Từ đổi mới tư duy lý luận đến kiến tạo tư duy phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam

From the renewal of theoretical thinking to proactive development-oriented thinking of the Communist Party of Vietnam

TS. Lê Văn Tùng
Trường Đại học Đồng Tháp

(Quanlynhanuoc.vn) – Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng và quản trị phát triển. Trong bối cảnh đó, đổi mới tư duy lý luận, dù có vai trò nền tảng cũng bộc lộ những giới hạn lịch sử khi chủ yếu mang tính thích ứng và điều chỉnh. Trên cơ sở vận dụng phương pháp biện chứng duy vật, phân tích lịch sử và phương pháp hệ thống, bài viết làm rõ sự chuyển từ “đổi mới tư duy lý luận” sang “kiến tạo tư duy phát triển” như một bước phát triển mới về chất trong nhận thức triết học của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ khóa: Đảng cầm quyền; đổi mới tư duy lý luận; kiến tạo tư duy phát triển; nhận thức triết học; phương thức lãnh đạo.

Abstract: After more than 40 years of renovation, Vietnam has entered a new stage of development with higher demands for growth quality and development governance. In this context, the renewal of theoretical thinking, while playing a foundational role, has revealed historical limitations, as it has remained largely adaptive and corrective in nature. Drawing on materialist dialectics, historical and concrete analysis, and systems methodology, this article clarifies the transition from “renewal of theoretical thinking” to “proactive development-oriented thinking” as a new qualitative advance in the philosophical awareness of the Communist Party of Vietnam; proposes a working definition; and affirms its methodological significance for renewing the Party’s leadership and governance methods under new conditions.

Keywords: Ruling party; renewal of theoretical thinking; proactive-architectonic development thinking; philosophical awareness; leadership methods.

1. Đặt vấn đề

Sau 40 năm đổi mới, cách mạng Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu cao hơn và khác biệt căn bản về tư duy lãnh đạo và tổ chức phát triển. Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao, tạo nền tảng để phấn đấu phát triển nhanh và bền vững, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Trong bối cảnh đó, yêu cầu phát triển không còn chủ yếu là khắc phục tụt hậu mà chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cùng với sự chuyển dịch về trình độ phát triển trong nước, bối cảnh quốc tế và khu vực biến đổi nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo. Sự chuyển dịch mô hình phát triển toàn cầu và tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI), đang tái cấu trúc phương thức sản xuất, quản trị và phát triển, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực lãnh đạo của Đảng.

Trong bối cảnh đó, đổi mới tư duy lý luận, dù giữ vai trò nền tảng, đã bộc lộ những giới hạn lịch sử khi chủ yếu mang tính giải phóng và điều chỉnh để thích ứng với thực tiễn. Khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển với yêu cầu quản trị cao hơn, thực tiễn đặt ra đòi hỏi phải nâng tư duy lý luận của Đảng lên trình độ mới, hướng tới tư duy chủ động thiết kế, dẫn dắt và kiến tạo quá trình phát triển. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ sự chuyển từ “đổi mới tư duy lý luận” sang “kiến tạo tư duy phát triển” như một bước phát triển mới về chất trong nhận thức triết học của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện Đảng lãnh đạo.

Về phương pháp nghiên cứu, bài viết vận dụng phương pháp biện chứng duy vật và duy vật lịch sử làm nền tảng phương pháp luận; kết hợp phương pháp phân tích tài liệu, phân tích lịch sử, cụ thể và phương pháp hệ thống trong xử lý đối tượng nghiên cứu. Nguồn tài liệu chính, bao gồm: Văn kiện của Đảng từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XIV (2026), các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kết quả nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế về lý luận phát triển, quản trị nhà nước và kinh tế chính trị phát triển.

2. “Đổi mới tư duy lý luận” – một bước ngoặt lịch sử trong nhận thức triết học của Đảng

2.1. Bối cảnh lịch sử hình thành yêu cầu đổi mới tư duy lý luận

Đổi mới tư duy lý luận ra đời như một tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh trước đổi mới, gắn trực tiếp với yêu cầu sống còn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc kéo dài mô hình phát triển kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp đã làm bộc lộ những mâu thuẫn nội tại gay gắt, đẩy nền kinh tế – xã hội rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, kéo dài và làm suy giảm sâu sắc các động lực phát triển.

Ở bình diện sâu hơn, khủng hoảng đó không chỉ bắt nguồn từ những hạn chế của mô hình kinh tế – xã hội cụ thể mà phản ánh những bất cập mang tính hệ thống trong phương thức tư duy lý luận và lãnh đạo phát triển. Nhận thức và chỉ đạo thực tiễn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư duy giáo điều, giản đơn, duy ý chí; việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin còn mang tính máy móc, rập khuôn, thiếu sáng tạo, chưa gắn chặt với điều kiện lịch sử, cụ thể của Việt Nam. Hệ quả là tư duy lý luận không những không dẫn dắt, mà trong nhiều trường hợp còn trở thành lực cản đối với sự vận động của thực tiễn.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đổi mới không thể dừng lại ở việc điều chỉnh chính sách hay cải cách kỹ thuật quản lý, mà trước hết và căn bản là đổi mới tư duy lý luận, đổi mới phương thức nhận thức hiện thực và phương thức tư duy lãnh đạo. Điều này bao hàm việc từ bỏ các khuôn mẫu nhận thức cứng nhắc, áp đặt; giải phóng tư duy khỏi những rào cản lý luận kìm hãm sự phát triển; đồng thời, khôi phục và phát huy bản chất khoa học, cách mạng và biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn.

Tinh thần tự phê phán và đổi mới tư duy này được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội VI khi Đảng chỉ rõ rằng những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo và quản lý kinh tế – xã hội có nguyên nhân sâu xa từ những hạn chế trong tư duy lý luận1. Đây là sự chuyển biến có ý nghĩa phương pháp luận đặc biệt sâu sắc, đánh dấu bước ngoặt trong nhận thức triết học của Đảng và mở đường cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

2.2. Nội dung cốt lõi và chiều sâu triết học của đổi mới tư duy lý luận

Đổi mới tư duy lý luận được thể hiện tập trung ở những chuyển biến căn bản trong nhận thức chiến lược của Đảng về các vấn đề nền tảng của sự phát triển đất nước. Trước hết là sự thay đổi mang tính đột phá trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đảng từng bước khẳng định đây là một quá trình phát triển lâu dài, phức tạp, không giản đơn, không thể rập khuôn theo bất kỳ mô hình có sẵn nào, mà phải xuất phát từ điều kiện lịch sử,  cụ thể của đất nước và vận dụng linh hoạt các hình thức, bước đi phù hợp.

Một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là việc thừa nhận kinh tế thị trường như một hình thức tổ chức kinh tế khách quan của thời kỳ quá độ, từ đó, từng bước hình thành và phát triển nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như một sáng tạo lý luận đặc thù của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với đó là sự phát triển trong nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế với chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, khắc phục cách tiếp cận phiến diện, tách rời các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ở chiều sâu triết học, đổi mới tư duy lý luận đánh dấu bước phát triển quan trọng trong phương thức tư duy lãnh đạo của Đảng, khi thực tiễn được xác lập là tiêu chuẩn của chân lý và tổng kết thực tiễn trở thành con đường chủ yếu để bổ sung, phát triển lý luận, qua đó, hình thành và củng cố tư duy biện chứng, tư duy thực tiễn, từng bước khắc phục lối tư duy siêu hình, duy ý chí trong nhận thức và chỉ đạo phát triển. Như Ph. Ăngghen chỉ rõ trong lĩnh vực nhận thức khoa học: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”2. Quan điểm đó cũng phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, khi Người khẳng định: “Không phải là một giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; … không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; … luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”3. Nhận thức này được kết tinh ở tầm lý luận cao trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển, 2011), khi Đảng khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá trình phát triển lâu dài, phải trải qua nhiều bước đi và hình thức tổ chức kinh tế – xã hội khác nhau, phù hợp với điều kiện lịch sử, cụ thể của đất nước4.

2.3. Giá trị triết học, ý nghĩa lịch sử và những giới hạn lịch sử của đổi mới tư duy lý luận

Đổi mới tư duy lý luận có giá trị triết học và ý nghĩa lịch sử sâu sắc, khẳng định bản lĩnh lý luận, tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; tạo nền tảng tư tưởng – lý luận cho việc hình thành và phát triển đường lối đổi mới toàn diện đất nước; góp phần quyết định vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 40 năm đổi mới và quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam.

Tuy nhiên, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với trình độ và yêu cầu ngày càng cao, đổi mới tư duy lý luận cũng bộc lộ những giới hạn lịch sử nhất định. Về bản chất, đổi mới tư duy lý luận chủ yếu mang tính giải phóng, khắc phục và điều chỉnh, phù hợp với giai đoạn phá bỏ các rào cản của mô hình cũ; trong nhiều trường hợp vẫn thiên về thích ứng với thực tiễn đang vận động, hơn là chủ động thiết kế các cấu trúc, thể chế và động lực phát triển dài hạn, chưa theo kịp yêu cầu quản trị phát triển phức hợp và đổi mới mô hình tăng trưởng trong giai đoạn hiện nay.

Biểu hiện cụ thể của những giới hạn đó có thể nhận thấy trên một số bình diện. (1) Về mô hình tăng trưởng, mặc dù đạt tốc độ tăng GDP bình quân ấn tượng trong giai đoạn 1991 – 2010, Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và vốn đầu tư nước ngoài, chưa hình thành được nền công nghiệp nội địa mạnh với năng lực cạnh tranh dài hạn5. (2) Về năng suất lao động, đến cuối thập niên 2010, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng khoảng 7% của Singapore, 19% của Malaysia và 37% của Thái Lan6, phản ánh sự chậm chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo. Những hạn chế này cho thấy tư duy lý luận giai đoạn trước, dù đã phá bỏ được những rào cản tư duy cơ bản, vẫn thiếu năng lực thiết kế chiến lược đủ mạnh để chủ động định hình mô hình tăng trưởng mới.

Những giới hạn đó không phủ nhận mà trái lại, làm nổi bật vai trò lịch sử to lớn của đổi mới tư duy lý luận; đồng thời, đặt ra yêu cầu khách quan phải phát triển tư duy lý luận lên một trình độ mới về chất. Yêu cầu nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong định hướng và tổ chức phát triển đã được đặt ra từ sớm trong văn kiện của Đảng. Văn kiện Đại hội XIV nêu rõ bài học kinh nghiệm sau 40 năm đổi mới: “Phát huy vai trò hạt nhân chính trị của Đảng trong kiến tạo tư duy phát triển, dẫn dắt thể chế, định hình chiến lược, thúc đẩy đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng vươn mình của dân tộc”7. Đây chính là tiền đề trực tiếp cho sự hình thành và phát triển của “kiến tạo tư duy phát triển” trong giai đoạn tiếp theo.

3. Từ “đổi mới” đến “kiến tạo” – yêu cầu khách quan của giai đoạn phát triển mới

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế nghèo, kém phát triển sang nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, với quy mô nền kinh tế mở rộng, mức độ hội nhập quốc tế ngày càng sâu và vị thế quốc gia được nâng cao rõ rệt. Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn và sức sống của đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đồng thời, tạo ra những tiền đề vật chất, xã hội mới cho sự phát triển ở trình độ cao hơn.

Sự chuyển dịch về trình độ phát triển kéo theo sự biến đổi căn bản về yêu cầu và logic phát triển. Nếu trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, nhiệm vụ trung tâm là thoát khỏi khủng hoảng, ổn định kinh tế – xã hội và tạo tăng trưởng nhanh, thì trong giai đoạn hiện nay, phát triển ngày càng được đặt trên các tiêu chí chất lượng, hiệu quả, năng suất và sức cạnh tranh. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu trở thành yêu cầu tất yếu; khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyển đổi số dần giữ vai trò quyết định đối với năng lực phát triển dài hạn. Cùng với đó, hội nhập quốc tế bước sang giai đoạn mới, đòi hỏi năng lực chủ động định vị, tham gia sâu và từng bước tạo ảnh hưởng trong các chuỗi giá trị và không gian phát triển, thay vì cách tiếp cận chủ yếu mang tính thích ứng và ứng phó. Yêu cầu này đặt ra đòi hỏi cao hơn đối với năng lực thiết kế thể chế, chính sách và điều phối phát triển ở tầm quốc gia.

Những thay đổi về mô hình và cấp độ phát triển làm nổi bật yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức vận hành của hệ thống chính trị. Tinh gọn bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả; chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển; tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với yêu cầu điều hành hiện đại không còn là những cải cách đơn lẻ mà trở thành những cấu phần hữu cơ của mô hình phát triển mới. Tổng thể các biến đổi này tạo ra một không gian phát triển có độ phức tạp cao, tốc độ biến động nhanh và yêu cầu điều phối tổng thể lớn hơn nhiều so với giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới.

Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, yêu cầu chuyển từ tư duy thích ứng sang tư duy kiến tạo là một xu hướng phổ quát trong quá trình phát triển thành công của các nền kinh tế. Chalmers Johnson (1982)8, khi phân tích sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản, đã chỉ ra vai trò then chốt của nhà nước kiến tạo phát triển, nhà nước không quản lý thụ động mà chủ động định hướng công nghiệp hóa và thiết kế chính sách phát triển chiến lược. Peter Evans (1995)9 phát triển khái niệm này với lý luận về “tự chủ nhúng” (embedded autonomy), khả năng của nhà nước vừa duy trì tính tự chủ chiến lược, vừa gắn kết chặt chẽ với lực lượng xã hội và thị trường. Ha-Joon Chang (2002)10 bổ sung rằng tất cả các nền kinh tế phát triển thành công đều trải qua giai đoạn nhà nước đóng vai trò kiến tạo tích cực trong định hình cấu trúc công nghiệp và thể chế kinh tế. Dani Rodrik (2004)11 tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của năng lực thiết kế chính sách công nghiệp thích ứng linh hoạt như điều kiện then chốt để thoát bẫy thu nhập trung bình. Những luận điểm này cho thấy “kiến tạo tư duy phát triển” không chỉ là đặc thù của Việt Nam mà phản ánh một xu thế mang tính quy luật; đồng thời, nói lên sự hội tụ của tư duy lý luận Đảng Cộng sản Việt Nam với những bài học quốc tế tiên tiến nhất.

Trong bối cảnh đó, tư duy lý luận của Đảng không thể dừng lại ở việc giải thích thực tiễn hoặc hợp thức hóa các quyết sách đã hình thành mà phải vươn lên dẫn dắt, định hướng và kiến tạo quá trình phát triển. Như V.I. Lênin, trong bối cảnh xây dựng Đảng kiểu mới, đã chỉ rõ tinh thần căn bản: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”12. Trong điều kiện Đảng lãnh đạo sự nghiệp phát triển đất nước, tinh thần đó càng đòi hỏi tư duy lý luận phải được nâng lên trình độ chủ động kiến tạo và dẫn dắt phát triển. Thực tiễn đòi hỏi sự chuyển mạnh từ tư duy thiên về thích ứng, điều chỉnh và phản ứng sang tư duy chủ động dự báo, thiết kế và định hình tương lai phát triển trong trung và dài hạn. Đồng thời, những giới hạn của các dạng tư duy truyền thống ngày càng bộc lộ rõ. Tư duy phản ứng thiếu năng lực dự báo; tư duy nhiệm kỳ, ngắn hạn làm phân mảnh chính sách; tư duy quản lý hành chính thuần túy không theo kịp yêu cầu quản trị phát triển phức hợp trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập sâu rộng. Khoảng cách giữa yêu cầu phát triển mới với phương thức vận hành của tư duy lý luận hiện hành trở thành một mâu thuẫn nổi bật của giai đoạn phát triển hiện nay. Nhận thức rõ yêu cầu đó, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học, để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”13.

Chính trong bối cảnh đó, yêu cầu hình thành “kiến tạo tư duy phát triển” xuất hiện như một tất yếu khách quan, gắn với điều kiện Đảng, lãnh đạo đất nước phát triển ở trình độ ngày càng cao. Về bản chất, “kiến tạo” không chỉ là một khái niệm quản lý mà phản ánh một trình độ mới của tư duy lý luận, nhấn mạnh tính chủ động, hướng tới tương lai trong nhận thức và lãnh đạo phát triển, gắn chặt tầm nhìn chiến lược dài hạn với năng lực thiết kế thể chế, chính sách và tổ chức thực tiễn. Tinh thần đó được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII, khi Đảng xác định phát triển nhanh và bền vững phải dựa chủ yếu vào khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số14; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

4. “Kiến tạo tư duy phát triển” – bước tiến về nhận thức triết học của Đảng

Sự hình thành “kiến tạo tư duy phát triển” không chỉ xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn phát triển mới mà phản ánh một bước tiến quan trọng trong nhận thức triết học của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển và phương thức lãnh đạo phát triển. So với “đổi mới tư duy lý luận”, vốn chủ yếu thực hiện chức năng giải phóng tư duy và điều chỉnh nhận thức, “kiến tạo tư duy phát triển” thể hiện trình độ cao hơn của tư duy lý luận, chuyển từ logic thích ứng sang logic chủ động định hình và dẫn dắt phát triển.

Về định nghĩa, bài viết đề xuất định nghĩa như sau: Kiến tạo tư duy phát triển là phương thức tư duy lý luận của Đảng, trong đó, Đảng không chỉ nhận thức và thích ứng với các quy luật khách quan của phát triển mà chủ động thiết kế thể chế, hoạch định chiến lược dài hạn, định hình không gian và động lực phát triển trên cơ sở tích hợp tầm nhìn chiến lược, tri thức khoa học và năng lực tổ chức thực tiễn nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và toàn diện của đất nước. Theo định nghĩa này, “kiến tạo tư duy phát triển” có ba thuộc tính cốt lõi: (1) Tính chủ động, không phản ứng theo tình huống mà dẫn dắt, định hình quỹ đạo phát triển; (2) Tính thiết kế, hướng tới xây dựng cấu trúc thể chế và không gian phát triển mới, không chỉ điều chỉnh cấu trúc cũ; (3) Tính tích hợp, gắn kết tầm nhìn dài hạn với thiết kế chính sách cụ thể trong một chỉnh thể thống nhất.

Để tránh nhầm lẫn với các phạm trù liên quan, cần phân biệt “kiến tạo tư duy phát triển” với một số khái niệm gần gũi.

Thứ nhất, khác với “đổi mới tư duy lý luận”, vốn chủ yếu thực hiện chức năng giải phóng và điều chỉnh nhận thức, “kiến tạo tư duy phát triển” thực hiện chức năng thiết kế và dẫn dắt.

Thứ hai, khác với “tư duy chiến lược” theo nghĩa thông thường trong quản trị tổ chức, “kiến tạo tư duy phát triển” gắn trực tiếp với chức năng của Đảng và mang chiều kích triết học, nhận thức luận rõ rệt.

Thứ ba, khác với mô hình “nhà nước kiến tạo phát triển”, chủ yếu là mô hình quản trị kinh tế15, “kiến tạo tư duy phát triển” là trình độ tư duy lý luận chi phối việc hình thành và vận hành mô hình đó. Nói cách khác, nếu “nhà nước kiến tạo phát triển” chủ yếu là một mô hình quản trị, thì “kiến tạo tư duy phát triển” là nền tảng tư duy lý luận chi phối việc hình thành mô hình đó.

Xét theo lý luận biện chứng duy vật, sự chuyển biến từ “đổi mới tư duy lý luận” sang “kiến tạo tư duy phát triển” phản ánh quy luật chuyển hóa từ thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất16. Sự tích lũy về lượng trong 40 năm đổi mới, bao gồm: tích lũy kinh nghiệm phát triển, nâng cao trình độ quản trị, mở rộng quy mô và độ phức tạp của nền kinh tế, hội nhập quốc tế sâu rộng, đã tạo nền tảng vật chất, xã hội cho bước nhảy về chất trong tư duy lãnh đạo. Điểm nút của quá trình chuyển hóa này là khi Việt Nam vượt ngưỡng thu nhập trung bình thấp và đứng trước yêu cầu tái cấu trúc căn bản mô hình tăng trưởng: logic thích ứng của “đổi mới tư duy lý luận” không còn đủ năng lực dẫn dắt phát triển ở trình độ cao hơn. Chất mới được xác lập là logic kiến tạo, chủ động thiết kế và định hình, thay thế logic thích ứng vốn có giá trị lịch sử to lớn trong giai đoạn trước. Đây là sự phủ định biện chứng: “kiến tạo tư duy phát triển” không xóa bỏ mà kế thừa có phê phán và phát triển những thành tựu của “đổi mới tư duy lý luận” lên trình độ mới.

Về bản chất triết học, đây là sự phát triển về chất của tư duy phát triển. Nếu ở giai đoạn trước, tư duy phát triển tập trung vào việc nhận thức đúng các quy luật khách quan và tháo gỡ những rào cản kìm hãm tăng trưởng, thì trong giai đoạn mới, tư duy phát triển được nâng lên thành tư duy thiết kế. Phát triển không còn được nhìn nhận chủ yếu như kết quả của sự vận động tự phát của các yếu tố kinh tế – xã hội mà là một quá trình được chủ động định hình thông qua việc kiến tạo thể chế, chính sách, động lực và không gian phát triển trên cơ sở nhận thức khoa học về quy luật khách quan.

Trên phương diện mục tiêu, “kiến tạo tư duy phát triển” hàm chứa quan niệm phát triển toàn diện và bền vững, trong đó, tăng trưởng kinh tế gắn chặt với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, củng cố quốc phòng, an ninh và giữ vững độc lập, tự chủ. Phát triển được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, không chấp nhận sự đánh đổi các nền tảng dài hạn để đạt lợi ích ngắn hạn; đồng thời, khẳng định vai trò trung tâm của con người, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là chủ thể của quá trình phát triển.

Về phương thức tư duy, “kiến tạo” là điểm khác biệt mang tính bản chất. Đây không phải là sự gia tăng quản lý hành chính mà là sự chuyển biến trong phương thức tư duy lãnh đạo: từ phản ứng sang chủ động, từ xử lý tình huống sang thiết kế chiến lược, từ quản lý trực tiếp sang kiến tạo thể chế và môi trường phát triển. Trong logic này, Đảng và Nhà nước không làm thay thị trường hay xã hội mà định hướng chiến lược và tạo lập khuôn khổ để các chủ thể phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo.

Xét về phương diện nhận thức luận, “kiến tạo tư duy phát triển” thể hiện rõ tư duy biện chứng và hệ thống trong xử lý các mối quan hệ lớn của phát triển, đặc biệt là mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều tiết phát triển; thị trường là cơ chế phân bổ nguồn lực chủ yếu; xã hội vừa là đối tượng phục vụ, vừa là chủ thể tham gia và đồng hành trong phát triển.

Giá trị triết học nổi bật của “kiến tạo tư duy phát triển” là ở chỗ làm sâu sắc hơn nhận thức về vai trò lãnh đạo kiến tạo phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng lãnh đạo không chỉ bằng đường lối và chủ trương mà ngày càng bằng năng lực trí tuệ, khả năng thiết kế thể chế, điều phối nguồn lực và tổ chức thực tiễn phát triển. Điều này phù hợp với nhận thức trong Cương lĩnh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như một quá trình phát triển lâu dài, sáng tạo và gắn chặt với điều kiện lịch sử, cụ thể của đất nước; đồng thời, đặt nền tảng triết học trực tiếp và tất yếu cho việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo và cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới. Có thể xem “kiến tạo tư duy phát triển” như một phạm trù tư duy lý luận mới được hình thành trên nền tảng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam, phản ánh sự chuyển biến về chất trong phương thức nhận thức và lãnh đạo phát triển ở giai đoạn phát triển hiện nay.

Sự hình thành “kiến tạo tư duy phát triển”, vì vậy, không chỉ có ý nghĩa ở bình diện nhận thức triết học mà còn đặt ra yêu cầu tất yếu phải chuyển hóa phương thức tư duy đó thành phương pháp luận lãnh đạo tương ứng. Khi tư duy lý luận của Đảng đã chuyển từ logic giải phóng và thích ứng vốn có giá trị lịch sử to lớn, sang logic chủ động kiến tạo và dẫn dắt phát triển, thì phương thức lãnh đạo, hoạch định chính sách và tổ chức thực tiễn cũng không thể tiếp tục vận hành theo mô hình cũ. Chính trong mạch logic đó, việc làm rõ ý nghĩa phương pháp luận và định hướng thực tiễn của “kiến tạo tư duy phát triển” trở thành yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

5. Ý nghĩa phương pháp luận và định hướng thực tiễn trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV

Trên nền tảng nhận thức triết học mới, “kiến tạo tư duy phát triển” mang ý nghĩa phương pháp luận trực tiếp đối với việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng,  giai đoạn đất nước chuyển sang trình độ phát triển cao hơn, với yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại và hội nhập quốc tế sâu rộng. Ý nghĩa phương pháp luận cốt lõi của tư duy này là làm thay đổi logic lãnh đạo phát triển: từ logic quản lý,  điều hành sang logic kiến tạo, dẫn dắt. Yêu cầu đó đã được Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ “Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác quy hoạch đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại”17. Sự chuyển đổi này diễn ra trong khuôn khổ kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, thống nhất, không tách rời lãnh đạo chính trị với quản trị phát triển. Xét đến cùng, “kiến tạo tư duy phát triển” không chỉ là định hướng hành động mà là nguyên tắc phương pháp luận chi phối toàn bộ chu trình lãnh đạo: từ nhận thức – thiết kế – tổ chức – điều chỉnh phát triển.

Về phương diện lãnh đạo, “kiến tạo tư duy phát triển” đòi hỏi sự chuyển biến căn bản trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Trọng tâm lãnh đạo không còn đặt vào xử lý tình huống và điều hành hành chính mà chuyển sang thiết kế thể chế, định hướng chiến lược dài hạn và tạo lập môi trường, động lực phát triển. Điều này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực dự báo chiến lược, khả năng nhận diện xu thế và chủ động định hình quỹ đạo phát triển trong điều kiện biến động nhanh, phức tạp và khó dự báo. Theo logic phương pháp luận đó, năng lực lãnh đạo của Đảng ngày càng được thể hiện ở năng lực trí tuệ, bản lĩnh lý luận và khả năng dẫn dắt phát triển, chứ không chỉ ở khả năng kiểm soát và điều hành.

Đối với hoạch định chính sách phát triển đất nước, “kiến tạo tư duy phát triển” cung cấp khung phương pháp luận mới, yêu cầu chính sách được xây dựng theo logic chiến lược, dài hạn, tích hợp và hệ thống. Chính sách không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề trước mắt mà phải chủ động tạo lập động lực phát triển mới, định hình cấu trúc và không gian phát triển trong trung và dài hạn. Trọng tâm tư duy chính sách cần chuyển mạnh từ chạy theo quy mô và tốc độ tăng trưởng sang xây dựng mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Trong thực tiễn, “kiến tạo tư duy phát triển” đã bước đầu được thể hiện qua một số quyết sách chiến lược quan trọng. Nghị quyết số 52-NQ/TW là biểu hiện rõ nét của tư duy kiến tạo, chủ động định vị Việt Nam trong không gian phát triển toàn cầu mới thay vì thụ động chờ phản ứng. Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và định hướng hình thành ngành công nghiệp bán dẫn thể hiện năng lực thiết kế không gian phát triển mới trong điều kiện kinh tế số. Cuộc cải cách tinh gọn bộ máy nhà nước giai đoạn 2024 – 2025, chuyển từ mô hình tổ chức hành chính nhiều tầng nấc sang mô hình quản trị hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả, là biểu hiện cụ thể của tư duy kiến tạo thể chế. Những chuyển biến này, dù còn ở bước đầu, đánh dấu sự hiện thực hóa từng bước của “kiến tạo tư duy phát triển” trong thực tiễn lãnh đạo. Trong tinh thần đó, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xác lập như trụ cột phương pháp luận của phát triển, giữ vai trò then chốt trong tái cấu trúc mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực tự chủ, tự cường của nền kinh tế. Đồng thời, tư duy kiến tạo đòi hỏi gắn chặt phát triển kinh tế với chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, qua đó, củng cố nền tảng ổn định chính trị – xã hội trong dài hạn.

Trên phương diện tổ chức thực tiễn cách mạng, “kiến tạo tư duy phát triển” có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa tư duy, đường lối và hành động của toàn bộ hệ thống chính trị. Tư duy này tạo cơ sở lý luận cho việc tinh gọn mạnh bộ máy nhà nước theo hướng hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả; chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển. Việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực không chỉ là giải pháp tổ chức mà là yêu cầu tất yếu của tư duy kiến tạo trong điều kiện phát triển mới.

Đặc biệt, “kiến tạo tư duy phát triển” đặt ra yêu cầu mới đối với công tác cán bộ, nhất là cán bộ chiến lược: không chỉ có năng lực chấp hành và điều hành mà phải có tư duy chiến lược, năng lực kiến tạo, khả năng tổ chức thực tiễn và trách nhiệm chính trị cao. Đây là điều kiện then chốt để chuyển hóa tư duy lý luận thành kết quả phát triển cụ thể, bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được thực hiện thực chất và bền vững.

6. Kết luận

Trên cơ sở phân tích quá trình hình thành, phát triển, giá trị và những giới hạn lịch sử của “đổi mới tư duy lý luận”, bài viết khẳng định: sự chuyển từ “đổi mới tư duy lý luận” sang “kiến tạo tư duy phát triển” là một bước phát triển mới về chất trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang ý nghĩa triết học sâu sắc trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp phát triển đất nước ở giai đoạn mới. “Kiến tạo tư duy phát triển” không chỉ là sự điều chỉnh về thuật ngữ hay mở rộng nội hàm của tư duy đổi mới mà là sự chuyển biến căn bản trong phương thức nhận thức và lãnh đạo phát triển. Nếu “đổi mới tư duy lý luận” chủ yếu thực hiện chức năng giải phóng tư duy, khắc phục giáo điều, thích ứng và điều chỉnh trước thực tiễn vận động, thì “kiến tạo tư duy phát triển” đưa tư duy lý luận của Đảng vươn tới trình độ chủ động thiết kế, dẫn dắt và tổ chức quá trình phát triển, gắn chặt tầm nhìn chiến lược dài hạn với năng lực kiến tạo thể chế và tổ chức thực tiễn.

Về phương diện lý luận và thực tiễn, việc hình thành và phát triển tư duy này góp phần làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận của đường lối phát triển đất nước trong điều kiện mới; tạo nền tảng tư tưởng, phương pháp luận cho việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia; đồng thời, làm rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như một quá trình phát triển năng động, sáng tạo, gắn với thực tiễn và bối cảnh lịch sử cụ thể. Sự hình thành “kiến tạo tư duy phát triển” không chỉ phản ánh yêu cầu thực tiễn của giai đoạn mới mà còn khẳng định bước chuyển mang tính phương thức trong tư duy lý luận của Đảng, như một yêu cầu tất yếu để Đảng giữ vững và thực hiện hiệu quả vai trò lãnh đạo phát triển đất nước trong thế kỷ XXI.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. H. NXB Sự thật.
2, 16. C. Mác & Ph. Ăng-ghen Toàn tập (2004). Tập 20. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 11. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. World Bank (2012). Well begun, not yet done: Vietnam’s remarkable progress on poverty reduction and the emerging challenges. Washington, DC: The World Bank.
6. ILO (2017). ASEAN in transformation: How technology is changing jobs and enterprises. Geneva: International Labour Organization.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
8. Johnson, C (1982). MITI and the Japanese miracle: The growth of industrial policy, 1925-1975. Stanford: Stanford University Press.
9, 15. Evans, P (1995). Embedded autonomy: States and industrial transformation. Princeton: Princeton University Press.
10. Chang, H.-J (2002). Kicking away the ladder: Development strategy in historical perspective. London: Anthem Press.
11. Rodrik, D (2004). Industrial policy for the twenty-first century. UNIDO Working Paper. Vienna: United Nations Industrial Development Organization.
12. V.I. Lenin Toàn tập (2005). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia.
13. Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
14, 17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2 tập). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ ( 2020).Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”
2. Tô Huy Rứa (2012). Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.