Một số kinh nghiệm trong lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quân khu 7 trong tình hình mới

Some experiences in leading the mass mobilization work of the Party committee of military region 7 in the new situation

Thiếu tá Phạm Lâm Đức
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Công tác dân vận là nội dung cơ bản trong hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức rõ vị trí chiến lược của địa bàn phía Nam, những năm qua, Đảng bộ Quân khu 7 luôn quan tâm lãnh đạo, đổi mới công tác dân vận, đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.

Từ khóa: Kinh nghiệm lãnh đạo; công tác dân vận; Quân khu 7.

Abstract: Mass mobilization work is a fundamental component of the Party and political work within the Vietnam People’s Army. Recognizing the strategic importance of the Southern region, the Party Committee of Military Region 7 has consistently led and innovated in mass mobilization activities in recent years. These efforts have yielded significant results, contributing to the construction of a solid “posture of people’s hearts”.

Keywords: Leadership experience; Mass mobilization work; Military Region 7.

1. Đặt vấn đề

Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng, là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”1, Đảng bộ Quân khu 7 luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên địa bàn chiến lược trọng điểm phía Nam.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân và bảo vệ Tổ quốc đặt ra ngày càng cao. Điều đó đòi hỏi công tác dân vận phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả nhằm giữ vững ổn định từ cơ sở.

2. Thực tiễn lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quân khu 7

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trước yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược tại Nam Bộ, ngày 10/12/1945, tại Bình Hòa Nam (nay là xã Đức Huệ, tỉnh Long An), Hội nghị Xứ ủy lâm thời Nam Bộ đã quyết định thành lập Chiến khu 7 (tiền thân của Quân khu 7 ngày nay). Đây là mốc son lịch sử đánh dấu sự ra đời của lực lượng vũ trang tập trung trên địa bàn chiến lược trọng điểm phía Nam, do đồng chí Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng và đồng chí Trần Xuân Độ làm Chủ nhiệm Chính trị bộ. Để ghi nhớ sự kiện trọng đại này, ngày 10/12 hằng năm đã chính thức trở thành Ngày Truyền thống của Lực lượng vũ trang Quân khu 7. Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Quân khu 7 cùng nhân dân trên địa bàn đã kế thừa xứng đáng tinh thần “Miền Đông gian lao mà anh dũng”, xây đắp nên truyền thống vẻ vang: “Trung thành vô hạn, chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, đoàn kết quyết thắng”.

Trong dòng chảy lịch sử đó, công tác dân vận luôn là mạch nguồn sức mạnh, tạo nên bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang Quân khu 7. Kế thừa tinh thần “Miền Đông gian lao mà anh dũng”, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân khu luôn kiên trì phương châm “đi dân nhớ, ở dân thương”, xây dựng “thế trận lòng dân’ vững chắc ngay từ trong lửa đạn chiến tranh đến hòa bình xây dựng. Với chức năng là “đội quân công tác’, lực lượng vũ trang Quân khu đã chủ động bám dân, bám địa bàn, thực sự trở thành nhịp cầu tin cậy thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân vùng chiến lược phía Nam. Đây chính là nền tảng vững chắc để Đảng bộ Quân khu tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay.

Trước yêu cầu về công tác dân vận trong tình hình mới, Đảng ủy Quân khu 7 đã ban hành Nghị quyết số 2528-NQ/ĐU ngày 21/7/2015 về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu trong tình hình mới”. Nghị quyết đã tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của toàn quân khu. Từ năm 2019 đến nay, lực lượng vũ trang Quân khu đã tổ chức hơn 8.011 buổi tuyên truyền cho gần 900.000 lượt người, xây dựng hơn 2.000 căn nhà tình nghĩa quân – dân và huy động hàng trăm tỷ đồng hỗ trợ an sinh xã hội. Đặc biệt, trong đại dịch Covid-19, hơn 1,6 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ đã xông pha trên tuyến đầu, khẳng định vai trò là “đội quân công tác” tin cậy của Nhân dân. Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận trên địa bàn chiến lược phía Nam, có thể nhận thấy sự thống nhất giữa quan điểm của Đảng với sự vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của Quân khu 7.

Một là, thường xuyên quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về vị trí, vai trò của công tác dân vận trong tình hình mới.

Đây là kinh nghiệm có ý nghĩa quyết định, là tiền đề để chuyển hóa tư tưởng thành hành động thực tiễn. Vị trí then chốt của kinh nghiệm này xuất phát từ đặc thù địa bàn Quân khu 7 là vùng kinh tế năng động nhất cả nước nhưng cũng là nơi các thế lực thù địch tập trung thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết. Nếu nhận thức không đầy đủ, cán bộ, chiến sĩ dễ rơi vào tư tưởng xem nhẹ công tác dân vận, cho rằng đây là nhiệm vụ phụ trợ hoặc là trách nhiệm riêng của cơ quan chính trị chuyên trách. Do đó, Đảng bộ Quân khu đã quán triệt sâu sắc nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết số 2528-NQ/ĐU ngày 21/7/2015 của Đảng ủy Quân khu 7 đặt ra: “Công tác lãnh đạo, chỉ đạo giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về vị trí, vai trò công tác dân vận… làm cho cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân nắm vững mục tiêu, quan điểm của Đảng về công tác dân vận”2. Trên cơ sở đó, các cơ quan, đơn vị đã đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị.

Nội dung giáo dục tập trung quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về “thế trận lòng dân” và các quan điểm, nghị quyết của cấp trên. Trọng tâm là Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; Nghị quyết số 49-NQ/QUTW ngày 26/01/2015 của Quân ủy Trung ương và đặc biệt là Nghị quyết số 2528-NQ/ĐU ngày 21/7/2015 của Đảng ủy Quân khu 7 về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu trong tình hình mới”. Hình thức giáo dục được triển khai linh hoạt, phù hợp với đặc thù địa bàn chiến lược trọng điểm phía Nam có đa dạng về dân tộc, tôn giáo. Các đơn vị đã kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục tại chức với thông qua các đợt sinh hoạt chính trị, tập huấn cán bộ và đặc biệt là thông qua phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng “Đơn vị dân vận tốt”. Qua đó, làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ thấu suốt phương châm: việc dân vận không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan chuyên trách mà là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa lực lượng vũ trang Quân khu với Nhân dân trên địa bàn.

Hiện thực hóa kinh nghiệm trên vào thực tiễn sinh động trên địa bàn chiến lược phía Nam đòi hỏi các cấp ủy phải thường xuyên cập nhật những biến đổi của đời sống xã hội trên địa bàn, nhất là các khu công nghiệp và vùng biên giới, để đổi mới nội dung tuyên truyền sát thực tiễn. Phải biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, để mỗi cán bộ, chiến sĩ dù ở bất cứ vị trí công tác nào cũng trở thành một “dân vận viên” sắc sảo, có đủ bản lĩnh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kịp thời bác bỏ các luận điệu sai trái, đồng thời làm cho Nhân dân tin yêu và đồng hành cùng lực lượng vũ trang. Việc giữ vững nhận thức đúng đắn chính là bảo đảm cho mối quan hệ máu thịt giữa lực lượng vũ trang Quân khu với Nhân dân luôn bền chặt, tạo thành nguồn sức mạnh nội sinh vô tận để bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược trọng điểm phía Nam của Tổ quốc.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, trách nhiệm của người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp đối với công tác dân vận.

Đây là kinh nghiệm then chốt, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu 7. Trong cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, sự sát sao của cấp ủy và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu chính là bảo đảm cao nhất để các chủ trương dân vận không dừng lại ở nghị quyết mà đi sâu vào đời sống xã hội.

Thực tiễn cho thấy, sự vững mạnh của “thế trận lòng dân” tỷ lệ thuận với sự quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng. Những năm qua, Đảng ủy Quân khu 7 đã phát huy cao độ vai trò hạt nhân lãnh đạo, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cấp ủy viên và người chỉ huy trong việc bám nắm địa bàn, thực hiện “địa phương hóa” công tác dân vận. Cụ thể, Đảng ủy Quân khu đã ban hành và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 2528-NQ/ĐU ngày 21/7/2015 về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu trong tình hình mới”. Đây chính là “kim chỉ nam” định hướng cho mọi hoạt động dân vận, tuyên truyền đặc biệt của Quân khu. Trên cơ sở đó, các cấp ủy đảng trực thuộc đã cụ thể hóa thành các quy chế, chương trình hành động sát với đặc điểm đơn vị và địa phương đóng quân.

Quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết là: “cấp ủy đảng lãnh đạo, người chỉ huy điều hành, các cơ quan và tổ chức quần chúng làm tham mưu và nòng cốt thực hiện”3, vai trò tham mưu của Cục Chính trị và cơ quan chính trị các cấp được phát huy tối đa, đảm bảo tính hiệp đồng chặt chẽ giữa đơn vị quân đội với cấp ủy, chính quyền địa phương. Người chỉ huy các cấp không chỉ chịu trách nhiệm về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu mà còn là người trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra và xử lý kịp thời các tình huống nảy sinh về dân tộc, tôn giáo trên địa bàn. Sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng dân” thông qua vai trò cầu nối của các cấp ủy đảng chính là chìa khóa để giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tạo điều kiện cho địa phương phát triển bền vững.

Để kinh nghiệm này tiếp tục lan tỏa và mang lại hiệu quả thực chất trong bối cảnh mới, các cơ quan, đơn vị cần chú trọng việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, ngăn chặn triệt để các biểu hiện quan liêu, xa dân hoặc vô cảm trước những khó khăn của quần chúng. Hướng vận dụng hiện nay đòi hỏi sự phối hợp đa ngành, đa lực lượng, trong đó người chỉ huy phải là người trực tiếp bám nắm các “điểm nóng”, đối thoại và giải quyết thấu đáo những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân ngay từ cơ sở. Sự vững mạnh của tổ chức đảng và năng lực điều hành của người chỉ huy chính là “điểm tựa” vững chắc để công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu 7 thực sự trở thành công cụ sắc bén trong việc xây dựng địa bàn an toàn, góp phần làm sáng đẹp thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân Miền Đông và cực Nam Trung Bộ.

Ba là, tích cực đổi mới nội dung, hình thức công tác dân vận phù hợp với tình hình thực tiễn.

Quán triệt và hiện thực hóa chức năng “đội quân công tác”, Đảng bộ Quân khu 7 xác định đây là bài học mang ý nghĩa phương pháp luận quan trọng, là yếu tố tạo nên sức sống và hiệu quả thực chất của công tác dân vận. Vị trí, vai trò của kinh nghiệm này xuất phát từ tính chất vận động, phát triển không ngừng của đời sống xã hội; nếu nội dung, hình thức dân vận xơ cứng, chậm đổi mới sẽ dẫn đến xa rời thực tiễn, làm giảm niềm tin của quần chúng đối với hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đặc biệt, đối với địa bàn chiến lược trọng điểm phía Nam – nơi có sự phát triển năng động về kinh tế nhưng cũng là “vùng trũng” mà các thế lực thù địch tập trung chống phá – việc đổi mới nội dung, hình thức công tác dân vận là yêu cầu khách quan để giữ vững “thế trận lòng dân” và chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ sớm, từ xa.

Trên cơ sở nhận thức quan điểm của Nghị quyết số 2528-NQ/ĐU là “công tác dân vận phải hướng mạnh về cơ sở, nhất là các địa bàn trọng điểm, khu đô thị, khu công nghiệp, vùng đồng bào dân tộc ít người, đồng bào có đạo, địa bàn khó khăn về kinh tế – xã hội”4, nội dung công tác dân vận không chỉ dừng lại ở tuyên truyền lý thuyết mà tập trung vào việc xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, trực tiếp góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở tại các vùng trọng điểm, vùng sâu, vùng xa và biên giới. Lực lượng vũ trang Quân khu đã phát huy tối đa lợi thế của các đơn vị đóng quân trên địa bàn để thực hiện phương châm “lo cho dân như lo cho thân nhân mình”.

Đặc biệt, Quân khu đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo nhiều mô hình mang đậm dấu ấn riêng, có giá trị thực tiễn cao như: “Điểm dân cư liền kề Chốt dân quân biên giới, Đồn, Trạm Biên phòng” và chủ trương “Địa phương, đơn vị tuyến sau hỗ trợ địa phương, đơn vị tuyến trước”. Đây là bước đột phá nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa dân ra sát biên giới, vừa phát triển kinh tế, vừa tạo “phên dậu” vững chắc bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh các hình thức truyền thống như: tổ chức các đợt hành quân dã ngoại kết hợp làm công tác dân vận; khám bệnh, cấp thuốc miễn phí; tặng “Nhà tình nghĩa quân – dân”, “Nhà đồng đội”, các đơn vị đã đẩy mạnh hoạt động “Tăng cường gắn kết thân thiện, hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào dân tộc, tôn giáo”. Các chương trình như tặng công trình sinh hoạt văn hóa, thể thao cho cơ sở tôn giáo hay hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số đã củng cố niềm tin của nhân dân đối với “Bộ đội Cụ Hồ”. Việc duy trì hiệu quả các Tổ công tác dân vận và đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng “Đơn vị dân vận tốt” đã giúp lực lượng vũ trang Quân khu nắm chắc tình hình, kịp thời giải quyết các “điểm nóng”, không để các thế lực thù địch lợi dụng kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việc chuyển hóa các giá trị của bài học này vào thực tiễn hiện nay đòi hỏi các đơn vị phải nhạy bén hơn nữa trong việc ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào công tác tuyên truyền, đặc biệt là khai thác ưu thế của không gian mạng để định hướng dư luận và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Hướng vận dụng này yêu cầu mỗi cán bộ, chiến sĩ không chỉ làm tốt việc dân vận trực tiếp mà còn phải là một “chiến sĩ dân vận” trên không gian số, nắm chắc tình hình tư tưởng nhân dân trong các khu công nghiệp, đô thị lớn để kịp thời tham mưu giải quyết các “điểm nóng” từ khi mới manh nha. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đổi mới hình thức hiện đại với duy trì các mô hình hiệu quả đã có chính là chìa khóa để lực lượng vũ trang Quân khu 7 nắm chắc địa bàn, bảo đảm cho mối quan hệ quân – dân không để các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.   

Bốn là, quan tâm bồi dưỡng nâng cao nhận thức, năng lực công tác dân vận cho cán bộ, đảng viên; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho công tác dân vận.

Đây là kinh nghiệm có ý nghĩa then chốt, đóng vai trò là “đòn bẩy” và là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ dân vận trên địa bàn. Thấu suốt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 xác định trong chiến lược xây dựng Quân đội về chính trị, năng lực dân vận của đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ thuần túy là yêu cầu chuyên môn mà còn là thước đo bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và tính Đảng của người chiến sĩ. Việc nâng cao chất lượng lực lượng làm công tác dân vận, nhất là đội ngũ chuyên trách và hạt nhân cốt cán tại cơ sở, chính là giải pháp căn cơ để đối phó với âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

Quán triệt định hướng của Nghị quyết số 2528-NQ/ĐU, Quân khu đã chỉ đạo các cơ quan chức năng, trọng tâm là Cục Chính trị phải: “Thường xuyên củng cố, kiện toàn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng công tác dân vận cho cơ quan và cán bộ dân vận ở các đơn vị có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, nắm bắt thực tiễn, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền”5. Đặc biệt, thực hiện chủ trương của Đảng ủy Quân khu, các đơn vị đã chủ động phối hợp với địa phương tổ chức các lớp học tiếng dân tộc (Khmer, S’Tiêng, Chăm…) cho cán bộ, chiến sĩ công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới. Điều này không chỉ nâng cao năng lực chuyên môn mà còn tạo tâm thế “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. Song hành với yếu tố con người, Đảng bộ Quân khu 7 đặc biệt coi trọng việc “vật chất hóa” tình đoàn kết quân – dân thông qua tăng cường nguồn lực đầu tư. Khác với hoạt động an sinh xã hội đơn thuần, việc đầu tư tại Quân khu 7 mang tính chất đầu tư cho sự ổn định chính trị lâu dài. Quân khu đã bám sát các nghị quyết của Đảng và Quân ủy Trung ương để tham mưu cho địa phương huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội hóa, biến các chủ trương thành hàng ngàn căn “Nhà tình nghĩa quân – dân”, các thiết chế văn hóa, thể thao trong cơ sở tôn giáo và các điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới.

Trong điều kiện hiện nay, việc vận dụng kinh nghiệm này đòi hỏi các đơn vị phải tiếp tục chuẩn hóa đội ngũ cán bộ dân vận theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, đủ sức xử lý các vấn đề phức tạp ngay từ cơ sở; đồng thời linh hoạt ứng dụng công nghệ số để đổi mới hình thức tiếp cận quần chúng. Việc gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo “con người tinh thông” và bảo đảm “nguồn lực vững chắc” chính là nền tảng để công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu 7 đi vào chiều sâu, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần củng cố vững chắc “thế trận lòng dân” trên địa bàn chiến lược trọng điểm phía Nam.   

Năm là, thường xuyên coi trọng công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời biểu dương và nhân rộng các mô hình, điển hình “Dân vận khéo”.

Đây là kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, nhằm kiểm chứng tính đúng đắn của các chủ trương và không ngừng hoàn thiện phương thức lãnh đạo công tác dân vận trong điều kiện mới. Trong bối cảnh địa bàn Quân khu 7 có sự phát triển năng động, nhiều yếu tố đan xen phức tạp về kinh tế – xã hội, dân tộc, tôn giáo và an ninh chính trị, nếu không thường xuyên tiến hành sơ kết, tổng kết thì các chủ trương rất dễ rơi vào tình trạng hình thức, xa rời thực tiễn, không theo kịp sự vận động nhanh chóng của đời sống xã hội.

Quán triệt sâu sắc yêu cầu của Nghị quyết số 2528-NQ/ĐU về việc: “Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, xây dựng và nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến; kịp thời biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm kỷ luật dân vận”6, Đảng ủy Quân khu 7 đã lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tổ chức sơ kết, tổng kết công tác dân vận một cách nền nếp, khoa học và sát thực tiễn. Quá trình này không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả đạt được mà còn đi sâu phân tích nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị định hướng cho giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt, Đảng ủy Quân khu chỉ đạo phải gắn kết quả thực hiện công tác dân vận với việc đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên hằng năm. Đây không chỉ là một chỉ tiêu thi đua đơn thuần mà là thước đo bản lĩnh chính trị, năng lực vận động quần chúng của người cán bộ, chiến sĩ trong tình hình mới.

Thực tiễn giai đoạn 2020 – 2025 cho thấy, nhiều mô hình dân vận hiệu quả đã được phát hiện và lan tỏa rộng rãi như: “Địa phương, đơn vị tuyến sau hỗ trợ địa phương, đơn vị tuyến trước”; “Xây dựng tặng nhà tình nghĩa quân – dân”; “Gắn kết thân thiện giữa đơn vị quân đội với các cơ sở tôn giáo”. Các mô hình này không chỉ mang lại hiệu quả thiết thực về an sinh xã hội mà còn góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội, qua đó tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn chiến lược phía Nam. Bên cạnh đó, việc “kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, thiếu sót và biểu dương, nhân rộng những mô hình, điển hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả”7 trong công tác dân vận đã tạo động lực tinh thần to lớn, thúc đẩy phong trào thi đua “Dân vận khéo” phát triển sâu rộng và bền vững. Đây không chỉ là hình thức ghi nhận thành tích mà còn là biện pháp giáo dục trực quan, góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp, xây dựng hình ảnh người cán bộ, chiến sĩ “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. Ngược lại, việc kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm kỷ luật dân vận cũng có ý nghĩa răn đe, giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong toàn lực lượng. Như vậy, việc kết hợp chặt chẽ giữa sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm với nhân rộng điển hình tiên tiến chính là yếu tố quan trọng bảo đảm cho công tác dân vận của Lực lượng vũ trang Quân khu 7 luôn bám sát thực tiễn, không ngừng đổi mới và phát triển, góp phần xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân” trong tình hình mới.

Những kinh nghiệm nêu trên phản ánh sự vận dụng sáng tạo đường lối, quan điểm của Đảng vào thực tiễn địa bàn Quân khu 7, đồng thời cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của công tác dân vận trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây không chỉ là kết quả của quá trình lãnh đạo đúng đắn mà còn là minh chứng cho tính hiệu quả của việc gắn lý luận với thực tiễn trong hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu.

3. Kết luận

Thực tiễn lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quân khu 7 trong những năm qua đã chứng minh rằng: Công tác dân vận chỉ thực sự hiệu quả khi có sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, sự quyết liệt của cấp ủy và tính sáng tạo trong phương thức thực hiện. Những kinh nghiệm trên không chỉ là bài học quý báu đối với lực lượng vũ trang Quân khu mà còn có giá trị tham khảo trong toàn quân. Trong tình hình mới, việc tiếp tục phát huy các kinh nghiệm này sẽ là cơ sở vững chắc để xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững mạnh, bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược phía Nam của Tổ quốc.

Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 234.
2, 3, 4, 5, 6. Đảng ủy Quân khu 7 (2015). Nghị quyết số 2528-NQ/ĐU ngày 21/7/2015 về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu trong tình hình mới.
7. Đảng uỷ Quân khu 7 (2022). Quy chế số 1017-QC/ĐU ngày 21/4/2022 về công tác dân vận của Lực lượng vũ trang Quân khu.