cảnh thể chế
Di sản văn hóa phi vật thể mang đặc tính của tài nguyên chung (common pool resource) theo lý thuyết quản trị tập thể của Ostrom (1990)3. Trong khung phân tích thể chế và phát triển (IAD), giám sát hiệu quả đòi hỏi ba yếu tố cấu thành: chủ thể giám sát được xác định rõ ràng, công cụ giám sát đủ năng lực xử lý và chế tài phân cấp có tính thực thi. Sự thiếu vắng hoàn toàn hệ thống thông tin quản lý di sản tại Bắc Ninh là vi phạm trực tiếp nguyên tắc giám sát trong khung IAD, dẫn đến “thất bại thể chế” trong bảo vệ giá trị kinh tế di sản.
2.2. Bộ máy quản lý kinh tế
Trong mô hình quản lý bốn chức năng lập kế hoạch – tổ chức – kiểm tra giám sát – kiến nghị điều chỉnh (POCA), chức năng kiểm tra – giám sát đóng vai trò then chốt trong bảo vệ tính xác thực và giá trị kinh tế di sản. Khi khối lượng giao dịch gia tăng sau sáp nhập, kiểm soát thủ công không còn đủ năng lực và cần được thay thế bằng các giải pháp tự động hóa kết hợp kiểm soát dựa trên phân tích rủi ro (Quỹ Tiền tệ quốc tế, 2017)4 và (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, 2014)5.
2.3. Kết quả bền vững
Nghiên cứu tích hợp kinh tế học văn hóa (Throsby, 2024)6 với khung sinh kế bền vững DFID (1999)7 và nguyên tắc “di sản sống và lớp số” (“living heritage + digital layer”) (Rodil, 2024)8. Theo nguyên tắc này, số hóa đóng vai trò lớp bổ trợ chứ không thay thế di sản sống. Để đo lường mức độ bền vững kinh tế di sản ở cấp làng nghề, nghiên cứu đề xuất chỉ số kinh tế di sản (heritage economy index – HEI) tổng hợp theo công thức: HEI = (H + S + N + P + F)/5 (thang điểm 1-5), trong đó H là vốn con người, S là vốn xã hội, N là vốn tự nhiên, P là vốn vật chất và F là vốn tài chính theo khung DFID. Bằng chứng so sánh quốc tế cho thấy ngưỡng điểm kiểm tra – giám sát đạt từ 3,5/5 trở lên tương ứng với tỷ lệ hàng giả dưới 5% và tỷ lệ ứng dụng mã phản hồi nhanh hoặc công nghệ chuỗi khối từ 90% trở lên. Đây là căn cứ trực tiếp cho mục tiêu 3,8/5 đặt ra cho năm 2030 trong nghiên cứu này.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp suy diễn (abductive mixed methods) theo thiết kế tam giác đồng thời (concurrent triangulation design) của Creswell và Creswell (2025)9. Phương pháp này kết hợp hai nhánh chạy song song: phân tích định tính theo phân tích chủ đề sáu giai đoạn (Braun và Clarke, 2022)10 và phân tích định lượng, bao gồm: chấm điểm chuyên gia thang 1-5, chuỗi thời gian 2022 – 2026 và biểu đồ radar theo khung DFID. Kết quả từ hai nhánh được kiểm chứng chéo theo ba chiều: nguồn dữ liệu, phương pháp và lý thuyết; một kết luận chỉ được chấp nhận khi có ít nhất hai trong ba chiều đồng thuận.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 4 nhóm nguồn: (1) Văn bản pháp lý bao gồm Luật Di sản văn hóa năm 2024, Nghị quyết số 80-NQ/TW (2026) và Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15; (2) Năm báo cáo hành chính của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh giai đoạn 2022 – 2026, Báo cáo của Cục Quản lý thị trường Bắc Ninh năm 2024 và Niên giám thống kê năm 2025; (3) Các nghiên cứu quốc tế về quản lý gốm truyền thống giai đoạn 2024 – 2026; (4) Dữ liệu của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) năm 2024. Độ tin cậy được kiểm soát theo ngưỡng tối thiểu 15/25 điểm, dựa trên năm tiêu chí đánh giá nguồn tài liệu.
4. Thực trạng chức năng kiểm tra, giám sát và khoảng trống trong hệ thống thông tin quản lý di sản tại Bắc Ninh
4.1. Bối cảnh hậu sáp nhập và áp lực quản lý mới
Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Bắc Ninh quản lý khoảng 898 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó, có 260 di sản nghề thủ công truyền thống. Tỷ lệ cán bộ trên số lượng di sản giảm từ 1:14 xuống 1:20 tạo ra áp lực trực tiếp đòi hỏi ứng dụng hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý mà không cần tuyển dụng thêm biên chế tương ứng. Đây là tiền đề thực tiễn quan trọng nhất cho đề xuất ứng dụng hệ thống thông tin quản lý di sản trong nghiên cứu này.
4.2. Thực trạng bốn chức năng quản lý kinh tế di sản văn hóa phi vật thể
Đánh giá tổng hợp bốn chức năng quản lý kinh tế di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022 – 2026 (xem Bảng 1) cho thấy, chức năng kiểm tra, giám sát đạt điểm thấp nhất với 2,0/5, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình 2,5/5 của ba chức năng còn lại.
Bảng 1. Đánh giá tổng hợp bốn chức năng quản lý kinh tế di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022 – 2026
| Chức năng | Điểm 2026 | Thành tựu nổi bật | Hạn chế cốt lõi | Nguyên nhân gốc rễ | Giải pháp ưu tiên |
| Lập kế hoạch | 3,0 | Có Đề án Gốm Phù Lãng 2025 | Thiếu bộ chỉ tiêu đo lường kết quả | Chưa có đơn vị chuyên trách kinh tế di sản | Thành lập phòng kinh tế di sản |
| Tổ chức | 2,5 | Hợp tác xã Gốm Phù Lãng hoạt động | Bốn sở chồng chéo; thiếu quy chế phối hợp | Thiếu cơ chế liên ngành | Ban hành quy chế phối hợp liên sở |
| Kiểm tra – Giám sát | 2,0 | Mã phản hồi nhanh thủ công dưới 30% | 0/5 module; gốm giả ~20%; xử lý vi phạm 45-60 ngày | Thiếu hạ tầng số hóa và công cụ tự động | Triển khai HTTTQLDS (ưu tiên cao nhất) |
| Kiến nghị điều chỉnh | 2,5 | Có phản hồi một số kiến nghị của nghệ nhân | Tỷ lệ phản hồi chỉ 25% trong 30 ngày | Thiếu cổng tham vấn công khai | Xây dựng cổng công khai và bộ chỉ tiêu |
Phân tích ba tầng giám sát tại làng gốm Phù Lãng cho thấy, bức tranh toàn cảnh về khoảng trống quản lý. Ở tầng thứ nhất (giám sát sản phẩm), gốm giả chiếm khoảng 20% thị phần gây thiệt hại ước tính 12 tỷ đồng mỗi năm; tỷ lệ gắn mã phản hồi nhanh (quick response code) dưới 30% và chưa có công nghệ chuỗi khối (blockchain) nên hàng giả dễ sao chép; vi phạm trên các sàn thương mại điện tử Shopee, TikTok Shop gần như không bị phát hiện. Ở tầng thứ hai (giám sát hệ thống), toàn bộ 5 module hệ thống thông tin quản lý di sản chưa được vận hành; tần suất kiểm tra thực địa chỉ ba lần mỗi năm, bao phủ dưới 20% số hộ sản xuất; chu kỳ báo cáo 12 tháng một lần quá chậm so với tốc độ biến động của thương mại điện tử. Ở tầng thứ ba (phân công trách nhiệm), bốn sở quản lý chồng chéo thiếu quy chế phối hợp; thời gian xử lý vi phạm từ 45 – 60 ngày so với mục tiêu 15 ngày trở xuống; trong 28 vụ gốm giả giai đoạn 2022 – 2024, chỉ 6 vụ (21%) được giải quyết trong vòng 30 ngày.
4.3. Khoảng trống trong ứng dụng hệ thống thông tin quản lý di sản và so sánh quốc tế
So sánh hệ thống thông tin quản lý di sản tại Bắc Ninh với mô hình tiên tiến của Icheon (Hàn Quốc) – quốc gia đi đầu trong quản lý số di sản gốm truyền thống – cho thấy khoảng cách lớn ở cả 5 module (xem Bảng 2).
Bảng 2. Khoảng trống trong ứng dụng hệ thống thông tin quản lý di sản tại Bắc Ninh so với Icheon (Hàn Quốc)
| Module | Hiện trạng Bắc Ninh 2024-2026 | Icheon (Hàn Quốc) | Hậu quả tại Bắc Ninh |
| Module 1: Kiểm kê số hóa ba chiều và thực tế ảo | Chưa có | 100% di sản văn hóa phi vật thể được số hóa (2019) | Không có cơ sở dữ liệu tập trung |
| Module 2: Mã phản hồi nhanh và chuỗi khối “Phù Lãng chính hãng” | Mã phản hồi nhanh thủ công dưới 30%; không có chuỗi khối | Mã phản hồi nhanh + chuỗi khối đạt trên 95% (từ năm 2021) | Gốm giả chiếm ~20% thị phần |
| Module 3: Trình thu thập dữ liệu thương mại điện tử và cảnh báo tự động | Hoàn toàn thiếu | Giám sát liên tục 24/7 | Vi phạm thương mại điện tử không bị phát hiện |
| Module 4: Bảng điều khiển 30 chỉ tiêu theo thời gian thực | Báo cáo thủ công 12 tháng một lần | Bảng điều khiển theo thời gian thực; cảnh báo trong vòng 24 giờ | Quyết định dựa trên dữ liệu lỗi thời |
| Module 5: Cổng thông tin công khai phulanggom.vn | Chưa có; tỷ lệ phản hồi 25% trong 30 ngày | Cổng phản hồi đạt trên 90% trong 7 ngày | Nghệ nhân thiếu kênh phản ánh chính thức |
4.4. Thực trạng 5 nhóm vốn sinh kế và chỉ số kinh tế di sản tại gốm Phù Lãng
Đánh giá theo 5 nhóm vốn sinh kế cho thấy, chỉ số kinh tế di sản tổng hợp đạt 2,5/5, phản ánh trạng thái “bẫy sinh kế thấp” mà làng nghề khó tự thoát ra nếu không có can thiệp từ bên ngoài. Trong đó, vốn tự nhiên đạt mức thấp nhất (2,0 – 2,2/5) nhưng đang có chiều hướng cải thiện nhờ dự án chuyển đổi 30 – 40% lò gas do JICA hỗ trợ. Vốn con người (2,5/5) và vốn xã hội (2,5/5) đều ở mức yếu, với tỷ lệ thợ trẻ dưới 35 tuổi chỉ chiếm 15 – 20% lực lượng lao động và hợp tác xã mới bao phủ được 15% số hộ sản xuất. Cấu trúc năm vốn mất cân đối này chỉ có thể được cải thiện đồng bộ khi chức năng kiểm tra – giám sát được nâng cấp, tạo nền tảng minh bạch để thu hút đầu tư và phát triển thị trường.
5. Kết quả thảo luận và hàm ý chính sách
Từ phân tích thực trạng và đối chiếu với bằng chứng quốc tế, nghiên cứu rút ra 3 kết luận nền tảng: (1) Điểm số 2,0/5 của chức năng kiểm tra, giám sát là điểm yếu mang tính hệ thống, không phải ngẫu nhiên, xuất phát từ sự thiếu vắng hoàn toàn hạ tầng số hóa giám sát và sự phân tán thẩm quyền giữa bốn sở cấp tỉnh; (2) Nguyên nhân thiếu hạ tầng số, phân tán thẩm quyền và kiểm tra hoàn toàn thủ công tạo thành vòng lặp “bẫy quản lý thấp” mà bộ máy hiện tại không thể tự phá vỡ; (3) Mô hình hệ thống thông tin quản lý di sản 5 module là giải pháp đột phá khả thi nhất, với suất sinh lợi đầu tư ước tính 3:1 trong hai năm đầu triển khai.
5.1. Đề xuất mô hình hệ thống thông tin quản lý di sản 5 module
Logic thiết kế 5 module bắt nguồn trực tiếp từ khung IAD của Ostrom (1990): Module 1 giải quyết điều kiện sinh thái – vật lý bằng cách xây dựng cơ sở dữ liệu di sản nền tảng; Module 2 và Module 3 giải quyết tình huống hành động thông qua xác thực sản phẩm và giám sát thương mại điện tử; Module 4 và Module 5 giải quyết kết quả và vòng phản hồi thông qua bảng điều khiển và cổng thông tin công khai. Mô hình tuân theo ba nguyên tắc thiết kế: (1) “Living heritage + digital layer” – số hóa là lớp bổ trợ, không thay thế di sản sống; (2) Luồng dữ liệu một chiều từ Module 1 đến Module 5 và quay trở lại cải thiện Module 1; (3) Phù hợp thể chế – mỗi module có đơn vị chủ quản được xác định rõ ràng theo Luật Di sản văn hóa năm 2024.
Bằng chứng từ so sánh quốc tế củng cố tính khả thi của mô hình. Trong 6 điển hình phân tích, gốm Icheon (Hàn Quốc) và gốm Kyo-Yaki (Nhật Bản) ứng dụng công nghệ chuỗi khối và mã phản hồi nhanh từ năm 2019 – 2021, đưa tỷ lệ hàng giả xuống dưới 2%. Gốm Lango (Uganda) triển khai quản lý kỹ thuật số qua hợp tác xã, đạt tỷ lệ bao phủ thành viên từ 65% trở lên (Ocen và Jin, 2026)11. Bát Tràng trong nước có lợi thế về hỗ trợ từ thành phố Hà Nội và thị trường xuất khẩu rộng, nhưng Phù Lãng có thể vượt qua khoảng cách này thông qua đặc trưng kỹ thuật độc đáo của gốm men nâu và sự hỗ trợ thể chế mới từ Luật Di sản văn hóa năm 2024.
Bảng 3. Mô tả 5 module hệ thống thông tin quản lý di sản và chỉ tiêu mục tiêu năm 2030
| Module | Tên | Chức năng cốt lõi | Đơn vị chủ quản | Chỉ tiêu năm 2030 |
| Module 1 | Kiểm kê số hóa ba chiều và thực tế ảo | Số hóa 912 di sản văn hóa phi vật thể theo chuẩn UNESCO | Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh | Từ 500 di sản trở lên; cập nhật trong 30 ngày |
| Module 2 | Mã phản hồi nhanh và chuỗi khối “Phù Lãng chính hãng” | Xác thực nguồn gốc từ đất sét đến nghệ nhân và người mua | Cục Quản lý thị trường Bắc Ninh | Từ 95% sản phẩm có mã; gốm giả dưới 5% |
| Module 3 | Trình thu thập dữ liệu thương mại điện tử và cảnh báo tự động | Quét liên tục 24/7 các sàn Shopee, TikTok, Lazada, Etsy | Cục Quản lý thị trường Bắc Ninh | Phát hiện vi phạm trong 24 giờ; xử lý trong 15 ngày trở xuống |
| Module 4 | Bảng điều khiển 30 chỉ tiêu theo thời gian thực | Bảng điều khiển phân cấp cho bốn nhóm người dùng | Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh | 90% chỉ tiêu tự động hóa; cập nhật theo thời gian thực |
| Module 5 | Cổng thông tin công khai phulanggom.vn | Ba ngôn ngữ; kênh kiến nghị với cam kết phản hồi trong 20 ngày | Ủy ban nhân dân thị xã Quế Võ | Từ 80% kiến nghị được phản hồi trong 20 ngày trở lên |
5.2. Lộ trình triển khai giai đoạn 2027 – 2035 và dự báo tác động
Lộ trình ba giai đoạn được thiết kế theo phương pháp dự báo ngược (backcasting) từ mục tiêu năm 2035, phù hợp với chu kỳ ngân sách 2027 – 2030. Việc ưu tiên Module 2 và Module 3 trong giai đoạn 1 dựa trên ba lý do: (1) Chi phí triển khai ở mức trung bình từ 8 đến 10 tỷ đồng; (2) Tác động trực tiếp và đo lường được đối với vấn đề gốm giả – vấn đề gây thiệt hại kinh tế rõ ràng nhất; (3) Tạo ra dữ liệu nền thiết yếu cho các module sau. Suất sinh lợi đầu tư ước tính đạt 3:1 sau hai năm triển khai, dựa trên chi phí khoảng 8 – 10 tỷ đồng và thiệt hại gốm giả tiết kiệm được khoảng 9,6 tỷ đồng mỗi năm khi giảm tỷ lệ từ 20% xuống dưới 5% (Cục Quản lý thị trường Bắc Ninh, 2024)12.
Bảng 4. Lộ trình triển khai hệ thống thông tin quản lý di sản 5 module giai đoạn 2027 – 2035
| Giai đoạn | Thời gian | Module ưu tiên | Chỉ tiêu cần đạt | Ngân sách ước tính (tỷ đồng) |
| Giai đoạn 1: Nền tảng | 2027-2029 | Module 2 và Module 3 tại Phù Lãng; ban hành nghị quyết bộ 30 chỉ tiêu đánh giá | Gốm giả dưới 10%; mã phản hồi nhanh từ 60% trở lên; xử lý vi phạm trong 30 ngày | 15-20 |
| Giai đoạn 2: Mở rộng | 2029-2031 | Module 4 toàn tỉnh; nhân rộng sang làng gốm Thổ Hà | Chức năng kiểm tra – giám sát đạt 3,5/5; gốm giả dưới 5%; hợp tác xã bao phủ từ 60% trở lên | 25-35 |
| Giai đoạn 3: Hoàn thiện | 2032-2035 | Module 1 và Module 5; tích hợp Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU | Chức năng kiểm tra – giám sát đạt 3,8/5; chỉ số kinh tế di sản từ 4,0/5 trở lên; văn hóa chiếm từ 7% tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh trở lên | 40-50 |
Bảng 5 trình bày dự báo tác động theo hai kịch bản 2030 và 2035, dựa trên phương pháp backcasting có tham chiếu mô hình Icheon (Hàn Quốc) và Lango (Uganda). Kịch bản đến năm 2030 phản ánh tác động trực tiếp sau khi hoàn thành giai đoạn 2 (Module 2, 3 và 4). Kịch bản đến năm 2035 là trạng thái hoàn thiện khi toàn bộ năm module vận hành đồng bộ và được tích hợp vào thị trường xuất khẩu theo Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU.
Bảng 5. Dự báo tác động của hệ thống thông tin quản lý di sản 5 module (phương pháp backcasting)
| Chỉ số | Mức nền năm 2024 | Kịch bản năm 2030 | Kịch bản năm 2035 |
| Điểm chức năng kiểm tra – giám sát | 2,0/5 | 3,8/5 | 4,2/5 |
| Tỷ lệ gốm giả | ~20% | Dưới 5% | Dưới 2% |
| Thiệt hại do gốm giả (tỷ đồng mỗi năm) | ~12 | Dưới 2,4 (giảm 80%) | Dưới 1,2 (giảm 90%) |
| Chỉ số kinh tế di sản (HEI) | 2,5/5 | Từ 4,0/5 trở lên | Từ 4,5/5 trở lên |
| Doanh thu gốm Phù Lãng (tỷ đồng mỗi năm) | ~100 | Từ 300 trở lên | Từ 500 trở lên |
| Suất sinh lợi đầu tư Module 2 và Module 3 | – | 3:1 (sau 2 năm) | 5:1 (lũy tích) |
5.3. Hàm ý chính sách
Bài viết đề xuất hàm ý chính sách theo bốn cấp quản lý (xem Bảng 6). Toàn bộ kiến nghị được thiết kế để triển khai từ năm 2027, thời điểm khung pháp lý đã hoàn thiện, chu kỳ ngân sách được phê duyệt và bộ máy sau sáp nhập đã ổn định đủ để tiếp nhận các cải cách có tính hệ thống.
Bảng 6. Hàm ý chính sách theo bốn cấp quản lý (triển khai từ năm 2027)
| Cấp quản lý | Kiến nghị cụ thể | Căn cứ pháp lý và thời hạn |
| Trung ương (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) | Ban hành thông tư hướng dẫn triển khai hệ thống thông tin quản lý di sản cấp tỉnh kèm bộ tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia cho năm module | Luật 45/2024/QH15 Chương VII; Nghị quyết 80-NQ/TW. Thời hạn: Quý 1 năm 2027 |
| Tỉnh Bắc Ninh (Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh) | Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết bộ 30 chỉ tiêu đánh giá di sản và bố trí ngân sách 15-20 tỷ đồng cho giai đoạn 1 (2027-2029); thành lập Phòng Kinh tế di sản thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch | Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15. Thời hạn: Quý 1/2027 |
| Xã Phù Lãng (Ủy ban nhân dân xã) | Ưu tiên triển khai Module 2 và Module 3 tại xã Phù Lãng từ đầu năm 2027; xây dựng quy hoạch bảo vệ 50 ha đất sét ven sông Cầu phục vụ sản xuất gốm lâu dài | Dựa trên mô hình Icheon (Hàn Quốc). Thời hạn: Quý 1/2027 |
| Cộng đồng (Hợp tác xã và nghệ nhân) | Mở rộng hợp tác xã để bao phủ từ 40% số hộ sản xuất trở lên trước năm 2029; tham gia các khóa đào tạo kỹ năng sử dụng hệ thống thông tin quản lý di sản trên thiết bị di động | Bài học từ Lango – Uganda (Ocen và Jin, 2026). Thời hạn: Năm 2027-2028 |
Thành công trong triển khai mô hình tại Bắc Ninh có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi địa phương: đây sẽ là mô hình thí điểm cấp tỉnh đầu tiên tại Việt Nam về ứng dụng hệ thống thông tin quản lý di sản theo Chương VII Luật Di sản văn hóa năm 2024, tạo tiền lệ và kinh nghiệm thực tiễn cho việc nhân rộng sang các tỉnh khác có di sản nghề thủ công truyền thống. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần bổ sung dữ liệu điều tra sơ cấp để kiểm chứng định lượng các giả thuyết về tác động và điều chỉnh lộ trình theo điều kiện thực tiễn.
Chú thích:
1. Cục Quản lý thị trường Bắc Ninh (2024). Báo cáo tình trạng hàng giả, hàng nhái sản phẩm làng nghề của tỉnh Bắc Ninh năm 2024.
2. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh (2022 – 2025). Báo cáo tổng kết công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh Bắc Ninh (các năm 2022, 2023, 2024, 2025).
3. Ostrom, E. (1990). Governing the commons: The evolution of institutions for collective action. Cambridge University Press.
4. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (2017). Treasury single account: Concept, design, and implementation issues. https://www.imf.org/en/Publications/Policy-Papers/Issues/2017/04/21/pp082310.
5. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2014). Recommendation of the Council on Digital Government Strategies. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9789264229331-en.
6. Throsby, D. (2024). Sustainability and the cultural economy: New frameworks for analysis. Journal of Cultural Economics, 48(1), 1-24.
7. Department for International Development (1999). Sustainable livelihoods guidance sheets. DFID.
9. Creswell, J. W., & Creswell, J. D. (2025). Research design: Qualitative, quantitative, and mixed methods approaches (6th ed.). SAGE Publications.
10. Braun, V., & Clarke, V. (2022). Thematic analysis: A practical guide. SAGE Publications.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
2. Artese, G., & Gagliardi, R. (2024). Blockchain-based authentication for intangible cultural heritage: A framework for digital provenance. International Journal on Advances in Heritage, 12(1), 1-18.
3. Korea Craft & Design Foundation (2023). Annual report on the Icheon celadon digital management system 2023. Korea Craft & Design Foundation.
4. Ocen, P., & Jin, C. (2026). Cooperative-led digital heritage management in sub-Saharan Africa: Evidence from the Lango pottery cluster in Uganda. World Development, 180(1), 106-122.
5. Ostrom, E. (2009). A general framework for analyzing the sustainability of social-ecological systems. Science, 325(5939), 419-422. https://doi.org/10.1126/science.1172133
6. Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa năm 2025.
7. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh của Bắc Ninh và Bắc Giang. https://thuvienphapluat.vn
8. Revilla Bueloth, J., García, M., & Torres, L. (2024). QR code traceability and heritage tourism in Andean craft traditions: The case of Huancas pottery, Peru. Journal of Heritage Tourism, 19(3), 214-229.
9. Throsby, D. (2010). The economics of cultural policy. Cambridge University Press.
10. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Bắc Ninh (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025).



