Factors affecting the capacity of commune-level cadres and civil servants in Dak Lak Province in the context of digital government development
TS. Trần Thị Mai
ThS. Nguyễn Thị Nghị
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại tỉnh Đắk Lắk
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong tiến trình xây dựng chính quyền số tại Việt Nam, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được xem là yếu tố hạt nhân quyết định sự thành bại của quá trình thực thi tại cơ sở. Bài viết tập trung nhận diện và phân tích hệ thống các nhóm yếu tố tác động đến năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Đắk Lắk trên các phương diện: đặc điểm nội tại của đội ngũ; môi trường thể chế; hạ tầng kỹ thuật; văn hóa tổ chức và sự kỳ vọng của cộng đồng trong môi trường đa văn hóa. Thông qua kết quả nghiên cứu, bài viết chỉ ra những điểm nghẽn về sự tương thích giữa trình độ đào tạo và năng lực thực thi; đồng thời, đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược về đổi mới phương thức bồi dưỡng, hoàn thiện cơ chế động lực và nâng cao vai trò dẫn dắt của người đứng đầu.
Từ khóa: Năng lực cán bộ, công chức; cấp xã; chính quyền số; tỉnh Đắk Lắk; năng lực số.
Abstract: In the process of developing digital government in Vietnam, the capacity of commune-level cadres and civil servants is considered a key factor determining the success of implementation at the grassroots level. This article focuses on identifying and analyzing a set of factors affecting the digital capacity of commune-level cadres and civil servants in Dak Lak Province across multiple dimensions: internal characteristics of the workforce, the institutional environment, technical infrastructure, organizational culture, and community expectations within a multicultural environment. Based on the findings, the author identifies bottlenecks in the compatibility between educational levels and implementation capacity, and proposes strategic solutions for innovating training methods, improving incentive mechanisms, and enhancing the leadership role of organizational leaders.
Keywords: Capacity of cadres and civil servants; commune-level; digital government; Dak Lak Province; digital competency.
1. Đặt vấn đề
Trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số không còn là một lựa chọn kỹ thuật mà đã trở thành phương thức quản trị chủ đạo, là động lực cốt lõi để đổi mới mô hình quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Nhận thức rõ tầm quan trọng chiến lược này, Đảng và Nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chính sách đồng bộ nhằm thúc đẩy tiến trình xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, là nơi trực tiếp triển khai và đưa các giá trị của chính quyền số vào đời sống thực tiễn. Do đó, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mục tiêu hiện đại hóa nền hành chính cơ sở. Tại địa bàn mang tính đặc thù về địa chính trị, đa dạng văn hóa và còn nhiều khó khăn về hạ tầng kỹ thuật như tỉnh Đắk Lắk, yêu cầu nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức càng trở nên cấp thiết. Điều này không chỉ đòi hỏi sự thay đổi về kỹ năng thao tác công nghệ mà còn là sự chuyển dịch sâu sắc về tư duy quản trị, thái độ phục vụ và khả năng thích ứng với các nền tảng dữ liệu liên thông.
2. Năng lực cán bộ, công chức cấp xã trong bối cảnh chính quyền số
Trong tiến trình hiện đại hóa nền hành chính, chính quyền số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bộ máy nhà nước mà là sự thay đổi về cách thức vận hành, mô hình hoạt động dựa trên dữ liệu và công nghệ số để cung cấp dịch vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp. Ở cấp cơ sở, chính quyền số được hiểu là mô hình quản trị tại cấp xã, nơi các quy trình nghiệp vụ, hoạt động chỉ đạo, điều hành và giao tiếp với Nhân dân được thực hiện chủ yếu trên môi trường mạng thông qua hệ thống thông tin một cửa điện tử, hệ thống quản lý văn bản và điều hành. Đặc điểm cốt lõi của chính quyền số cấp xã là tính kết nối, liên thông và dựa trên dữ liệu.
Năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã là một tập hợp phức hợp các yếu tố giúp họ thực thi công vụ hiệu quả trong môi trường công nghệ. Nếu các cách tiếp cận truyền thống thường đóng khung năng lực số trong những bảng mô tả về kiến thức và kỹ năng tin học thuần túy thì trong bối cảnh chính quyền số, năng lực này cần được nhìn nhận như một thực thể động. Năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải được định vị lại là sự giao thoa mật thiết giữa tư duy hành chính công hiện đại và khả năng làm chủ công nghệ. Ở đó, công nghệ không còn là công cụ hỗ trợ tách rời mà trở thành hệ điều hành trong mọi thao tác nghiệp vụ. Theo hướng tiếp cận này, khung năng lực số sẽ chuyển dịch từ việc tập trung vào tiêu chuẩn đầu vào sang chú trọng hiệu quả, kết quả đầu ra, tập trung vào các nhóm nội dung mới mang tính thực thi cao, có thể khái quát một số năng lực cơ bản sau:
(1) Năng lực phân tích và quản trị dựa trên dữ liệu. Trong tiến trình xây dựng chính quyền số, khả năng làm chủ và khai thác dữ liệu được xem là kỹ năng nền tảng, đóng vai trò then chốt trong việc thay đổi diện mạo và giá trị cốt lõi của nền hành chính. Ở cấp độ này, cán bộ, công chức không dừng lại ở các thao tác nhập liệu đơn thuần mà phải có năng lực đối soát, phân tích và khai thác thông tin từ các nền tảng số dùng chung để phục vụ công vụ. Năng lực này cho phép chuyển đổi phương thức điều hành từ kinh nghiệm truyền thống sang quản trị thực chứng, dựa trên những con số cụ thể, đa dạng và minh bạch. Đặc biệt, tại địa bàn có nhiều yếu tố đặc thù như tỉnh Đắk Lắk, việc quản trị dữ liệu khoa học sẽ giúp đội ngũ cán bộ, công chức dự báo chính xác các biến động về an ninh, kinh tế – xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để đưa ra các tham mưu chính sách sát với thực tiễn, thay thế cho các quyết định mang tính cảm tính, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý tại địa phương.
(2) Năng lực thích ứng và tự đào tạo. Trong bối cảnh công nghệ không ngừng xoay trục và đổi mới, giá trị của cán bộ, công chức không chỉ nằm ở những kiến thức sẵn có mà quan trọng hơn là khả năng chủ động cập nhật và làm mới tri thức. Năng lực này đòi hỏi đội ngũ phải sở hữu tư duy mở và tính linh hoạt cao để sẵn sàng tiếp nhận, làm chủ các nền tảng số mới ngay khi chúng được triển khai. Thay vì thụ động chờ đợi các khóa đào tạo tập trung theo định kỳ, cán bộ, công chức cần có kỹ năng tự học, tự nghiên cứu để vận hành thành thạo các hệ thống từ quản lý văn bản điều hành đến các ứng dụng chuyên ngành phức tạp. Đây chính là năng lực cốt lõi giúp đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã duy trì tính liên tục và hiệu quả trong công tác tham mưu, điều hành; đồng thời, bảo đảm bộ máy hành chính cơ sở luôn vận hành tương thích với tốc độ phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
(3) Năng lực quản trị và bảo mật dữ liệu. Trong bối cảnh thực thi chính quyền số, đây không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà còn là trách nhiệm pháp lý bắt buộc khi cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp tiếp xúc, thu thập và xử lý khối lượng lớn dữ liệu về dân cư, đất đai và hộ tịch… Năng lực này đòi hỏi cán bộ, công chức phải am hiểu các quy trình kỹ thuật về an toàn thông tin, nhận diện sớm các nguy cơ mất an ninh mạng và thực thi nghiêm túc các quy định về bảo vệ quyền riêng tư của người dân trên không gian số theo quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Việc làm chủ năng lực này giúp xây dựng nền tảng niềm tin vững chắc giữa chính quyền và người dân, bảo đảm mọi hoạt động số hóa đều diễn ra trong hành lang an toàn và đúng quy định pháp luật.
(4) Năng lực dân vận số và điều phối cộng đồng. Khác với các cấp quản lý vĩ mô, cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp tiếp xúc với người dân, đóng vai trò là hạt nhân truyền cảm hứng số tại các buôn, làng, tổ dân phố. Năng lực này không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền mà còn thể hiện qua kỹ năng hướng dẫn, thuyết phục và kiên trì hỗ trợ người dân chuyển đổi từ thói quen giao dịch trực tiếp sang sử dụng dịch vụ công trực tuyến một cách thuần thục. Thông qua việc điều phối các tổ công nghệ số cộng đồng và phát huy uy tín cá nhân, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã sẽ trở thành cầu nối quan trọng giúp xóa bỏ rào cản về ranh giới công nghệ, từ đó, thu hẹp khoảng cách số và thúc đẩy sự bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ hành chính tại địa phương.
(5) Năng lực ra quyết định dựa trên dữ liệu. Trong giai đoạn hiện nay, năng lực của cán bộ, công chức cần được nâng tầm từ việc quản lý dựa trên kinh nghiệm sang quản trị thực chứng thông qua việc khai thác hiệu quả các kho dữ liệu dùng chung. Cán bộ, công chức cần sở hữu kỹ năng phân tích, đối soát và tổng hợp thông tin từ thực tiễn địa bàn để nhận diện chính xác các xu hướng biến động về kinh tế – xã hội cũng như các vấn đề an ninh trật tự phát sinh. Chính khả năng đọc hiểu dữ liệu này sẽ giúp đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy và chính quyền địa phương, đưa ra các quyết sách phát triển kinh tế – xã hội mang tính dự báo cao, bảo đảm các giải pháp được ban hành luôn sát thực tế, kịp thời và mang lại hiệu quả đo lường được thay vì các quyết định mang tính cảm tính.
(6) Năng lực kết nối và điều phối mạng lưới số. Tại cấp xã, cán bộ, công chức là mắt xích quan trọng, trực tiếp tiếp xúc với người dân. Năng lực này không chỉ là sử dụng mạng xã hội mà là khả năng thiết lập và quản lý các hệ sinh thái số tại địa phương. Năng lực kết nối và điều phối mạng lưới số, bao gồm: khả năng điều phối các tổ công nghệ số cộng đồng; năng lực tương tác và giải quyết phản hồi của người dân trên các nền tảng số, như: ứng dụng công dân số, cổng dịch vụ công một cách chuyên nghiệp và kịp thời. Đây chính là sự nâng cấp của kỹ năng dân vận truyền thống. Cán bộ, công chức đóng vai trò là nút thắt kết nối giữa chính quyền cấp trên, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và người dân. Năng lực này giúp xóa bỏ rào cản về địa lý và trình độ dân trí không đồng đều tại tỉnh Đắk Lắk, tạo ra một không gian quản trị mở và tương tác đa chiều.
Năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò là biến số độc lập tác động trực tiếp đến chất lượng dịch vụ công và chỉ số hài lòng của người dân. Dưới góc độ lý thuyết về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong thời đại số, khi công cụ lao động (hạ tầng số, dữ liệu số) đã thay đổi, nếu chủ thể lao động (cán bộ, công chức) không nâng cấp năng lực tương ứng sẽ tạo ra sự lệch pha, dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư của Nhà nước và làm chậm tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Do đó, việc chuẩn hóa năng lực số theo khung tham chiếu quốc tế gắn với đặc thù thực tiễn Việt Nam là yêu cầu cấp thiết để xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại và phục vụ.
3. Các yếu tố tác động đến năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk
Năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại Đắk Lắk không đơn thuần là kỹ năng kỹ thuật mà là kết quả của một hệ sinh thái tác động đa chiều. Để đánh giá một cách khoa học, cần đặt năng lực này trong mối tương quan giữa các yếu tố nội tại của đội ngũ và các áp lực khách quan từ môi trường quản trị.
Bảng 1. Trình độ của cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk (tính tại thời điểm ngày 30/12/2025)
| TT | Chỉ số đánh giá | Tỷ lệ | Nhận diện giá trị |
| 1 | Trình độ chuyên môn từ đại học trở lên | 97,02% | Nền tảng trình độ chuyên môn tương đối tốt rất tốt |
| 2 | Trình độ chuyên môn sâu về tin học (đại học trở lên) | 2,29% | Thiếu hụt chuyên gia quản trị số tại chỗ |
| 3 | Cán bộ, công chức có chứng chỉ tin học (cơ bản/nâng cao) | 89,53% | Đã phổ cập kỹ năng văn phòng cơ bản |
| 4 | Cơ cấu độ tuổi trẻ (dưới 40 tuổi/dưới 30 tuổi) | 40,15% /2,21% | Thách thức về sức ì và tính kế thừa số |
| 5 | Cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số | 11,07% | Lợi thế đặc thù trong dân vận số |
Phân tích các nhóm yếu tố tác động năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk cho thấy:
Một là, yếu tố thuộc về đặc điểm nội tại của đội ngũ và khả năng bắt nhịp công nghệ. Đây là yếu tố quyết định độ thẩm thấu của chính quyền số tại cơ sở. Sự chênh lệch giữa học vấn truyền thống và kỹ năng thực thi số tại tỉnh Đắk Lắk đang là rào cản thực tế. Dù 97,02% cán bộ, công chức có trình độ đại học nhưng tỷ lệ chuyên môn tin học sâu chỉ 2,29%, đã tạo ra một khoảng trống lớn về năng lực quản trị dữ liệu. Bên cạnh đó, chỉ 2,21% cán bộ, công chức trẻ (dưới 30 tuổi) cho thấy, đang thiếu hụt lực lượng bản địa số nhạy bén. Bên cạnh đó, một lượng lớn không nhỏ đội ngũ cán bộ, công chức còn tâm lý e ngại khi phải từ bỏ thói quen làm việc giấy tờ để chuyển sang môi trường mạng2.
Hai là, áp lực từ môi trường thể chế và quy trình vận hành là yếu tố ngoại lực mang tính định hướng, đóng vai trò quyết định trong việc chuyển hóa năng lực từ trạng thái tiềm năng sang thực thi công vụ thực tế. Trong quản trị công hiện đại, năng lực số không tự nhiên nảy sinh mà thường được thúc đẩy mạnh mẽ dưới sức ép của các quy định pháp lý và kỷ luật hành chính. Việc cơ quan nhà nước quy định các quy chuẩn vận hành mới, cụ thể là yêu cầu xử lý hồ sơ trực tuyến toàn trình và ứng dụng chữ ký số trong mọi khâu điều hành đã tạo ra một lực đẩy ngoại sinh mang tính quyết định. Khi quy trình nghiệp vụ được tái cấu trúc hoàn toàn trên môi trường mạng, cán bộ, công chức rơi vào tình thế không thể duy trì các thói quen làm việc thủ công. Điều này buộc họ phải chủ động tự nghiên cứu, cập nhật kiến thức để đáp ứng các tiêu chuẩn công vụ mới. Có thể khẳng định, chính sự nghiêm ngặt của thể chế đã trở thành môi trường rèn luyện thực tế nhất, yêu cầu cán bộ, công chức phải thực thi.
Tuy nhiên, một thực tế đang tồn tại là sự khập khiễng giữa áp lực công việc và chế độ đãi ngộ. Việc thiếu vắng các quy định ưu đãi đặc thù cho nhân lực trực tiếp vận hành hệ thống công nghệ tại cấp xã là yếu tố làm suy giảm đáng kể ý chí tự học hỏi. Khi trách nhiệm về an toàn dữ liệu và khối lượng hồ sơ số ngày càng nhiều nhưng quyền lợi và lộ trình thăng tiến lại chưa tương xứng, đội ngũ cán bộ, công chức dễ nảy sinh tâm lý làm việc theo kiểu hình thức. Đây chính là trạng thái đối phó với công nghệ, nơi cán bộ, công chức thực hiện đầy đủ các bước trên hệ thống nhưng thiếu đi tư duy tối ưu hóa quy trình, khiến cho các giá trị thực chất của chính quyền số bị kìm hãm.
Phân tích sâu hơn cho thấy, nếu chỉ có áp lực tuân thủ mà thiếu đi sự nuôi dưỡng về động lực kinh tế và tinh thần, năng lực số của cán bộ, công chức sẽ dừng lại ở mức độ hoàn thành nhiệm vụ tối thiểu. Để đạt tới sự đột phá về chất, thể chế cần đóng vai trò kép: vừa là khung thép để rèn luyện kỷ luật số, vừa là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích sự đổi mới sáng tạo của cán bộ, công chức tại cơ sở.
Ba là, tính tương thích của hạ tầng kỹ thuật và nền tảng dữ liệu số. Tại các khu vực có điều kiện địa lý đặc thù như vùng sâu, vùng xa của tỉnh Đắk Lắk, tính ổn định của hạ tầng viễn thông đóng vai trò quyết định đến khả năng duy trì các kỹ năng số. Việc hệ thống mạng đôi khi chưa đáp ứng được yêu cầu truy cập liên tục đã tạo ra những đứt gãy trong quy trình xử lý hồ sơ trực tuyến. Khi các rào cản kỹ thuật phát sinh, cán bộ, công chức buộc phải dành nhiều thời gian để khắc phục sự cố thay vì tập trung vào chuyên môn, dẫn đến xu hướng duy trì các phương thức xử lý thủ công để bảo đảm tiến độ công việc. Năng lực quản trị dựa trên dữ liệu chỉ thực sự được phát huy khi các nền tảng phần mềm chuyên ngành bảo đảm tính thống nhất và liên thông. Hiện nay, sự rời rạc giữa các hệ thống dữ liệu chưa được chuẩn hóa danh mục khiến cán bộ phải thực hiện thao tác nhập liệu nhiều lần trên các nền tảng khác nhau. Sự thiếu tương thích này không chỉ làm giảm hiệu suất lao động mà còn làm suy giảm giá trị của các kỹ năng số đã được bồi dưỡng. Khi công nghệ chưa thực hiện tốt vai trò đơn giản hóa quy trình, sức sáng tạo và nỗ lực nâng cao trình độ công nghệ của cán bộ dễ rơi vào trạng thái bão hòa.
Bốn là, kỳ vọng từ Nhân dân và đặc thù văn hóa vùng, miền. Năng lực của cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Đắk Lắk chịu tác động mạnh mẽ bởi tính đặc thù của một địa bàn đa dân tộc và đa văn hóa. Đây vừa là thử thách, vừa là môi trường rèn luyện thực tiễn để đội ngũ cán bộ, công chức tự hoàn thiện mình. Với tỷ lệ trên 11% cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số3, đội ngũ này đang phải đối mặt với áp lực kép trong thực thi công vụ. Họ không chỉ cần làm chủ các nền tảng công nghệ hiện đại mà còn phải thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi ngôn ngữ, bản địa hóa các quy trình số để hướng dẫn bà con tại các buôn, làng. Thực tế này đòi hỏi cán bộ, công chức phải sở hữu năng lực dân vận số linh hoạt, khả năng kết nối và xây dựng niềm tin số cho người dân dựa trên sự am hiểu về phong tục và tiếng nói bản địa.
Kỳ vọng của người dân về một nền hành chính minh bạch, không khoảng cách và giải quyết nhanh chóng các thủ tục hành chính chính là đòn bẩy buộc cán bộ, công chức phải thay đổi. Khi người dân bắt đầu tiếp cận với các ứng dụng công dân số, sự phản hồi trực tiếp và tức thời trên không gian mạng tạo ra một cơ chế giám sát xã hội khách quan. Chính áp lực phục vụ này thúc đẩy cán bộ, công chức không thể dừng lại ở những kỹ năng văn phòng đơn thuần, mà phải nâng cao năng lực điều phối, tương tác và giải quyết vấn đề trên môi trường trực tuyến một cách chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, sự lan tỏa của các mô hình tổ công nghệ số cộng đồng tại địa phương cũng tác động ngược trở lại năng lực của cán bộ, công chức, họ không chỉ làm việc tại trụ sở mà còn phải đóng vai trò là hạt nhân điều phối mạng lưới số tại cơ sở, giúp thu hẹp khoảng cách giữa chính quyền và người dân vùng sâu, vùng xa.
Năm là, vai trò định hướng của người đứng đầu và môi trường văn hóa tổ chức. Năng lực số của mỗi cá nhân không tồn tại độc lập mà luôn chịu sự tác động, chi phối bởi hệ sinh thái quản trị tại đơn vị. Trong đó, tư duy lãnh đạo và văn hóa làm việc của tổ chức đóng vai trò là môi trường nuôi dưỡng hoặc kìm hãm sự phát triển các kỹ năng mới của cán bộ. Thực tiễn quản lý cho thấy, năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức chỉ có điều kiện phát huy tối đa hiệu quả trong một chính quyền số. Nếu lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã thiếu sự quyết liệt hoặc không gương mẫu trong việc ứng dụng các nền tảng số, đặc biệt là trong phê duyệt văn bản và điều hành trực tuyến sẽ tạo ra sự ngắt quãng trong quy trình số hóa.
Một trong những thách thức vô hình tại nhiều đơn vị cơ sở là sự tồn tại của văn hóa hành chính cũ, nơi tâm lý e ngại sai sót và sự trì trệ trước những đổi mới về quy trình công nghệ vẫn còn hiện hữu. Sự thiếu cởi mở với các phương thức quản trị hiện đại thường tạo ra lực cản đối với những sáng kiến số hóa, đặc biệt là từ nhóm cán bộ, công chức trẻ nhạy bén. Khi sự sáng tạo không được bảo vệ hoặc khuyến khích bởi văn hóa tổ chức, cán bộ có xu hướng quay lại với các phương thức thực thi an toàn theo lối mòn, gây lãng phí nguồn lực nhân sự có trình độ cao. Do đó, sự ủng hộ từ người đứng đầu và việc hình thành các chuẩn mực ứng xử trên không gian mạng tại công sở chính là yếu tố cốt lõi. Đây không chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật mà còn là sự chuyển dịch về tư duy quản lý, tạo ra không gian để năng lực của từng cá nhân được cộng hưởng và chuyển hóa thành hiệu quả quản trị chung của cả bộ máy cấp xã.
Sáu là, tốc độ biến đổi của công nghệ và yêu cầu tự cập nhật tri thức số. Khác với các nghiệp vụ hành chính truyền thống vốn có tính ổn định cao, công nghệ số có chu kỳ đổi mới rất ngắn. Các ứng dụng, phần mềm chuyên ngành và phương thức tương tác trực tuyến thường xuyên được cập nhật, nâng cấp các tính năng mới. Nếu công tác bồi dưỡng vẫn duy trì theo phương thức đào tạo tập trung theo định kỳ hằng năm hoặc đào tạo đại trà không phân hóa, cán bộ sẽ rất dễ rơi vào tình trạng lạc hậu so với thực tiễn vận hành. Sự chênh lệch giữa kiến thức được đào tạo và yêu cầu thực tế của hệ thống quản trị hiện đại chính là điểm nghẽn làm giảm hiệu quả thực thi công vụ. Trước bối cảnh đó, khả năng tự trau dồi và làm chủ các công cụ số trở thành năng lực sống còn của mỗi cán bộ, công chức. Điều này không chỉ dừng lại ở việc biết sử dụng máy tính mà là tư duy chủ động tìm kiếm, sàng lọc và ứng dụng các giải pháp công nghệ để giải quyết công việc hiệu quả hơn. Yếu tố này đòi hỏi một sự thay đổi trong cách tiếp cận về quản lý nhân sự cấp xã tại tỉnh Đắk Lắk. Thay vì chỉ trông chờ vào các khóa bồi dưỡng ngắn hạn, cần xây dựng một môi trường khuyến khích sự tự học, tạo điều kiện để cán bộ tiếp cận với các kho học liệu mở và các diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn. Khi tinh thần tự cập nhật trở thành một phần của văn hóa thực thi công vụ, năng lực số của đội ngũ sẽ được nâng cao một cách bền vững và thực chất.
4. Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk
Từ việc phân tích các yếu tố tác động và thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Đắk Lắk, bài viết nhận diện những vấn đề cốt lõi sau:
Thứ nhất, thách thức từ việc chuyển đổi thói quen và kỹ năng thực thi trong môi trường mới. Dù có nền tảng học vấn tốt nhưng năng lực thực tế của cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Đắk Lắk vẫn chưa đáp ứng yêu cầu quản trị dữ liệu và tương tác trực tuyến do sự sự lệch pha giữa lý thuyết, yêu cầu tin học cơ bản trước đây và thực hành các thao tác trực tuyến trong bối cảnh mới. Vấn đề cốt lõi là làm thế nào để giúp đội ngũ cán bộ, công chức thay đổi các thói quen cũ, chuyển hóa kinh nghiệm chuyên môn thành các kỹ năng số linh hoạt, bảo đảm công nghệ được vận hành thực chất nhằm phục vụ Nhân dân hiệu quả.
Thứ hai, với tỷ lệ cán bộ trẻ thấp, việc thay đổi thói quen làm việc đã định hình lâu năm là một thách thức lớn. Yêu cầu đặt ra là phải rút ngắn quá trình chuyển dịch tư duy và kỹ năng để đội ngũ không bị lạc hậu trước tốc độ đổi mới của công nghệ.
Thứ ba, áp lực từ các quy định bắt buộc xử lý hồ sơ trực tuyến là cần thiết, nhưng nếu thiếu các chính sách đãi ngộ, hỗ trợ thỏa đáng sẽ dễ dẫn đến trạng thái thực thi mang tính hình thức, thiếu chiều sâu.
Thứ tư, năng lực số không thể phát huy trong một môi trường hạ tầng thiếu ổn định và dữ liệu rời rạc. Đây là vấn đề mang tính nền tảng cần được giải quyết đồng thời với việc đào tạo con người.
Thứ năm, rủi ro về sự lạc hậu kỹ năng trước tốc độ vận động nhanh chóng của công nghệ. Một vấn đề nan giải là chu kỳ đổi mới của các nền tảng số diễn ra nhanh hơn nhiều so với chu kỳ đào tạo hành chính thông thường. Nếu không hình thành được tư duy tự học tập suốt đời, đội ngũ cán bộ, công chức sẽ khó duy trì được tính bền vững trong năng lực thực thi.
Để khắc phục sự lệch pha giữa năng lực thực tế và yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh đặc thù của địa phương, tỉnh Đắk Lắk cần tập trung thực hiện các nhóm giải pháp trọng tâm sau:
Một là, đổi mới phương thức đào tạo và bồi dưỡng gắn với vị trí việc làm. Theo đó, cần thay đổi tư duy từ đào tạo đại trà, lý thuyết sang bồi dưỡng kỹ năng thực chiến theo phương thức đào tạo dựa trên năng lực. Xây dựng các chương trình đào tạo chuyên biệt cho từng chức danh công chức cấp xã (tư pháp, địa chính, văn phòng…) để họ có thể ứng dụng ngay vào quy trình nghiệp vụ số hằng ngày. Đặc biệt, cần ưu tiên đào tạo năng lực tự học và tự cập nhật kiến thức để cán bộ, công chức chủ động bắt nhịp với sự thay đổi của công nghệ.
Hai là, hoàn thiện thể chế và xây dựng cơ chế động lực phù hợp. Trong đó, cần ban hành các chính sách khuyến khích và đãi ngộ đặc thù cho cán bộ, công chức cấp xã có trình độ công nghệ thông tin cao hoặc có sáng kiến số hóa hiệu quả tại cơ sở. Đồng thời, cần chuẩn hóa quy trình vận hành trực tuyến toàn trình, biến việc sử dụng công nghệ thành tiêu chí quan trọng trong đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức hằng năm. Sự kết hợp giữa áp lực kỷ luật công vụ và đòn bẩy lợi ích sẽ tạo ra động lực tự thân mạnh mẽ.
Ba là, phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu và xây dựng văn hóa số. Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã phải là những người tiên phong đi đầu trong việc ứng dụng các nền tảng số, sử dụng chữ ký số và điều hành công việc trên môi trường mạng. Cần xây dựng một môi trường văn hóa tổ chức cởi mở, khuyến khích sự đổi mới sáng tạo, bảo vệ và phát huy những đóng góp của nhóm cán bộ trẻ nhạy bén, từ đó, xóa bỏ tâm lý e ngại sai sót khi tiếp cận cái mới.
Bốn là, đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và chuẩn hóa dữ liệu dùng chung. Theo đó, tỉnh cần ưu tiên nguồn lực để ổn định hạ tầng internet và hạ tầng truyền dẫn tại các xã vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, cần đẩy mạnh việc liên thông các phần mềm chuyên ngành và chuẩn hóa danh mục dữ liệu. Khi công cụ lao động trở nên thông suốt và thuận tiện, năng lực thực thi của cán bộ sẽ được giải phóng, giúp họ tập trung vào công tác chuyên môn và phục vụ Nhân dân tốt hơn.
Năm là, tăng cường năng lực giao tiếp và kết nối số trong môi trường đa văn hóa theo hướng tận dụng lợi thế của đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số để xây dựng mô hình đại sứ số tại các buôn, làng. Cần bồi dưỡng cho đội ngũ này các kỹ năng hướng dẫn, dân vận số để họ thực hiện tốt vai trò cầu nối, chuyển hóa các thủ tục hành chính phức tạp thành các hướng dẫn đơn giản, dễ hiểu bằng tiếng bản địa trên các nền tảng mạng xã hội, giúp người dân dễ dàng tiếp cận với chính quyền số.
5. Kết luận
Xây dựng chính quyền số tại tỉnh Đắk Lắk là một hành trình dài hạn mà ở đó năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đóng vai trò quyết định sự thành công. Qua phân tích thực chứng, có thể khẳng định rằng, việc nâng cao năng lực đội ngũ không đơn thuần là việc trang bị thêm các văn bằng, chứng chỉ mà là một quá trình chuyển đổi về chất từ tư duy, kỹ năng đến thái độ phục vụ trong kỷ nguyên số. Sự kết hợp giữa các giải pháp về đào tạo đặc thù địa phương, chính sách đãi ngộ thỏa đáng và lộ trình trẻ hóa đội ngũ sẽ là chìa khóa để tỉnh Đắk Lắk vươn mình mạnh mẽ, xây dựng một nền hành chính hiện đại, kiến tạo và phục vụ Nhân dân.
Chú thích:
1, 2, 3. Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk (2026). Báo cáo số 1167/SNV-CCVC ngày 06/3/2026 về việc thống kê ngành Nội vụ năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Bộ Thông tin và Truyền thông (2022). Cẩm nang chuyển đổi số. H. NXB Thông tin và Truyền thông.
3. Chính phủ (2023). Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
4. Hội đồng Lý luận Trung ương (2024). Những vấn đề lý luận và thực tiễn về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Tài liệu phục vụ xây dựng Văn kiện Đại hội XIV.
5. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
6. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
7. Quốc hội (2023). Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
8. Ferrari, A. (2013). DIGCOMP: A Framework for Developing and Understanding Digital Competence in Europe, JRC Scientific and Policy Reports.
9. OECD (2020). The OECD digital government policy framework: Six dimensions of a digital government. OECD Public Governance Policy Papers No. 2, OECD Publishing.
10. United Nations (2024). United Nations e-government survey 2024: Accelerating digital transformation for sustainable development. United Nations Department of Economic and Social Affairs.



